ĐẶC ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT CỦA NGÔN
NGỮ VÀ CỦA VĂN HÓA VIỆT, TRUNG ẢNH HƯỞNG
TỚI VIỆC SỬ DỤNG, TIẾP THU TIẾNG VIỆT TRONG
QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRUNG QUỐC
THE LANGUAGE AND CULTURAL SIMILARITIES AND DIFFERENCES
AFFECTING THE ACQUISITION AND USE OF VIETNAMESE OF CHINESE
STUDENTS
NGUYỄN NGỌC CHINH – NGUYỄN HOÀNG THÂN
Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Việt Nam - Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông. Hai nước có nhiều đặc điểm tương đồng và dị biệt
về ngôn ngữ và văn hóa do sự giao lưu tiếp xúc từ lâu đời. Nghiên cứu đặc điểm này là một yêu cầu
cần thiết, có ý nghĩa quan trọng đối với vấn đề so sánh, đối chiếu ngôn ngữ hiện nay. Đặc biệt là càng
có ý nghĩa đối với giảng dạy tiếng Việt cho người Trung Quốc và giảng dạy tiếng Hán cho người Việt
Nam. Mục đích của bài viết này là nhằm nghiên cứu đặc điểm tương đồng và dị biệt của ngôn ngữ và
văn hóa Việt Trung và ảnh hưởng của nó tới việc sử dụng, tiếp thu tiếng Việt trong quá trình học tập
của LHS Trung Quốc.
ABSTRACT
As two neighbouring countries, Vietnam and China share the similarities and differences in language
and culture due to the long-term contact. Therefore, a study of these characteristics is necessary for the
comparison and contrast of the languages. It is even more important for the teaching of Vietnamese to
the Chinese and the Chinese to Vietnamese. The purpose of this articles is to investigate the
similarities and differences of the Vietnamese-Chinese languages and cultures as well as their impact
on the acquisition and use of Vietnamese by the Chinese students.
1. Đặt vấn đề
Với sự hội nhập toàn cầu hoá, đất nước Việt Nam cũng như tiếng Việt ngày càng được nhiều
người trên nhiều quốc gia biết đến, trong đó có sinh viên nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân
(CHDCND) Trung Hoa. Du lịch Việt Nam và học tiếng Việt là một nhu cầu đối với người dân Trung
Quốc nói chung, đối với sinh viên Trung Quốc nói riêng. Trong những năm gần đây, số học sinh các
đi
去 qù
ngồi
坐 zuò
ăn
吃 chī
Trong những từ song âm tiết, đa âm tiết, ranh giới giữa các âm tiết cũng rất rõ, khả năng tách
các âm tiết rất lớn.
Tiếng Hán
Tiếng Việt
văn học
文 学 wén xué
phương hướng
方 向 fāng xiàng
tuy nhiên
虽 然 sūi rán
chủ nghĩa xã hội
主 义 社 会 zhǔyì shè huì
2.1.1.2. Nhạc tính phong phú
Ngữ âm Hán ngữ và Việt ngữ đều có thanh điệu cao thấp; thanh điệu cũng là yếu tố tạo ra ý
nghĩa từ vựng, có ngữ điệu trầm bổng, nhanh chậm.
Tiếng Hán
lāng, láng, lǎng, làng, lang
Tiếng Việt
lang, làng, láng, lảng, lãng, lạng
Từ Hán, Việt phần lớn là song âm tiết (chẵn) và đơn âm tiết (lẻ) nên dễ tạo sự cân đối nhịp
nhàng, hài hoà trong ngôn ngữ nói và viết, văn vần cả văn xuôi.
Tiếng Hán
Tiếng Hán
Tiếng Việt
văn, học, văn học
文 wén, 学 xué, 文 学 wén xué
nhân, loại, nhân loại
人 rén, 类 lèi, 人 类 rén lèi
Trong các từ trên, các âm tiết “wén”, “xué”, “rén”, “lèi” cũng chính là các hình vị.
