Luận văn
Đánh giá tình hình xuất
khẩu gạo của Việt Nam trong
giai đoạn 1989-2003
Mục lục
Lời nói đầu
Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng hoá
Chơng I: Thực trạng xuất khẩu của Việt nam trong thời gian từ năm 1991 -2003
I. Đánh giá chung về tình hình của Việt nam đối với sản xuất và tiêu dùng gạo trong
thời gian qua .
1. Về tình hình sản xuất
2. Về tình hình tiêu dùng
II. Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt nam từ năm 1991 đến nay
1. Số lượng và kim ngạch xuất khẩu
2. Chất lượng và chủng loại gạo xuất khẩu
2.1. Chất lượng gạo xuất khẩu
2.2. Chủng loại gạo xuất khẩu
3. Thị trường và giá cả
3.1. Thị trường xuất khẩu gạo của Việt nam
3.2. Giá gạo xuất khẩu
4. Thuế và hiệu quả xuất khẩu gạo
4.1. Chính sách thuế xuất khẩu gạo
4.2. Chính sách quản lý xuất khẩu gạo
5. Công tác thu mua và tổ chức xuất khẩu gạo
5.1. Công tác thu mua
5.2. Tổ chức xuất khẩu
6. Hiệu quả xuất khẩu gạo của Việt nam trong một số năm qua
7. Đơn vị và khả năng cạnh tranh của Việt nam trong xuất khẩu gạo
II. Những tồn tại trong hoạt động xuất khẩu gạo và nguyên nhân của những tồn
4.2. Các biện pháp chống tranh giành bán gạo ở thị trờng thế giới
4.3. Nâng cao khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu
5. Hoàn thiện hệ thống chính sách khuyến khích xuất khẩu gạo
5.1. Chính sách thuế xuất khẩu
5.2. Tăng cờng tín dụng ưu đãi, bảo trợ sản xuất và xuất khẩu gạo
5.2.1. Trong sản xuất
5.2.2. Trong xuất khẩu
5.2.3. Khuyến khích vệ tinh của các cơ sở sản xuất và thu mua gạo xuất khẩu
6. Cải tiến tổ chức quản lý và cơ chế điều hành xuất khẩu gạo của Việt nam
6.1. Hệ thống tổ chức xuất khẩu gạo
6.2. Cải tiến công tác quản lývà điều hành của Nhà nước về hoạt động xuất khẩu
gạo
6.3. Quản lý chất lượng gạo xuất khẩu
6.4. Chế độ thởng phạt trong xuất khẩu
7. Hoàn thiện hệ thống thông tin về tình hình mặt hàng gạo trên thị trường thế giới
B) Các biện pháp vi mô
1. Hoàn thiện tổ chức quản lý sản xuất trong các Doanh nghiệp chế biến xuất khẩu
lúa gạo
2. Đẩy mạnh tiếp thị xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu
3. nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ công nhân viên .
Kết luận và kiến nghị
Phụ lục
Lời nói đầu
Từ xa xưa, trong suốt quá trình lịch sử xây dựng và phát triển đất nước, Việt
nam chủ yếu dựa vào nền kinh tế nông nghiệp và nông thôn Việt nam giữ vị trí quan
trọng với 80% dân số và 73% lực lượng lao động xã hội làm nông nghiệp và “. . .
chúng ta không thể có con đường nào khác là phải xây dựng một nền nông nghiệp
mạnh và phát triển bền vững (cả về kinh tế, xã hội và sinh thái), dựa vào công nghệ
Em mạnh dạn xem xét và nghiên cứu về các vấn đề ảnh hưởng đến việc xuất khẩu
gạo của Việt nam và đề tài được chọn là :
Đánh giá tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam trong giai đoạn 1989-2003
Hy vọng với đề tài này sẽ góp phần nhìn nhận và tháo gỡ khó khăn trong việc
đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả xuất khẩu gạo của Việt nam trong thời gian tới .
Với đề tài thì đây là một vấn đề không phải là mới nhưng phức tạp vì liên quan
đến nhiều vấn đề kinh tế xã hội . Vì vậy, trong quá trình thực hiện nghiên cứu không
tránh khỏi thiếu sót trong nội dung cũng như cách trình bầy rất mong các thầy cô và
bạn đọc góp ý kiến để đề tài được hoàn chỉnh hơn . Xin trân thành cảm ơn .
A) Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng hoá
Đối với mỗi nước, mỗi quốc gia nhu cầu tiêu dùng các loại hàng hoá thì rất
cao nhưng khả năng sản xuất các loại hàng hoá phục vụ cho tiêu dùng (về số
lượng) thì không thế đáp ứng được nhu cầu này và chính vì vậy mà họ phải trao
đổi (xuất - nhập khẩu) các hàng hoá mình có để đổi lấy cái mình không có để
phục vụ cho nhu cầu đó . Mặt khác nếu như chúng ta không nhập khẩu những
hàng hoá mà mình không sẵn có và việc sản xuất lại gặp nhiều khó khăn thử hỏi
có thể sản xuất được những loại hàng hoá đó một cách có hiệu quả hay không .
Xuất phát từ vấn đề như vậy đã thúc đấy hoạt động ngoại thương phát triển và từ
khía cạnh đó các nhà học thuyết về kinh tế đã lý luận về lợi ích thu được từ ngoại
thương của mỗi quốc gia tham gia vào hoạt động trao đổi ngoại thương . Dựa trên
cơ sở về lợi thế so sánh của mỗi quốc gia để quyết định việc sản xuất hay mua bán
sản phẩm .
Đối với nước ta, tuy nền kinh tế còn nhiều khó khăn, hạn chế và yếu kém so
với nhiều nước đang phát triển cũng như các nước phát triển hiện nay, nhưng để
hoà nhập vào nền kinh tế thế giới, cũng như việc tham gia vào phân công lao
động quốc tế thì việc hoạt động ngoại thương là vấn đề cần thiết cho sự phát triển
kinh tế nước nhà . Trên cơ sở đó, việc sản xuất và xuất khẩu gạo là một vấn đề mà
Với các lợi thế như vậy thì hoạt động ngoại thương nói chung và hoạt động
xuất khẩu lúa gạo nói riêng cuả nớc ta hiện nay là vấn đề đợc cọi trọng và chú ý
hơn nữa, Nhà nước tạo điều kiện để cải thiện và hoàn thiện hệ thống phục vụ cho
việc xuất khẩu này . Chúng ta cần phải đầu tư hơn nữa trong việc nghiên cứu và
lai tạo giống mới có năng suất và chất lượng nhằm tạo thế trong việc giao dịch
cũng nhằm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới và tạo được chỗ
đứng vững chắc trên thị trường, xây dựng được một số thị trường truyền thống .
Trên cơ sở như vậy, vấn đề nghiên cứu đối với đề tài đặt ra ở đề tài là phân tích
và nghiên cứu các vấn đề về thực trạng đối với sản xuất cũng như xuất khẩu gạo
. Qua đó nghiên cứu và tìm hiểu một số mô hình để thấy rõ hơn nữa đối với vấn đề
này .
Chương I :
Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt nam trong thời gian từ năm 1989 2003
I.
Đánh gía chung về tình hình của Việt nam đối với
sảnxuất và tiêu dùng gạo trong thời gian qua .
1. Về tình hình sản xuất
Từ năm 1991 chúng ta đã giải quyết được vấn đề lương thực, đủ ăn và bắt đầu
tham gia vào thị trờng lúa gạo thế giới.
Sản lợng lúa bình quân thời kỳ 1987-1991 đạt 17,2652 triệu tấn ; thời kỳ
1992-1996 đạt 22,504 triệu tấn; thời kỳ 1997-2000 đạt 28,61 triệu tấn và năng suất
lúa trong thời kỳ này cũng liên tục tăng : 1987-1991 là 29,8 tạ/ ha ; năm 1992-1996
là 34,3 tạ/ha; năm 2000 đạt 40,8 tạ/ha và năm 2001 khoảng 42,62 tạ/ha . So sánh với
một số nớc trên thế giới, tốc độ tăng năng suất lúa của Việt nam tơng đối cao .
Sản lượng lúa cả nớc đạt 32,7 triệu tấn, tăng 1,31 triệu tấn so với năm 2000 (lúa
đông xuân tăng 1,46 triệu tấn, lúa hè thu giảm 214 nghìn tấn và lúa mùa tăng khoảng
đình, nông dân phấn khởi đẩy mạnh thâm canh, mở rộng diện tích gieo trồng lúa hè
thu và chiêm xuân ( chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long ) là nguyên nhân chính
trong tăng diện tích sản xuất lúa .
