Đề tài đánh giá hiện trạng, dự báo biển đông về đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên một số vùng vịnh chủ yếu - Pdf 33

Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam
Phân viện Hải dơng học tại Hải Phòng
_______________________________________________

Đề tài cấp Nhà nớc KC. 09 - 22

Đánh giá hiện trạng, dự báo biến động
và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý
tài nguyên một số vũng - vịnh chủ yếu
ven bờ biển Việt Nam
Chủ nhiệm:
Phó chủ nhiệm:
Th ký:

TS. Trần Đức Thạnh
TS. Mai Trọng Thông
TS. Đỗ Công Thung
TS. Nguyên Hữu Cử

Chuyên đề

Vai trò an ninh, quốc phòng liên quan tới
hệ thống vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam
Với trọng điểm Bái Tử Long và Chân Mây
Thực hiện: TS. Nguyễn Hữu Cử
CN. Thợng tá Nguyễn Đình Hồng

6125-1
25/9/2006

Hải Phòng, 2004


1


Mở đầu

Vùng bờ biển Việt Nam có đờng bờ dài trên 3 200 km định hớng á kinh
tuyến vợt qua trên 100 vĩ nội chí tuyến bắc, có cấu trúc phức tạp gồm nhiều địa
hệ khác nhau, trong đó có các loại hình thủy vực ven bờ, đặc biệt là vũng - vịnh.
Cũng nh các loại hình thủy vực khác nh vùng biển nông ven bờ, các vùng cửa
sông và đầm phá, vũng - vịnh đợc sử dụng từ xa xa theo dòng lịch sử chinh
phục biển và ở nơi đây có nhiều cơ sở sản xuất, thơng mại, cơ sở quân sự phòng
thủ cũng nh huấn luyện và diễn tập đã hình thành và duy trì qua các triều đại
phong kiến khác nhau. Theo các giá trị truyền thống, vũng - vịnh đợc coi là
vùng nớc đợc che chắn nhng dễ dàng hoà nhập vào hệ thống giao thông
đờng bộ và thủy nội địa để giải thoát sự phong tỏa mặt biển kế cận trong trờng
hợp xảy ra khủng hoảng, đồng thời là căn cứ hậu cần quân sự và là điểm xuất
phát của thủy binh và tầu chiến tham gia tác chiến trên biển.
Sự lớn mạnh của quốc gia biển tất yếu đòi hỏi phát triển kinh tế biển gắn
liền với an ninh, quốc phòng, trong đó có phòng thủ bờ biển, kiểm soát mọi hoạt
động trên biển trong quyền hạn pháp lý của mình để giữ vững chủ quyền và lợi
ích quốc gia trên biển. Phát triển kinh tế - xã hội gắn liền với an ninh, quốc
phòng và phòng thủ bờ biển thông qua quan hệ sử dụng không gian bờ, khai thác
tài nguyên bờ, tổ chức cộng đồng về hành chính và thể chế chính trị xã hội
theo chủ trơng xây dựng nền quốc phòng toàn dân hùng mạnh.
Trong khuôn khổ nhiệm vụ Đề tài cấp Nhà nớc KC. 09 - 22 Đánh giá
hiện trạng, dự báo biến động và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên một
số vũng - vịnh chủ yếu ven bờ biển Việt Nam do Phân viện Hải dơng học tại
Hải Phòng chủ trì thực hiện, chuyên đề đánh giá Vai trò an ninh, quốc phòng
liên quan tới hệ thống vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam với trọng điểm Bái

vùng rộng lớn hay các tuyến hàng hải quốc tế huyết mạch, vấn đề này càng trở
nên nhạy cảm hơn, đặc biệt khi có tranh chấp giữa các quốc gia khác nhau lớn về
tiềm lực kinh tế và quân sự.
Việt Nam có vùng biển rộng, gấp chừng 3 lần diện tích phần lục địa, có bờ
biển dài với mật độ khoảng 100 km2 lãnh thổ có 1 km chiều dài bờ biển nhng bị
chia cắt mạnh với mật độ chừng 30 km có 1 cửa sông đáng kể hay 50 km có 1
cửa sông lớn và chừng 70 km chiều dài bờ có 1 vũng vịnh. Trong lịch sử ngoại
xâm, kẻ thù xâm lợc nớc ta, phá hoại hay phong tỏa đã lợi dụng triệt để vùng
biển rộng lớn này bằng không lực và hải lực từ thô sơ tới hiện đại, kể cả phơng
tiện và vũ khí công nghệ cao nh pháo đài bay B52 có hệ thống gây nhiễu chủ
động, tên lửa dò tìm rada, bom điều khiển bằng laser, thủy lôi kích hoạt từ
trờng, v.v. Vùng biển nớc ta tiếp giáp vùng biển quốc tế rộng lớn, nơi có hoạt
động vận tải biển tấp nập với nhiều tuyến hàng hải quốc tế quan trọng. Tơng tự
các quốc gia có biển khác, vùng bờ biển Việt Nam là vùng dân c đông đúc với
mật độ dân số từ 100 tới trên 1 000 ngời/km2 tuỳ nơi, hiện diện nhiều đô thị có
kích thớc và thứ bậc cao (chỉ sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh), nhiều cơ
sở kinh tế thơng mại công nghiệp lớn và cơ sở hạ tầng giao thông bộ, thủy và
hàng không quan trọng, thu hút tỷ trọng đầu t lớn và chiếm tỷ trọng cao trong
cơ cấu GDP.
ý thức sớm và đầy đủ vấn đề này ngay sau khi Hiệp định Geneve phân chia
2 miền đất nớc, ngày 7 tháng 5 năm 1955 một năm sau ngày chiến thắng
Điện Biên Phủ, Bộ Quốc phòng đã ra Quyết định số 284/QĐ về việc thành lập
Cục Phòng thủ bờ biển theo tinh thần Nghị quyết của Tổng Quân ủy (nay là
Đảng ủy Quân sự Trung ơng), trực thuộc Bộ Tổng Tham mu. Lực lợng phòng
thủ nòng cốt lúc này là trờng huấn luyện thủy quân, xởng đóng mới và sửa
chữa canô, tầu thuyền và thủy quân của Thủy đội Sông Lô, Bạch Đằng. Ngày 7
tháng 5 năm 1955 đã trở thành ngày truyền thống của Hải quân nhân dân Việt
3