2.1.1.6. Thành phần cấu trúc âm tiết
Âm tiết trong tiếng Việt và tiếng Hán do 5 thành phần cấu tạo nên: thuỷ âm-giới âm-chính
âm-chung âm-thanh điệu
Chính âm
Thuỷ âm
Giới âm
Chung âm Thanh điệu
Nguyên âm đơn
Nguyên âm đôi
Ví dụ:
Tiếng Hán
良 liáng
说 明 shuō míng
Tiếng Việt
lương
thuyết minh
Sáu điểm trên đây chủ yếu nói về điểm tương đồng của 2 ngôn ngữ Hán và Việt. Dưới đây
trình bày về những điểm tương dị.
2.1.1.7. Khả năng kết hợp giữa các thành phần của âm tiết:
Số lượng âm tiết có thể có (số âm tiết khả năng) của Việt ngữ vượt xa Hán ngữ. Việt ngữ có
trên 18000 âm tiết, Hán ngữ chỉ có 4000 âm tiết. Số lượng âm tiết thực có của Việt ngữ là khoảng trên
Âm Hán Việt
An (không dấu)
Hoà (thanh huyền)
Thái (thanh sắc)
Cổ (thanh hỏi)
Mãi (thanh ngã)
Cộng (thanh nặng)
Âm Hán
Ān (thanh 1) 安
Hé (Thanh 2) 和
Tài (thanh 4) 太
Gǔ(thanh 3) 古
Mǎi (thanh 3) 买
Gòng(thanh 4) 共
Khi học tiếng Việt sinh viên Trung Quốc thường nhầm các dấu thanh, đặc biệt thường lẫn lộn
thanh hỏi và thanh nặng trong khi nói và nhầm lẫn thanh huyền và thanh sắc (do nhầm lẫn dấu thanh
tiếng Việt với dấu thanh Trung Quốc); cần chú ý áp dụng qui tắc trên để hướng dẫn cho sinh viên Trung
Quốc. Cố nhiên, do sự biến đổi của hệ ngữ âm Hán ngữ mà các qui tắc trên đây không còn đúng cho
mọi trường hợp ngoại lệ, và có nhiều trường hợp Hán ngữ có nhiều thanh, Việt ngữ chỉ có một thanh.
* Chuyển phụ âm đầu, phụ âm cuối
Âm Hán Việt
Âm Hán
đ-: đả, đông, đáp
d-: dǎ, dōng, dá 打 东 答
b-: bao, biến, binh
b-: bāo, biàn, bīng 包 变 兵
-m, -n: ám, tam, lan, tán
cũng sẽ gặp khó khăn khi thực hiện các thao tác chuyển dịch từ tiếng Hán sang tiếng Việt và ngược lại.
2.1.4. Đặc điểm tương đồng và dị biệt về mặt ngữ pháp
Ngữ tố tiếng Hán và ngữ tố tiếng Việt hầu hết là đơn âm, các ngữ tố kết hợp với nhau tạo
thành từ hợp thành (ghép), hoặc ngữ cố định. Phương thức cấu tạo từ của tiếng Hán và tiếng Việt căn
bản giống nhau.
2.1.4.1. Tính chất ngữ tố
- Ngữ tố thực (tự do và nửa tự do)
Tiếng Hán
天, 地, 人, 書, 白, 说
山 (水), 研 (究), 偉 (大)
- Ngữ tố hư (tự do và không tự do)
Tiếng Hán
的, 了, 是, 不, 啊
老, 她, 子
2.1.4.2. Phương thức cấu tạo từ
- Từ đơn thuần (đơn âm, song âm, đa âm)
Tiếng Hán
人, 山, 學, 是, 高, 紅, 的
伶 俐, 芭 黎, 西 班 牙
Tiếng Việt
trời, đất, người, sách, trắng, nói,
sơn (thuỷ), nghiên (cứu), vĩ (đại)
Tiếng Việt
của, rồi, vâng, không, ạ
lão, ả, con
Tiếng Việt
sử Trung Quốc và Việt Nam có những mối liên hệ phong phú, tất nhiên cũng có nhiều điểm khác nhau
rất tinh tế. Nói chung, những qui định về lễ nghi, phong tục, cách ứng xử của người Trung Quốc ngày
nay vẫn còn phức tạp hơn Việt Nam. Điều này cũng có những ảnh hưởng nhất định đến việc học tiếng
Việt của sinh viên Trung Quốc.