Năm 1999, Nhà nớc chủ trơng bảo vệ quỹ đất hiện có (4,2 triệu ha) và tiếp tục đầu
t mở rộng . Sang năm 2001, chính sách đất trồng lúa có những thay đổ linh hoạt hơn,
giữ ổn định 4 triệu ha đất có điều kiện tới tiêu, chủ động .Thuế suất, thuế chuyển
quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối
giảm từ 10% trớc đây xuống còn 2%.
Nhờ những thay đổi kịp thời và hợp lý của các chính sách đất đai, diện tích đất
sản xuất lúa tính đến năm 2000 đã có khoảng 5,7 triệu ha đất nông nghiệp (khoảng
78%) đợc giao cho nông dân; 10,2 triệu hộ nông dân (87%) đợc cấp giấy chứng nhận
chuyển quyền sử dụng đất .Đây là yếu tố cơ bản trong việc thâm canh ổn định sản
xuất.
Hai là : Thực hiện đồng bộ các tiến độ kỹ thuật trong thâm canh lúa
+ Thuỷ lợi hoá : Tuy còn nhiều khó khăn song Nhà nớc đã đầu t cơ sở vật chất xây
dựng hệ thống thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp . Việc tập trung đầu t khai thác
vùng Đồng Tháp Mời, tứ giác Long Xuyên, Tây sông Hu và bán đảo Cà Mau đã tạo
ra kết quả to lớn trong sản xuất lúa. Tính đến năm 2001 diện tích đất canh tác đợc tới
đạt trên 7 triệu ha và diện tích đợc tiêu khoảng 1 triệu ha .
+ Đa các giống mới vào sản xuất : Đây là tiền đề tăng năng suất lúa trong những
năm qua . Tỷ lệ giống mới trong sản xuất chiếm khoảng 90% và đợc bố trí phù hợp
với điều kiện sinh thái khác nhau .
+ Chuyển đổi cơ cấu mùa vụ : Vấn đề chuyển đổi cơ cấu mùa vụ là một trong
những yếu tố cơ bản đảm bảo cho diện tích và sản lợng tăng vững chắc trong suất
những năm qua, đồng thời đóng vai trò quyết định để tăng tổng sản lợng trong cả nớc
. Vùng đồng bằng sông Hồng nổi lên với trà lúa xuân muộn, nhiều tỉnh đa tỷ lệ lên
đến 60 - 70 % diện tích. Phát triển vụ lúa hè thu ở Miền Trung, tránh ma bão và đảm
bảo thu hoạch an toàn .ở đồng bằng sông Cửu Long cũng thay đổi và đi dần vào ổn
san luong tieu
dung noi dia
60
40
1998
1996
1994
1992
0
1990
20
Biểu đồ về tốc độ tăng liên hoàn của sản xuất và tiêu dùng
Qua biểu đồ trên cho chúng ta thấy sản lợng sản xuất và mức độ tiêu dùng gạo
trong nớc, từ đó có thể nhận thấy sản lợng gạo du thừa để xuất khẩu.
Sản lợng thóc dự trữ và tiêu dùng trong nớc từ năm 1991-2000 luân chiếm trên 80%
sản lợng thóc sản xuất .Luợng thóc này du thừa để đảm bảo an ninh luơng thực trong
nuớc .Năm 1996 tiêu thụ lúa gạo trong nuớc bình quân đầu nguời 162,2 kg/ngời/năm
(nông thôn 14,3 kg và thành thị 11,4 kg/nguời/tháng) . Mức tiêu thụ gạo này của nuớc ta đuợc đánh giá là mức tiêu thụ gạo/nguời cao nhất thế giới và ít có khả năng
tăng mức tiêu thụ này lên nữa . Trong khi đó, sản luợng thóc bình quân đầu ngời ở
nuớc ta năm 1998 là 364 kg tơng đơng với 236 kg gạo .Nh vậy tính trung bình mỗi
ngời dân vẫn d khoảng 50-70 kg gạo .Số lợng gạo này để dự trữ và xuất khẩu .