(1) Quân chủng Hải quân và các binh chủng hợp thành
(2) Bộ đội biên phòng
(3) Cảnh sát biển
(4) Dân quân tự vệ và các lực lợng vũ trang địa phơng
(5) Các học viện, viện Khoa học và Công nghệ quân sự, ngoại giao
(6) Các cơ sở chế tạo, sửa chữa phơng tiện và vũ khí khí tài
(7) Các cơ sở hậu cần quân sự, xí nghiệp quốc phòng khác.
Lực lợng an ninh và phòng thủ bờ biển hiện nay trọng trách các nhiệm vụ:

4


(1) Tuần tiễu và kiểm soát hải phận, ngăn chặn âm mu phá hoại, thâm
nhập hải phận, sẵn sàng tác chiến (công kích, phòng tránh - đánh trả)
trong trờng hợp xảy ra khủng hoảng
(2) Huấn luyện: nâng cao chất lợng huấn luyện và ý chí sẵn sàng chiến
đấu trên cơ sở đổi mới chơng trình, khoa mục, ứng dụng tiến bộ
khoa học và kỹ thuật quân sự, trong đó có công nghệ thông tin và tự
động hóa.
(3) Nâng cao khả năng chế tạo, sửa chữa phơng tiện, vũ khí khí tài và
cung ứng hậu cần quân sự
(4) Kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế và quốc phòng quốc phòng vững
mạnh trên cơ sở nền kinh tế phát triển, đồng thời là điều kiện sống
còn cho phát triển kinh tế.
(5) Kết hợp các hoạt động quốc phòng với hoạt động thăm dò và khai
thác dầu khí, hoạt động bảo vệ tài nguyên và môi trờng biển, trong
đó có quan trắc môi trờng nớc, quan trắc khí hậu hải văn, sẵn
sàng tham gia ứng cứu sự cố tràn dầu trên biển
(6) Nâng cao khả năng tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn trên biển, xử lý tai nạn
trên biển liên quan tới y học biển, thủy nghiệp

vực tuyên bố xác lập chủ quyền của mình trên biển và thềm lục địa. Nh vậy các
vùng nớc và thềm lục địa pháp lý của Việt Nam bao gồm:
(1) Nội thủy là vùng nớc phía trong đờng cơ sở ven bờ (đờng cơ sở
ven bờ sẽ đợc đề cập tới sau), nằm giữa đờng bờ biển và đờng cơ
sở ven bờ
(2) Lãnh hải là vùng biển phía ngoài đờng cơ sở ven bờ, rộng 12 hải lý
tính từ đờng cơ sở ven bờ, có chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn trên
biển, trên không, đáy biển và lòng đất dới đáy biển.
(3) Vùng tiếp giáp là vùng biển phía ngoài lãnh hải, rộng 12 hải lý, tức
mở rộng tới 24 hải lý tính từ đờng cơ sở ven bờ, nơi Chính phủ Việt
Nam giữ quyền kiểm soát nhằm bảo đảm an ninh, bảo vệ các quyền
lợi quốc gia nh hải quan, thuế, đảm bảo sự tuân thủ các quy định về
y tế, di c và nhập c, quyền cứu hộ, cứu nạn hàng không, hàng hải,
kiểm soát hành vi gây ô nhiễm môi trờng và ứng cứu sự cố môi
trờng
(4) Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển phía ngoài vùng tiếp giáp, mở
rộng tới 200 hải lý tính từ đờng cơ sở ven bờ, nơi Chính phủ Việt
Nam có chủ quyền hoàn toàn về thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản
lý tài nguyên thiên nhiên, cả tài nguyên sinh vật và phi sinh vật ở
vùng nớc, đáy biển và lòng đất dới đáy biển, có các thẩm quyền
riêng về các hoạt động phục vụ thăm dò và khai thác nhằm mục đích
kinh tế, về nghiên cứu khoa học biển, về thiết lập, lắp đặt và sử dụng
các công trình, các đảo nhân tạo, về bảo vệ và chống ô nhiễm môi
trờng biển
(5) Thềm lục địa là phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam
(prolongement naturel du continent de Vietnam), gồm đáy biển và
lòng đất dới đáy biển, mở rộng tới 200 hải lý tình từ đờng cơ sở
ven bờ cho dù thềm lục địa địa chất cha tới 200 hải lý, nơi Chính
phủ Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về thăm dò, khai thác, bảo vệ
và quản lý tất cả tài nguyên thiên nhiên, gồm khoáng sản và các dạng


