TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(37).2010
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỊ LỰC VÀ TẬT KHÚC XẠ
CỦA HỌC SINH SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG
CAO ĐẲNG KỸ THUẬT Y TẾ II
ASSESSMENT OF THE FRESHMEN’S VISUAL ACUITY AND REFRACTIVE
ERRORS AT THE NATIONAL TECHNICAL COLLEGE OF MEDICINE 2
Hoàng Ngọc Chương, Hoàng Hữu Khôi, Nguyễn Tịnh Anh
Trường Cao đẳng Kỹ thuật Y tế II
TÓM TẮT
Thị lực và tật khúc xạ trong học sinh sinh viên đang là mối quan tâm đặc biệt của ngành
nhãn khoa nói riêng và ngành y tế, giáo dục nói chung.
Tại Việt Nam, theo điều tra của Bệnh viện Mắt Trung ương (2009) tỉ lệ cận thị ở tiểu
học là 18%, cấp trung học cơ sở là 25,5% và cấp trung học phổ thông là 49,7%.
Qua nghiên cứu 1100 học sinh, sinh viên năm thứ nhất vào học tại Trường Cao đẳng
Kỹ thuật Y tế II vào thời điểm tháng 9 năm 2009, chúng tôi thu được kết quả như sau:
- Tỷ lệ giảm thị lực chung là 21,6%, trong đó do tật khúc xạ chiếm 99,6% và 0,4% do
đục thể thuỷ tinh.
- Giảm thị lực do tật khúc xạ là 21,5%, trong đó cận thị chiếm 17,2 %, loạn thị chiếm 3,0
% và viễn thị chiếm1,3 %
- Thị lực không kính từ ĐNT 4m – 3/10 chiếm 59,1%
- Thị lực với kính hiện tại từ 4/10 – 7/10 chiếm 55,3%
- Thị lực sau điều chỉnh kính > 7/10 chiếm 92,0%
- Có tới 58,7% học sinh, sinh viên đeo kính không đúng độ
SUMMARY
In Vietnam, students’ visual acuity and refractive errors are still matters of concern for
Opthalmological Departments in particular and for Medical and Educational Departments in
general. According to a survey from Vietnam National Institute of Ophthalmology (2009), the
rate of myopia in primary schools is 18%, in secondary schools 25.5% and in high school
49.7%. Based on this survey of 1,100 freshmen at the National Technical College of Medicine 2
khúc xạ của học sinh sinh viên năm thứ nhất vào Trường Cao đẳng Kỹ thuật Y tế
2” nhằm Xác định tỷ lệ tật khúc xạ của học sinh sinh viên mới vào trường, qua đó tư
vấn, cho học sinh sinh viên có tật khúc xạ đeo kính đúng độ.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là 1100 học sinh sinh viên năm thứ nhất được khám sức
khỏe tại Trung tâm Chẩn đoán Y khoa của Trường Cao đẳng Kỹ thuật Y tế II tại thời
điểm tháng 9/2009.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Theo phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3. Phương pháp tiến hành
Điều tra tỷ lệ tật khúc xạ được tiến hành theo 2 giai đoạn :
- Giai đoạn sàng lọc: Tất cả học sinh sinh viên đều được đo thị lực và khám mắt
- Giai đoạn khám xác định loại tật khúc xạ và chỉnh kính: Những học sinh sinh
viên đã được xác định là có tật khúc xạ sẽ được khám lại để xác định loại tật khúc xạ
bằng khúc xạ kế tự động sau đó sẽ được chỉnh kính với số kính phù hợp.
Tất cả nội dung điều tra và khám mắt được ghi và đánh dấu vào các mục của
phiếu điều tra đã được in sẵn.
2.4. Phương tiện nghiên cứu
Phương tiện nghiên cứu gồm:
- Bảng thị lực vòng hở Landolt,
199
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(37).2010
- Hộp thử kính, kính lỗ
- Máy đo khúc xạ kế tự động hiệu TOPCON của Nhật
- Kính sinh hiển vi khám
- Đèn pin
33
14
Viễn thị
15
6,3
Cộng
237
100,00
Trong các loại tật khúc xạ thì cận thị chiếm đa số với 79,7 %, loạn thị chiếm
14% và viễn thị chiếm 6,3%.