100
100
1990
1624
304,6
114,37
105,03
1991
1033
234,5
63
76,99
1992
1950
417,7
100,25
124,91
1996
3003
868,4
151,06
163,82
1997
3553
891,3
118,32
102,64
1998
3793
1016
106.54
100.54
2002
3240
726
86.89
98.9
2003
3890
745
120.07
102.6
Nguồn :Niên Giám Thống Kê 2004 (và đối chiếu với số liệu của Bộ Thơng Mại
và Tổng Cục Hải Quan)
Trên số liệu thực tế, ta thấy sản lợng và kim ngạch xuất khẩu của Việt nam trong
những năm từ 1989 đến nay nhìn chung là tăng nhanh, trong giai đoạn 1991-2000 .
tấn, vợt tất cả những năm trớc đó nhng vị trí thứ ba lại một lần nữa bị ấn Độ chiếm
lĩnh (từ 1 triệu tấn gạo ấn độ tăng đột ngột lợng xuất khẩu gạo lên hơn 4,2 triệu tấn )
Ba là : Trong năm 1997 đẩy mạnh xuất khẩu gạo tới mức lớn hơn . Lần đầu tiên,
kể từ năm 1991, khối lợng gạo xuất khẩu của Việt nam vợt mức 3 triệu tấn một năm,
gấp rỡi năm 1996 và gấp 3 lần năm 1992 .
Bốn là : Vào năm 2000 -2003, tuy rằng việc xuất khẩu gạo của nớc ta vẫn đứng ở
vị trí là nớc xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới nhng có một số vấn đề đáng lu ý
là : năm 2000 tuy khối lợng gạo đạt kỷ lục đối với xuất khẩu gạo ở nớc ta từ năm
1991 đến nay và khối lợng gạo xuất khẩu của năm 2000 tăng gần 20% so với năm
1999 nhng kim ngạch xuất khẩu lại giảm và chỉ bằng 99,6% năm 1999 lý do là do gía
gạo giảm đến mức thấp nhất từ trớc đến nay ; trong khi đó năm 2001 lại là năm mà
khối lợng gạo xuất khẩu của Việt nam lại giảm rất nhiều so với năm 2000 chỉ bằng
76.92% cộng với giá cả xuất khẩu vẫn còn ở mức thấp vì vậy mà kim ngạch xuất
khẩu gạo cũng ở mức thấp còn thấp hơn cả năm 1997 .
Nh vậy trong hơn 10 năm qua (1989 - 2003), Việt nam đã xuất khẩu đợc hơn 30
triệu tấn gạo với kim ngạch gần 7 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu gạo thực sự đóng
góp phần không nhỏ vào việc thức đẩy kinh tế nông nghiệp nói riêng cũng nh việc
tăng trởng kinh tế quốc dân nói chung trong sự nghiệp đổi mới hiện nay .
Cần nói rõ hơn, số liệu xuất khẩu nói trên cha tính phần xuất khẩu tiểu ngạch qua
biên giới tây nam sang Lào và Campuchia, nhất là biên giới phía bắc sang Trung
Quốc không có giấy phép xuất khẩu của nhà nớc và thực chất là xuất khẩu lậu . Phơng thức thanh toán phổ biến ở đây là phơng thức thanh toán bằng tiền mặt hoặc
hàng đổi hàng . Lợng xuất khẩu này ớc tính trung bình khoảng 0,25-0,3 triệu tấn/năm
. Chỉ nói riêng năm 2000, sang Trung Quốc ít nhất cũng là 0,5 triệu tấn, sang Lào và
Campuchia khoảng 0,1 triệu tấn .
2. Chất lợng và chủng loại gạo xuất khẩu .
2.1.
Chất lợng gạo xuất khẩu
Chất lợng gạo có liên quan đến một loạt các yếu tố sản xuất nh đất đai, thuỷ lợi,
trong mấy năm qua và bảng tiêu chuẩn phân loại của viện nghiên cứu lúa quốc tế
(IRRI) 1980 .