0

Cha công bố

Cha công bố

A1

9o1500

103o2700

Giữa hai điểm

Điểm tới bờ

56
99,280

A2

8o2208

104o5204

12
105,100

A3

109o0500

74
162,700

A7

12o3900

109o0500

0,5
14,830

A8

12o5308

109o2702

0,0
60,540

A9

13o2301

109o2100

14

bảo đảm an ninh và phòng thủ bờ biển là an ninh môi trờng. Hải quân nhân dân
Việt Nam trực tiếp tham gia các hoạt động quan trắc môi trờng biển, tuần tiễu,
kiểm soát hải phận, ngăn chặn các hành vi gây ô nhiễm môi trờng biển, ứng cứu
sự cố môi trờng biển, giám sát việc tuân thủ các công ớc quốc tế về an toàn
môi trờng biển đối với mọi hoạt động trên biển, v.v. Theo đó, khung pháp lý
liên quan tới các hoạt động đảm bảo an ninh, phòng thủ bờ biển đã đợc mở
rộng đáng kể, bao gồm hệ thống luật pháp của Việt Nam và các công ớc quốc
tế có liên quan mà Chính phủ Việt Nam đã ký tham gia.
1.4.1. Hệ thống luật pháp của Việt Nam
Đảm bảo an ninh trên biển, trong đó có an ninh môi trờng biển, không
tách rời các hoạt động trong quan hệ kinh tế quốc phòng, sử dụng các công cụ
pháp lý trong hệ thống thống nhất cho phép phối hợp quản lý giữa các ngành,
các lĩnh vực, các lực lợng có liên quan. Dới đây là một số văn bản pháp luật
chủ yếu của Việt Nam:
(1) Hiến pháp nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 1992
(2) Luật Bảo vệ môi trờng ngày 27/12/1993 và Nghị định số 175/CP
ngày 18/10/1994 về hớng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trờng
(3) Bộ Luật hình sự, 1999
(4) Luật Tài nguyên khoáng sản, 1996
(5) Luật Đầu t nớc ngoài, 1996, 2000
(6) Luật Tài nguyên nớc, 1998
(7) Luật Phòng cháy, chữa cháy, 2001
(8) Luật Hải quan, 2001
(9) Luật Dầu khí, 1993, 2000
(10) Bộ luật Hàng hải Việt Nam, 1990
(11) Pháp lệnh về an toàn và kiểm soát chất phóng xạ, 1996

8



hoạt động nghề cá của ngời và phơng tiện nớc ngoài trong vùng
biển của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(26) Nghị định số48/2000/NĐ - CP ngày 12/9/2000 của Chính phủ về
Quy định chi tiết thi hành Luật Dầu khí
(27) Nghị định số 27/CP ngày 20/4/1995 của chính phủ về Quản lý, sản
xuất và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp
(28) Nghị định số 02/1998/NĐ - CP ngày 6/1/1998 của Chính phủ về Quy
định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Bộ đội biên phòng

9


(29) Nghị định số 51/NĐ - CP ngày 21/7/1998 của Chính phủ về Quy
định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Cảnh sát biển
(30) Nghị định số 36/1999/NĐ - CP ngày 9/6/1999 của Chính phủ về Quy
định sử phạt vi phạm hành chính trong vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp,
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nớc Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam
(31) Nghị định số 41/2001/NĐ - CP ngày 24/7/2001 của Chính phủ về
Quy chế phối hợp quản lý Nhà nớc về hoạt động của lực lợng Cảnh
sát biển và việc phối hợp hoạt động giữa các lực lợng trên các vùng
biển và thềm lục địa của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Dới văn bản luật và nghị định nói trên, có rất nhiều quyết định, thông t,
chỉ thị có liên quan.
1.4.2. Công ớc quốc tế
Từ năm 1958 tới nay đã có nhiều hiệp định, công ớc quốc tế hay hiệp định
chung giữa 2 quốc gia, trong đó có một số hiệp định, công ớc quốc tế mà chính
phủ Việt Nam đã ký tham gia từ những năm 1989 1995 và các hiệp định chung
giữa 2 quốc gia (giữa Việt Nam và nớc láng giềng) ngay từ năm 1982 (bảng 2)
Bảng 2. Hiệp định và công ớc quốc tế và việc ký kết tham gia