Nhìn chung, tiếng Việt và tiếng Hán là các ngôn ngữ tiêu biểu của loại hình ngôn ngữ đơn
lập. Chúng có những đặc điểm giống nhau cơ bản là: Từ không có biến đổi hình thái, trật tự từ và hư từ
có vai trò quan trọng trong việc diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp. Sinh viên Trung quốc khi học tiếng Việt có
lợi thế hơn hẳn sinh viên các nước khác (chẳng hạn sinh viên Nga, Đức, Anh, Mỹ…) chính nhờ trong
tiềm thức tư duy đã có sẵn những kiểu cấu trúc lời nói được coi là hiện tượng đồng hình giữa ngôn ngữ
bản địa và ngôn ngữ đích. Đây là cơ sở giúp sinh viên Trung Quốc nắm được tiếng Việt khá nhanh
trong các kĩ năng nói, nghe, đọc, viết. Tuy nhiên, chính lợi thế này tạo ra những điểm yếu không dễ
khắc phục. Ví dụ, khi rèn luyện kĩ năng viết, sinh viên thường mắc các loại lỗi kiểu vượt tuyến hoặc
giao thoa theo cách nhìn của lý thuyết phân tích lỗi. Dưới đây là một số dẫn chứng và phân tích cụ thể
về sự ảnh hưởng của mối tương đồng dị biệt của ngôn ngữ và của văn hoá của hai quốc gia Việt Trung đến quá trình học tập tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc1.
Ví dụ 1: Văn học dân gian giáo dục cho chúng ta rất nhiều đạo lý làm người.
Ví dụ 2: Bây giờ giáo dục Trung Quốc đã được cải biến rất nhiều.
Ví dụ 3: Anh Quang có lẽ đi chợ bán thịt chó rồi, bạn nếu muốn tìm anh ấy thì đi chợ đi.
Kiểu lỗi về trật tự từ thường gặp ở sinh viên Trung Quốc chủ yếu là do lỗi giao thoa kết hợp
với lỗi vượt tuyến. Loại lỗi này xảy ra do sinh viên mượn những tri thức trật tự từ của tiếng mẹ đẻ để
cấu tạo lại ở ngôn ngữ đích (tiếng Việt) những thông báo có nội dung tương tự; hoặc lặp lại một số mô
hình đã học về trật tự từ để áp dụng cho những câu nội dung mới. Muốn khắc phục loại lỗi này, người
dạy cần phân tích cho học sinh những điểm giống nhau và khác nhau cơ bản giữa tiếng Việt và tiếng
Trung Quốc.
Ở ví dụ 1, sinh viên dùng sai kết hợp: tính từ + danh từ. Cụ thể là cụm từ “đạo lý làm người”
không thể kết hợp trực tiếp với “rất nhiều” mà phải kết hợp gián tiếp qua một danh từ có vai trò làm
yếu tố chính của ngữ như “bài học”, “tấm gương”,… Câu trên phải được diễn đạt như sau:
Văn học dân gian giáo dục cho chúng ta rất nhiều bài học về đạo lý làm người.