Bảng chất lợng gạo xuất khẩu của Việt nam
(% so với tổng số lợng xuất khẩu trong năm đó )
Tốc độ tăng liên hoàn chất lợng
gạo xuất khẩu (%)
Cao
Trung
bình
Thấp
1991
1.0
2.5
96.5
100
100
100
1991
14.3
15.2
45.0
114.15
152.0
81.82
1994
51.2
21.4
28.0
127.05
140.79
62.22
1995
70.0
13.0
89.42
57.27
168.89
1998
44.0
8.0
48.0
89.80
61.54
126.32
1999
53.0
11.0
36.0
120.45
Cấp 5 - trung bình
5,51 - 6.61
Cấp 7 - ngắn
< 5,50
Hình dạng hạt gạo : tỷ lệ chiều dài / rộng (D/R )
Cấp 1 - thon
> 3,0
Cấp 3 - trung bình
2,1 - 3,0
Cáp 5 - bầu
1,1 - 2,0
Cấp 9 - tròn
Ê 1,0
Kích thớc và hình dáng dạng hạt gạo
Hạt rất dài
D >7
Điểm 1
Vết đục chiến ít hơn 10% diện tích hạt
Điểm 5
Vết đục chiếm từ 11 -20 % diện tích hạt
Điểm 9
Vết đục chiếm hơn 20% diện tích hạt
Trong mấy năm gần đây, chất lợng gạo của Việt nam đã tăng lên, gạo phẩm cấp
cao chiếm 40% tổng số gạo xuất khẩu . Tốc độ tăng của gạo phẩm cấp cao hàng năm
là không ổn định . Từ năm 1991-1995, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 0,53 lần
(53%/năm) . Từ năm 1996-1998, tốc độ này giảm xuống còn 0,14 lần (14%/năm) nhng tốc độ của cả giai đoạn xuất khẩu lại tăng lên gần 0,27 lần (27%/năm) . Trong khi
đó tốc độ tăng của gạo trung bình và thấp là 0,19 lần (19%/năm), tăng chậm hơn tốc
độ tăng của gạo phẩm cấp cao .
Có thể nói rằng gạo phẩm cấp cao của ta xuất khẩu cha nhiều, đa phần chỉ là gạo
loại trung bình và các loại gạo khác . Do đó, kim ngạch thu về thờng không cao .
Riêng năm 1999, gạo cấp cao của Việt nam xuất khẩu tăng vợt , chiếm 53%, đã góp
phần làng tăng giá gạo xuất khẩu, khiến kim ngạch đạt 1016 triêu USD, tăng
11,35%, mặc dù sản lợng chỉ tăng gần 3% so với năm 1998 .
Tóm lại, chất lợng gạo xuất khẩu của Việt nam trong mấy năm qua tăng lên rõ rệt;
các loại gạo 5% tấm tăng từ 0,3 lên 30% trong tổng lợng gạo xuất khẩu . Cả hai cấp
gạo có tỷ lệ tấm thấp (5% và 10%) hiện nay chiếm từ 53 - 60% tổng lợng xuất khẩu
. Còn gạo có tỷ lệ tấm cao 35 - 45% đã giảm mạnh từ 92% nay chỉ còn chiếm 5%
tổng lợng gạo xuất khẩu .
1988, trong khi đó khả năng xuất khẩu thực tế có thể đạt đợc 2000-3000 tấn . . . vì
lợng xuất khẩu quá nhỏ lại không thờng xuyên cho nên nhìn chung xuất khẩu gạo
đặc sản Việt nam cha đem lại hiệu quả lớn . Trong khi đó, Thái Lan những năm qua
vẫn đẩy mạnh xuất khẩu gạo đặc sản (mali) với giá cao, gấp 1,5 lần loại gạo tốt "Thái
100B" và khoảng 2,5 - 3 lần so với đặc sản, với giá 702 USD/tấn vào thị trờng Tây
Âu . Theo FAO, năm 1997 xuất khẩu gạo đặc sản của Thái Lan đặt khoảng 400 triệu
USD, thị trờng chủ yếu là Mỹ, Hồng Kông, Tây Âu và Xingapore . Theo đánh giá
của ngời tiêu dùng, gạo đặc sản mali của Thái Lan không có hơng vị thơm gon độc
đáo nh gạo đặc sản Tám Xoan ở vùng đồng bằng sông Cu Long cuả Việt nam . Về
giá trị kinh tế , xuất khẩu gạo đặc sản sẽ bảo đảm tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu,
thị trờng tơng lai, lại a chuộng chủng loại gạo quí hiếm này . Vấn đề chính ở đây vẫn
là khả năng phát triển sản xuất trong nớc để có thể thoả mãn đợc nhu cầu của thị
trờng nớc ngoài .