4

Chính phủ Việt
Nam ký tham gia

5

Công ớc về ngăn ngừa ô nhiễm do tầu thuyền,
MARPOL năm 1973 và nghị định th năm 1978

29/8/1991

6

Công ớc về Kiểm soát vận chuyển xuyên biên giới các
chất độc hại và việc loại bỏ chúng, BASEL, 1989

11/6/1995

7

Công ớc về đa dạng sinh học, 1992

14/2/1995

8

Công ớc về các vùng đất ngập nớc có tầm quan trọng
quốc tế đặc biệt xem là nơi c trú của các loài chim nớc,

2.1. Vũng vịnh ven bờ biển là một dạng tài nguyên quân sự
2.1.1. Khái niệm vũng vịnh
Theo định nghĩa hiện nay trong tiếng Việt hay tiếng nớc ngoài, cả bách
khoa toàn th về hải dơng học (oceanography), về ao hồ học (lymnology) hay
từ điển 4 thứ tiếng của Liên Xô (1980), vịnh là phần lõm vào lục địa của biển
hoặc hồ.
Định nghĩa này hết sức khái quát theo trực quan, mới chỉ phản ánh hình
dáng dị thờng lõm của đờng bờ trên bình đồ, ngợc lại với hình dáng lồi
của mũi nhô hay bán đảo, mà cha phản ánh hình thái trắc lợng, cấu trúc, thành
phần vật chất, cơ chế hình thành, phát triển và tiến hóa.
Dù sao, cũng có thể phân tích định nghĩa khái quát này và thấy rằng:
(1) là một phần của biển lõm vào lục địa,
(2) là một loại hình thủy vực ven bờ tơng ứng với các loại hình thủy vực
khác nh vùng cửa sông hay đầm phá nhng động lực biển thống trị
(sóng, dòng chảy, thủy triều),
(3) là một thể địa chất bồn tích tụ hiện đại ven bờ
(4) là một kiểu hệ sinh thái ven bờ tiêu biểu
2.1.2. Định danh và phân loại
Ngợc lại với định nghĩa đơn giản, định danh vũng vịnh hết sức phức tạp
không riêng gì ở nớc ta. Các từ định danh hiện nay không theo tiêu chuẩn địa lý
- địa chất mà mang ý niệm trực quan tuỳ thuộc vào:
(1) Bản ngữ
(2) Tập quán, thói quen của ngời dân ven biển
(3) Tôn trọng lịch sử th tịch ngay cả khi có khái niệm khoa học rõ ràng
về nó
ở Việt Nam, các tên gọi vũng, vụng, vịnh, đầm, phá và cửa sông đợc sử
dụng lộn xộn, tất yếu dẫn đến hiện tợng đồng âm nhng dị nghĩa và ngợc lại.
Ngay từ năm 1928, hải đồ của Pháp có ghi baie de Courbet lâu nay gọi là
11


phận lớn của thềm lục địa, chỉ bị phơi lộ do hạ thấp mực nớc đại
dơng thế giới trong băng hà lần cuối, nơi còn lu giữ nhiều di tích
địa hình cổ, trầm tích cổ. ở đới bờ của vịnh biển (gulf), có thể có các
loại hình thủy vực ven bờ khác nhau nh các vùng cửa sông (delta,
estuary, liman), đầm phá (lagoon) và vũng vịnh ven bờ (bay,
embayment, bight, v.v.).
(2) Vịnh ven bờ, tơng ứng với thuật ngữ bay của tiếng Anh để chỉ vịnh
Hạ Long (Ha Long bay), vịnh Bái Tử Long (Bai Tu Long bay), vịnh
Đà Nẵng (Da Nang bay), v.v., có quy mô nhỏ, thờng dới 500 km2
và sâu tối đa tới 30m, bị phơi lộ hoàn toàn trong băng hà lần cuối ở
thời điểm chừng 6 000 năm trớc, phổ biến ở 3 000 năm trớc
(Emery, 1967, Gorsline, 1967, v.v.), ở đây thờng ít hoặc không còn
di tích trầm tích và địa hình cổ do tơng tác biển lục địa mạnh, các
quá trình bờ san bằng địa hình mạnh. Trong vịnh ven bờ, cũng