3.4. Thị lực không kính
Bảng 2. Thị lực không kính
Thị lực
200
Số lượng
Tỷ lệ %
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(37).2010
Khi không đeo kính thì thị lực từ ĐNT 4m – 3/10 chiếm đa số với 59,1%,thị lực
từ 4/10 – 7/10 chiếm 27,0%, thị lực > 7/10 chỉ có 11 trường hợp chiếm 4,6% và thị lực
ĐNT ≤ 3m chiếm 9,3%
3.4. Thị lực với kính hiện tại
Bảng 3. Thị lực với kính hiện tại
Thị lực
Số lượng
Tỷ lệ %
ĐNT≤ 3m
0
0,0
4m-3/10
8
3,4
4/10-7/10
131
0,0
4m-3/10
4
1,7
4/10-7/10
15
6,3
> 7/10
218
92,0
Tổng
237
100%
Sau khi khám và điều chỉnh kính đúng độ thì thị lực chiếm đa số ở mức trên
7/10 với 92,0%, thị lực ĐNT 4m – 3/10 chiếm 1,7%, thị lực từ 4/10 – 7/10 là 6,3% và
không có trường hợp nào có thị lực ĐNT≤ 3m.
4. Bàn luận
Không kính
Tỷ lệ %
Kính hiện tại
Tỷ lệ %
ĐNT≤ 3m
22
9,3
0
0,0
ĐNT 4m-3/10
140
59,1
8
3,4
4/10-7/10
biệt có 22 trường hợp chiếm 9,3% thị lực ĐNT ≤ 3m, đây là những trường hợp cận thị
bệnh lý và viễn thị nặng. Như vậy đối với các học sinh, sinh viên bị tật khúc xạ nếu
không đeo kính thì thị lực rất thấp.
Với kính hiện tại mà học sinh, sinh viên đang đeo thì thị lực chiếm đa số ở mức
từ 4/10 – 7/10, kết quả trên cho thấy có tới 58,7% học sinh, sinh viên đeo kính không
đúng độ, tỷ lệ này ở Thành phố Hồ Chí Minh là 51% và Hà Nội là 60%. Như vậy sự
khác biệt của chúng tôi là không có ý nghĩa thống kê ( P> 0,05)
4.5. Thị lực với kính hiện tại và sau điều chỉnh kính
Bảng 6. So sánh thị lực với kính hiện tại và thị lực sau chỉnh kính
Thị lực
202
Kính hiện tại
Tỷ lệ %
Sau chỉnh kính
Tỷ lệ %
ĐNT≤ 3m
0
0,0
0
92,0
Tổng
237
100%
237
100%
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 2(37).2010
Sau khi khám và điều chỉnh kính thì thị lực chiếm đa số ở mức trên 7/10 với
92% còn lại 8,0% chỉnh kính không đạt được thị lực tối đa là do cận thị bệnh lý và viễn
thị nặng. So sánh với kết quả nghiên cứu của Thành phố Huế (2007) thị lực sau điều
chỉnh kính >7/10 chiếm 93,5% và Thành phố Hồ Chí Minh (2009) thị lực sau điều
chỉnh kính >7/10 chiếm 94,% thì nghiên cứu của chúng tôi cũng cho kết quả tương
đương.
5. Kết luận
Qua nghiên cứu 1100 học sinh, sinh viên năm thứ nhất được khám tại Trung tâm
Chẩn đoán Y khoa của Trường Cao đẵng Kỹ thuật Y tế II tháng 9 năm 2009, chúng tôi
thu được kết quả như sau:
- Tỷ lệ giảm thị lực chung là 21,6%, trong đó do tật khúc xạ chiếm 99,6% và
0,4% do đục thể thuỷ tinh.
- Giảm thị lực do tật khúc xạ là 21,5%, trong đó cận thị chiếm 17,2 %, loạn thị
chiếm 3,0 % và viễn thị chiếm1,3 %
- Thị lực không kính từ ĐNT 4m – 3/10 chiếm 59,1%