3. Thị trờng và giá cả xuất khẩu .
3.1. Thị trờng xuất khẩu gạo của Việt nam
Thái Lan và Mỹ là những nớc xuất khẩu gạo truyền thống từ nhiều thập niên
nay . Do vậy họ đã thiết lập đợc mối quan hệ lâu dài và ổn định về thị trờng và khách
hàng tiêu thụ bằng một hệ thống chính sách củ thể đối với từng khu vực và từng nớc
tiêu thụ của mình .Việt nam chỉ là nớc xuất khẩu gạo lớn kể từ năm 1991 . Từ thực tế
đó , việc thâm nhập và mở rộng thị trờng của Việt nam trong những năm đầu đã gặp
không ít gian nan vì thờng đụng đến những khu vực thị trờng quen thuộc của các
nớc xuất khẩu truyền thống , đặc biệt là Thái Lan .
Bảng : Thị trờng xuất khẩu của Việt nam trong 3 năm điển hình (%)
Các khu vực tiêu thụ / năm
1991
0,9
15,1
09,0
Châu âu
0,01
04,8
02,0
Thị trờng khác
0,09
0
0
Nguồn : Bộ Thơng Mại
Qua bảng cho thấy ngay từ năm 1991, thị trờng xuất khẩu chủ yếu của Việt
nam là Châu á và Châu phi và có một số đặc điểm sau
Một là : Từ năm 1991 đến năm 1993 thị trờng xuất khẩu gạo của Việt nam
sang Châu á và Châu phi thì không chênh lệch nhau lắm và so với Thái Lan thì trong
thời gian này thì tỷ trọng xuất khẩu của Việt nam sang Châu á nhỏ hơn của thái lan
54,3
Trung Đông
9
29
10,9
12,3
Châu phi
20
10
7,4
22,7
Châu mỹ
8
7
3
3,2
0,1
Năm 2003 thị trơng xuất khẩu gạo chính của Việt nam vẫn là các nớc Châu á,
mặc dù tỷ trọng so với năm trớc giảm xuống chỉ chiếm 59% tổng lợng gạo xuất khẩu
(so với 70,8% của năm 1999) . Các quốc gia nhập khẩu gạo chính của Việt nam vẫn
là Indônexia, Malaysia va philiphin. .
Lợng gạo xuất đi các nớc Châu Âu nh Thụy sỹ, áo, Anh, Hungary, Tây ban
Nha đạt 4% tổng lợng gạo xuất khẩu,co luc dat toi 6%(nam 2002) trong khi đó năm
1999 là 3,9%.
Lợng xuất khẩu gạo của Việt nam đạt trên 4 triệu tấn trong hoàn cảnh thị trờng nhiều biến động là cố gắng lớn của các doanh nghiệp Việt nam . Điều này cho
thấy, chính sách giao quyền tự chủ kinh doanh cho các nhà xuất khẩu và tăng đầu
mối xuất khẩu gạo của chính phủ là đúng đắn và hiệu quả .
Năm 2003 lợng gạo xuất khẩu đi Trung Đông giam xuong, con 9%, còn lợng
xuất đi Châu phi lại tang len 20%.
Năm 2000, gạo xuất khẩu với tỷ lệ gạo phẩm cấp cao giảm đi đáng kể so với
năm 1999, trong khi đó gạo phẩm cấp thấp tăng lên, chứng tỏ gạo phẩm cấp thấp và
trung bình cũng có thị trờng không nhỏ, đây cũng là lợi thế cạnh tranh xuất khẩu gạo
của Việt nam .
Năm 2003 lợng gạo xuất khẩu của Việt nam đạt mức 3,89 triệu tấn tang so với
năm trớc 0,65 triệu tấn là do một số thị trờng nhập khẩu gạo lớn nh Indonexia,
Bangladesh, philippin . . . tang lợng nhập khẩu.
3.2. Giá gạo xuất khẩu
Giá cả là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của một nền kinh tế trên thị trờng .