12


thờng có các thủy vực ven bờ khác nhau đợc coi là phụ hệ nh
vùng cửa sông hình phễu Tiên Yên, Hà Cối thuộc vịnh Tiên Yên
Hà Cối, vịnh Cửa Lục thuộc vịnh Hạ Long, vùng cửa sông Cu Đê
(kiểu liman) và vùng cửa sông Hàn (kiểu delta) là các phụ hệ thuộc
vịnh Đà Nẵng, v.v.
(3) Vịnh bờ đá, tơng ứng với thuật ngữ embayment của tiếng Anh, có
quy mô thờng nhỏ hơn vịnh ven bờ, hình dáng kéo dài và hẹp, ít khi
đẳng thớc, do gặm mòn bờ đá gốc tạo thành, nơi phổ biến các dạng
địa hình xâm thực hện dại nh bãi tảng, vách (cliff), rãnh ngầm, nh
Vịnh Xuân Đài, Đầm Nha Phu, v.v.
(4) Vũng, tơng ứng với thuật ngữ tiếng Anh bight, có kích thớc nhỏ,
thờng có hình dáng đẳng thớc, nh vụng Quán Lạn (một bộ phận


- Theo các hợp phần môi trờng tự nhiên (physical environment), ngời ta
phân biệt chúng thành tài nguyên đất (đất canh tác, đất cát, đất bồi, đất
rừng, v.v.), nớc (nớc mặt, nớc ngầm, nớc biển, v.v.), tài nguyên khí
hậu.
- Theo lãnh thổ, ngời ta phân biệt chúng thành tài nguyên rừng, tài
nguyên biển, tài nguyên đất (đất canh tác, đất bồi, đất ngập nớc, v.v.).
- Theo bản chất tồn tại, tài nguyên đợc phân biệt thành tài nguyên tái tạo
(renewable resources) và không tái tạo (non renewable resources)
- Theo tính chất sử dụng, tơng tự, tài nguyên khai thác và tài nguyên để
dành
- Theo tính chất khai thác, tài nguyên khai thác tiêu hao (extractive) và
không tiêu hao (non extractive)
- Theo nguồn gốc vật chất sinh thành tài nguyên sinh vật (biotic/living
resources) và phi sinh vật (abiotic/non - living resources)
Phân loại tài nguyên theo nguồn gốc vật chất sinh thành đợc sử dụng rộng
rãi nhất hiện nay để kiểm kê và đánh giá tiềm năng tài nguyên của một vùng
lãnh thổ. Theo đó, có thể phân tích cụ thể nh sau:
(1) Tài nguyên sinh vật, gồm:


Đa dạng sinh học (đa dạng hệ sinh thái, nguồn gien và nguồn gốc khu
hệ)



Tiềm năng nguồn lợi sinh vật (tổng nguồn lợi sinh vật cho phép con
ngời khai thác phù hợp với khả năng tái tạo và duy trì tính bền vững
của hệ thống tài nguyên)


địch, tiềm năng quốc phòng là tài nguyên đợc sử dụng đặc biệt vào mục đích
quân sự, hay gọi là tài nguyên quân sự.
Theo đó, hệ thống vũng vịnh ven bờ biển là một dạng tài nguyên quân sự
có giá trị đợc sử dụng cho các hoạt động quân sự, đặc biệt là hoạt động của hải
quân, trong hệ thống phòng thủ bờ biển. Ngay cả trong cuộc chiến xâm lợc
miền Nam Việt Nam, quân đội Mỹ đã sử dụng triệt để lợi thế của các vịnh, trong
đó có vịnh Đà Nẵng, vịnh Cam Ranh, để tập kích, tập kết lực lợng để kiểm soát
chiến trờng và kết cục sự tháo chạy cũng bắt đầu từ vịnh. Hiểu rõ lợi thế
phòng thủ của vũng vịnh cũng nh các loại hình thủy vực ven bờ khác, quân
đội Mỹ không thể thực hiện ý đồ xâm nhập Bắc Việt Nam bằng hải quân trên
suốt chiều dài 800 km bờ biển tới vĩ tuyến 17o bắc bấy giờ.
2.2. Vị trí chiến lợc phòng thủ của vũng vịnh ven bờ biển
ở bất kỳ một quốc gia nào có biển, phòng thủ quốc gia để chống lại tập
kích hay đổ bộ chiếm đóng đều thờng trực ở 3 phơng diện:
(1) từ các nớc láng giềng theo đờng bộ,
(2) từ trên không đa hớng,
(3) từ biển xuất hiện nhu cầu phòng thủ bờ biển
Phòng thủ bờ biển hợp thành từ nhiều lực lợng, trong đó Hải quân, Phòng
không Không quân, Biên phòng, lực lợng quân khu, quân sự địa phơng
trong đó Hải quân là lực lợng nòng cốt. Việc bố trí các công trình phòng thủ
cũng nh lập các phơng án tác chiến trớc hết phải dựa vào đặc điểm các điều
kiện tự nhiên, đặc biệt là yếu tố địa hình, trong đó có hệ thống vũng vịnh và
khí tợng hải văn vùng bờ biển. Cấu trúc hợp phần tổng quát của một vũng
vịnh ven bờ biển bao gồm:
(1) Vực nớc thờng có hình dáng tơng đối đẳng thớc, độ sâu phổ
biến 10 15m, bề mặt đáy nghiêng dần về phía biển và có thể đạt tới
độ sâu 30m ở cửa. ở một số vịnh (nh vịnh Tiên Yên Hà Cối, vịnh
Hạ Long và Bái Tử Long), có nhiều đảo lớn nhỏ chia cắt vực nớc
thành các luồng định hớng tuỳ thuộc vào cấu trúc địa chất khu vực.
Các đảo này có thể là đá gốc tạo thành (island) hoặc là một dạng tích