Ở ví dụ 2, người viết chưa phân biệt được trong trường hợp nào thì danh từ làm chủ ngữ phải
Trong phần này có tham khảo tài liệu của Hữu Đạt (Khoa Ngôn ngữ học, ĐHQGHN)
ở trước mỗi vế. Trong tiếng Trung Quốc thì khác hẳn. Các cặp nối lại xuất hiện sau khi thành phần C
của các nòng cốt C-V. Để hình dung sự khác nhau này, ta có thể sơ đồ hoá các kiểu câu đó như sau:
Tiếng Việt: Nếu C1-V1 thì C2-V2
Tiếng Trung Quốc: C1 nếu - V1 C2 thì V2
Đây chính là nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến những hiện tượng mắc lỗi như ở ví dụ 3.
Ví dụ 7: Nhiều khi chính là những việc nho nhỏ có thể xúc động tới lòng của con người.
Đặc điểm của loại lỗi này là: Về cơ bản người viết chưa hiểu được nghĩa của một số từ khó
(ví dụ các từ trừu tượng, từ đa nghĩa…) hoặc chỉ hiểu một vài nét nghĩa của từ nhưng chưa có khả năng
vận dụng nó trong các hoàn cảnh khác nhau. Lỗi ở câu trên là do LHS chưa phân biệt được nghĩa của
các từ: xúc động, tác động. Đặc biệt LHS chưa có khả năng phân biệt trường hợp “xúc động” là động
từ với “xúc động” là danh từ. Khi là động từ, “xúc động” có chức năng là vị ngữ, nhưng chỉ kết hợp
được với chủ ngữ là danh từ chỉ người (chỉ kết hợp với chủ ngữ là danh từ chỉ động vật hay sự vật
trong trường hợp dùng theo cách nhân hoá). Do đó loại câu này muốn chữa có thể có hai cách:
a. Thay từ “xúc động” bằng từ “tác động”.
b. Giữ nguyên từ này và thêm động từ vị ngữ vào trước nó.
Khi đó sẽ có các câu như sau:
Ví dụ 7a: Nhiều khi chính những việc nho nhỏ có thể tác động tới lòng người.
Ví dụ 7b: Nhiều khi chính những việc nho nhỏ có thể gây xúc động tới lòng người.
Ví dụ 8: Chùa Thiên Mụ không đẹp hơn ( ) gì cả.
Kiểu lỗi trên là một trong những kiểu lỗi phổ biến mà LHS Trung Quốc mắc phải khi đặt câu
với từ cho sẵn hoặc làm bài luận ngắn theo thể thức tự do. Nguyên nhân chính của loại lỗi này là do
LHS chưa nắm được những mô hình cấu trúc của các loại câu thường dùng như: câu có từ chỉ hướng
vận động, câu so sánh, câu có trạng ngữ chỉ phương tiện. Đối với ví dụ trên, cần tăng cường rèn luyện
cho LHS nắm vững mô hình câu so sánh:
A không đẹp hơn B gì cả/chút nào cả.
Nói tóm lại, việc học tiếng Việt đối với sinh viên Trung Quốc về cơ bản là có nhiều thuận lợi
do:
Các lỗi phát âm thanh điệu tiếng Việt của sinh viên nước ngoài, Nguyễn Văn Lai, Ngôn ngữ số
4 năm 1974.
[3]
Các yếu tố phi ngôn ngữ và việc dạy-học ngoại ngữ, Kiều Thị Thu Hương, Ngôn ngữ, số
9/2001.
[4]
Dạy tiếng Việt với tư cách một ngoại ngữ, PGS.TS. Mai Ngọc Chừ, Ngôn ngữ số 5/2002.
[5]
Diệp Quang Ban (chủ biên), Hoàng Văn Thung (1996), Ngữ pháp tiếng Việt T1, T2-NXB Giáo
dục - HN.
[6]
Lỗi loại từ trong tiếng Việt của ngưòi nước ngoài, Nguyễn Thiện Nam, Electronic Journal of
Foreign Languages Teaching, 2004, Vol. 1, No. 1, pp.81-88.
[7]
Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB ĐH Quốc gia HN.
[8]
Nói Tiếng Việt (Giáo trình dành cho LHS Trung Quốc), PGS.TS. Nguyễn Phong Nam (chủ