Thực tế giá cả phụ thuộc nhiều yếu tố : quan hệ cung cầu, điều kiện khí hậu thời tiết
(những biến cố về khí hậu), thời vụ, yếu tố chính trị xã hội . . . Trong đó, yếu tố chi
(2)
(3)
(4)
(5)
1990
320
226
245
75
1991
287
191
224
63
1992
295
230
265
30
1996
338
250
314
24
1997
362
285
342
20
1998
mấy năm vừa qua có xu hớng giảm dần . Nhng để tăng khả năng cạnh tranh hơn nữa,
trong điều kiện thị trờng hiện nay với xu thế ngày càng khó khăn thì vấn đề quyết
định là cải tiến giống, công nghệ chế biến để nâng cao lúa gạo hàng hoá .
4. Thuế và hiệu quả xuất khẩu gạo
4.1.
Chính sách thuế xuất khẩu gạo .
Trớc ngày 01 tháng 07 năm 1996 gạo xuất khẩu của nớc ta không bị đánh thuế từ
ngay 10 tháng 07 năm 1996 mức thuế xuất khẩu gạo là 1% đợc áp dụng theo quyết
định số 105-TC/TCT ngày 10 tháng 06 năm 1996 của Bộ Tài Chính . Từ ngày 16
tháng 09 năm 1996 mức thuế là 2% đợc áp dụng theo quyết định số 904-TC/TCT
ngày 15 tháng 08 năm 1996 của Bộ Tài Chính . Từ ngày 16 tháng 09 năm 1999 theo
quyết định số 1233/QĐ-BTC của bộ trợng Bộ Tài Chính quyết định thuế xuất khẩu
gạo : gạo 25% tấm trở lên chịu thuế xuất 1,5% ; gạo 24% tấm trở xuống và gạo đặc
sản chịu thuế xuất là 1% và để bổ trợ việc hoạt động kinh doanh trong 6 tháng đầu
năm 1997 Bộ Tài Chính quyết định điều chỉnh thuế xuất . Thuế xuất khẩu gạo các
loại mức 0% thực hiện ngày 01 tháng 01 năm 2000 .
Vấn đề có nên đánh thuế xuất khẩu gạo hay không và đánh với mức nào nhằm
mục đích nào, vẫn có nhứng ý kiến khác nhau .
Thứ nhất : Đánh thuế xuất khẩu để lợi dụng thế mạnh độc quyền trên thị trờng
quốc tế, tăng thu ngân sách để đẩy mạnh chi phí về thuế cho ngời tiêu dùng nớc
ngoài gánh chịu . Tuy nhiên thực tế cho thấy, số lợng gạo xuất khẩu của nớc ta hàng
năm đạt hơn 10% thị phần thế giới thì cha thể coi là độc quyền xuất khẩu gạo trên thế
giới . Vì vậy mục tiêu này không thể đạt đợc trong việc đánh thuế xuất khẩu gạo của
nớc ta .
Thứ hai : Đánh thuế xuất khẩu là để điều chỉnh cơ cấu hàng xuất khẩu . Trong
5. Công tác thu mua và tổ chức xuất khẩu gạo .
5.1.
Công tác thu mua .
Tham gia hoạt động kinh doanh lương thực trong thời kỳ đổi mới có các thành
phần kinh tế cùng tham gia trên thị trường là :
Thành phần kinh tế Nhà nước .
Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh .
Cục dự trữ quốc gia .
Thành phần kinh tế tư nhân .
Từ năm 1999, Nhà nớc ta đã mở rộng cho các thành phần kinh tế đợc phép xuất
khẩu, cái mới nhất đó là t nhân đợc tham gia vào hoạt động xuất khẩu gạo (trớc đó
chỉ có thành phần kinh tế Nhà nớc đợc đứng ra xuất khẩu gạo) . Để có gạo cung cấp
cho các thành phân kinh tế này xuất khẩu, đòi hỏi phải có hoạt động thu mua lúa gạo
trên thị trờng nội địa . Hiện nay đang có các thành phần kinh tế tham gia hoạt động
thu mua gạo xuất khẩu và đợc khái quát bằng sơ đồ :
Hàng xáo chuyên
nghiệp
Nông
dân sản
xuất
lúa gạo
Nông dân thu gom
Quốc doanh tư
nhân
Các chủ nhà máy