(sheltered shore) có thể là bờ đá gốc phía trong đảo chắn, quanh các
đảo trong vịnh, có thể là bờ cấu tạo từ trầm tích bở rời do sóng ở các
cung lõm hoặc ở các vùng cửa sông đổ vào vịnh
Theo cấu trúc hợp phần, có thể bố trí các công trình phòng thủ thích hợp với
các chức năng khác nhau để lợi dụng triệt để tiềm năng tài nguyên quân sự mà
hệ thống vũng vịnh đem lại (bảng 3). Đánh giá giá trị sử dụng vũng vịnh vào
mục đích phòng thủ bờ biển trên bảng 3 cho thấy kiểu vũng vịnh gần kín (có
đảo chắn) có giá trị sử dụng cao nhất, biểu hiện ở hầu hết trong tổng số 18 giá trị
đặc trng, tiếp theo là kiểu nửa kín và hở.
Đặc trng cho kiểu vũng vịnh ven bờ biển gần kín là vịnh Bái Tử Long
với giá trị sử dụng cao và còn cao hơn nữa khi sử dụng kết hợp với vịnh Hạ Long
và khu vực Cát Bà để trở thành một căn cứ chiến lợc thuận lợi cho việc triển
khai kế hoạch tác chiến của lực lợng Hải quân cũng nh xây dựng căn cứ Hải
quân, đợc che chắn bởi trên 2 000 hòn đảo đá gốc (đá vụn lục nguyên và
carbonate) lớn nhỏ, trong đó có các đảo chắn lớn định hớng đông bắc tây nam
song song với bờ biển nh Sậu Nam, Quán Lạn, Trà Bản, Phợng Hoàng, Ngọc
Vừng, cụm đảo Đầu Bê và Cát Bà. Đặc biệt có giá trị là ở đây có vùng nớc sâu
phổ biến 8 15m, luồng lạch sâu tới 20 30m, nhiều hang karst có quy mô từ
nhỏ đến lớn vốn bắt nguồn từ vùng karst lục địa bị ngập chìm do biển tiến sau
băng hà lần cuối, thuận lợi cho việc đặt sở chỉ huy tác chiến, căn cứ hậu cần, bảo
toàn lực lợng trớc đòn tiến công phủ đầu, dễ dàng phòng tránh và đánh trả,
v.v. Những giá trị này đã từng đợc sử dụng có hiệu quả cao trong cuộc kháng

16


chiến chống Mỹ. Căn cứ này gắn liền với quốc lộ 18 và đờng sắt Kép Bãi
Cháy, dễ dàng nối với quốc lộ 5, quốc lộ 10, đờng thủy cận duyên và nội địa
qua vùng cửa sông Bạch Đằng.
So với vịnh Bái Tử Long, vịnh Chân Mây có giá trị sử dụng thấp hơn nhiều

(6) - Đặt cơ sở nghiên cứu và thử nghiệm các
phơng tiện, vũ khí khí tài, diễn tập
quy mô nhỏ
(7) Dễ dàng cho tầu ra vào do luồng sâu và
đủ rộng
(8) Thuận lợi cho việc đặt thiết bị cảnh giới
Cửa
(phao, ngầm) bằng kỹ thuật điện tử,
quang học, thủy âm
(9) Dễ dàng ngăn chặn sự thâm nhập của
đối phơng từ biển bằng tầu nổi, tầu
ngầm, ngời nhái, thủy lôi, robot, v.v.
vào căn cứ
(10) - Đặt hệ thống radar cảnh giới, thám sát
trên không, mặt biển để cảnh báo sớm
cho sở chỉ huy và các lực lợng có liên
Mũi nhô,
quan

Gần kín

Nửa kín

Hở

A

B

C


B

A

A

A

B

C

A

B

C

A

A

A

17


đảo chắn



A

A

A

A

A

(15) - Đặt doanh trại, trung tâm huấn luyện

A

A

C

(16) - Đặt sở chỉ huy tác chiến

A

A

C

A

A

Long đối với vùng biển Bắc bộ và Bắc Trung bộ từ Quảng Ninh
tới Hà Tĩnh, vịnh Đà Nẵng đói với vùng biển phía nam Bắc
Trung bộ và Trung Trung bộ từ Quảng Bình tới Quy Nhơn, vịnh
Cam Ranh đối với vùng biển Nam Trung bộ và Nam bộ từ Tuy
Hòa trở vào.



Cấp II có vị trí chiến lợc liên kết giữa các vùng tác chiến



Cấp III có vị trí liên kết nội vùng tác chiến

18


Bảng 4. Đánh giá vị trí chiến lợc phòng thủ bờ biển của một số vũng vịnh tiêu biểu ở ven bờ biển Việt Nam
Vị trí địa lý

Thứ
tự

Vũng - vịnh

1

Diện tích mặt
nớc (km2)



4

Lan Hạ

5

Độ sâu (m)

Vị trí chiến lợc

T. Bình

Lớn nhất

Cấp I

400

2

15

x

Cẩm Phả, Vân Đồn
(Quảng Ninh)

560


15

30

Diễn Châu

18o51
19o06

105o37
105o44

Diễn Châu
(Nghệ An)

237

7

11

6

Vũng áng

18o06
18o07

106o22
106o25


x

8

Đà Nẵng

16o04
16o12

108o07
108o15

Thành phố Đà Nẵng

116

15

23

9

Dung Quất

15o23
15o29

108o41
108o49

19

Cấp II

Cấp III

x
x

x
x
x


11

Xuân Đài

13o21
13o29

109o127
109o18

Sông Cầu
(Phú Yên)

60.8

11

109o26

Vạn Ninh
(Khánh Hòa)

452.7

18

42

14

Cam Ranh

11o49
11o59

109o06
109o12

Cam Ranh
(Khánh Hòa)

71.1

7

15



Tuy Phong
(Bình Thuận)

157.5

10

24

x

17

Phan Rí

11o02
11o12

108o28
108o43

Tuy Phong, Bắc Bình
(Bình Thuận)

135

8

16



3. quan hệ giữa an ninh, quốc phòng với
phát triển kinh tế x hội liên quan tới
hệ thống vũng vịnh ven bờ biển việt nam
và trọng điểm bái tử long và chân mây

3.1. Mối quan hệ với hệ thống vũng vịnh
3.1.1. Khái quát về các hoạt động kinh tế x hội liên quan tới hệ thống
vũng vịnh ven bờ biển Việt Nam
Theo quy luật chung, vùng bờ biển là vùng giàu tài nguyên và điều kiện tự
nhiên thuận lợi, cho tiềm năng to lớn phát triển kinh tế xã hội với tỷ trọng cao
trong cơ cấu kinh tế. Tài nguyên thiên nhiên tập trung chủ yếu ở các loại hình
thủy vực ven bờ, điển hình trong đó là vũng vịnh và các vùng cửa sông châu
thổ lớn, nơi tập trung các hệ sinh thái có năng suất sinh học và đa dạng sinh học
cao, tiềm năng nguồn lợi to lớn, hệ thống tài nguyên đa dạng, đa mục đích sử
dụng, cho phép phát triển đa ngành có lựa chọn u tiên. Cũng nh các laọi hình
thủy vực ven bờ khác, vũng vịnh có chức năng môi trờng điển hình của vùng
bờ biển, đặc biệt là khả năng điều hòa vi khí hậu, phân tán, chôn vùi chất gây
bẩn nguồn lục địa và khả năng tự làm sạch môi trờng, tạo điều kiện sinh c
thuận lợi cho các cộng đồng dân c ven biển, có chức năng sinh thái quan trọng,
đặc biệt trong đó là lu giữ nguồn giống thủy sinh vật (aquatic biota) đa nguồn
gốc khu hệ (nguồn gốc nớc ngọt, nguồn gốc nớc mặn và nhóm thích nghi rộng
muối), tự phục hồi nguồn gien, đa dạng sinh học và các hệ sinh thái.
Giàu tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên thuận lợi và sức tải môi
trờng lớn là những tiền đề cơ bản cho phép phát triển kinh tế xã hội đa ngành
và thực tế đang phát triển sôi động. Dới đây là một số hoạt động phát triển chủ
yếu:
(1) - Đô thị hóa
Vùng bờ biển Việt Nam có 132 huyện/thị (thuộc 28 tỉnh và thành phố) với

- Thị xã Phan Thiết thuộc tỉnh Bình Thuận kiểu đô thị du lịch, nghề cá
bên bờ vịnh Phan Thiết với dân số 189 455 ngời và diện tích tự nhiên
206 km2.
Mức độ đô thị hóa ngày càng cao ở vùng biển, đạt tới 38,8% dân số thành
thị và 61,2% dân số nông thôn (Đề tài KC. 09 11 (2003)). Tính chất chuyên
hóa đô thị ngày càng rõ, đặc biệt là các tiểu đô thị nghề cá phát triển rất nhanh
mà không lệ thuộc vào kích thớc (quy mô dân số và diện tích) và bậc hành
chính. Tính chất chuyên hóa đô thị cũng biểu hiện ngay trong một bậc đô thị
chẳng hạn ở thị trấn Cái Rồng (huyện Vân Đồn), khu 2 (khu cảng) là một tiểu đô
thị nghề cá, hay ở thành phố Hạ Long, Bãi Cháy là một tiểu đô thị du lịch, Cái
Lân - đô thị cảng và công nghiệp, hay Hà Tu Hà Lầm - kiểu đô thị công
nghiệp mỏ, hay thị xã Cẩm Phả - kiểu đô thị công nghiệp mỏ.
(2) Hoạt động cảng giao thông
Những cảng lớn của thế giới cũng nh của Việt Nam đều đợc xây dựng ở
vùng cửa sông hình phễu (estuary) và vịnh ven bờ. Các cảng vịnh nh Cửa Lục,
Cái Lân, Vũng áng, Hòn La, Chân Mây, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Văn Phong, Nha
Trang, Cam Ranh, Phan Rang, Phan Thiết và các cảng cửa sông hình phễu điển
hình nh Hải Phòng, Thị Vải, Sao Mai Bến Đình, Sài Gòn. Vùng bờ biển Việt
Nam hiện có 7 nhóm cảng nhóm cảng phía Bắc (nhóm I), nhóm cảng Bắc
Trung bộ (II), nhóm cảng Trung Trung bộ (III), nhóm cảng Nam Trung bộ (IV),
nhóm cảng thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai (V), nhóm cảng Bà Rịa Vũng
Tầu (VI) và nhóm cảng Đồng bằng sông Cửu Long (VII). Theo quy hoạch tới
năm 2010, lợng hàng thông qua cảng lên tới 192.66 triệu tấn, và tới năm 2020,
lợng hàng thông qua 336.57 390.6 triệu tấn tơng ứng với tốc độ tăng trởng
6 - 7% mỗi năm, đòi hỏi đội tầu có tổng tải trọng 4,45 triệu DWT vào năm 2010
và 7,8 triệu DWT tới năm 2020, trong khi tính tới tháng 12/2002, tổng tải trọng

22




tiềm năng 20 x 106 tấn/năm

- Cảng Vũng Rô:

tiềm năng 10 x 106 tấn/năm

- Cảng Văn Phong:

tiềm năng 15 x 106 TEU
và 10 x 106 tấn/năm

- Cảng Nha Trang:

tiềm năng 2 x 106 tấn/năm

- Cảng Ba Ngòi:

tiềm năng 10 x 106 tấn/năm

(3) Hoạt động du lịch
Tính đến năm 2000, trong số 28 tỉnh ven biển có tổng số 915 di tích đã
đợc xếp hạng, trong đó có 24 thắng cảnh, 221 công trình nghệ thuật kiến trúc,
106 kiến trúc lịch sử, 14 di tích khảo cổ và 550 di tích lịch sử. Bên cạnh đó là
nhiều lễ hội (lễ hội Yên Tử Quảng Ninh; lễ hội chọi trâu Đồ Sơn Hải Phòng;
lễ hội Phủ Giày Nam Định; lễ hội Katê - Ninh Thuận, v.v), nhiều điểm văn hóa
làng nghề, di sản văn hóa ẩm thực, âm nhạc, v.v. Hiện có 6 chủ thể quản lý tài
nguyên du lịch, gồm có ngành Du lịch, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
Văn hóa, Công nghiệp, địa phơng và quân đội, trong đó quân đội quản lý di tích
chiến trờng, lịch sử chiến tranh, đảo, quần đảo, cảnh quan đặc biệt, v.v.

tổng lợt khách nội địa và trên 70% tổng lợt khách quốc tế:
- Trong năm 1995, khách nội địa du lịch bờ biển chiếm 53,02% của tổng
số 5 741 000 lợt khách nội địa của cả nớc, khách quốc tế du lịch bờ
biển chiếm 72,79% của tổng số 1 865 000 lợt khách quốc tế của cả
nớc
- Trong năm 2003, khách nội địa du lịch bờ biển chiếm 57,41% của tổng
số 14 642 000 lợt khách nội địa của cả nớc, khách quốc tế du lịch bờ
biển chiếm 72,25% của tổng số 4 720 000 lợt khách quốc tế của cả
nớc
Thu nhập từ du lịch biển trong thời gian 1995 2003 luôn chiếm tỷ trọng
trên 70% tổng thu nhập của du lịch cả nớc, có năm tới 73,21% (2002).
(4) Thủy sản
Các loại hình thủy vực ven bờ, trong đó có vũng vịnh, không phải là ng
trờng đánh bắt quan trọng, mà là nơi ơng nuôi tự nhiên và lu giữ nguồn giống
thuỷ sinh vật, có mặt các kiểu habitat khác nhau thuận lợi cho nuôi thủy sản
nớc lợ, nớc mặn và sản xuất giống nhân tạo. Diện tích mặt nớc và số lồng bè
nuôi liên tục gia tăng trong 10 năm gần đây. Vào năm 1995, chỉ số tổng diện tích
nuôi thủy sản vùng bờ biển 158 283 ha và 3 439 lồng bè, trong khi tới năm 2000
tơng ứng là 424 503 ha và 19 155 lồng bè và tới năm 2003 tơng ứng 569 453
ha và 50 124 lồng bè, cho sản lợng 49 480 tấn vào năm 1995, 260 699 tấn vào
năm 2000 và 429 678 tấn vào năm 2003. Các đối tợng nuôi chính gồm có:

24


Trích đoạn xuất h−ớng sử dụng hợp lý
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status