Trường CĐCĐ Hải Phòng Báo cáo thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đánh
dấu bước ngoặt trong tiến trình chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Sự
kiện này sẽ đem lại những tác động mạnh mẽ và sâu rộng đến mọi lĩnh vực của
đời sống kinh tế - xã hội với những thuận lợi và khó khan đan xen. Ngành BCVT
& CNTT là ngành kinh tế kỹ thuật mũi nhọn, động lực quan trọng cho phát triển;
nhưng đó cũng là một trong những ngành chịu tác động mạnh nhất của những cơ
hội và thách thức tới việc tham gia WTO.
Vai trò của BCVT & CNTT trong hội nhập được thể hiện rõ nét qua quá
trình đàm phán kiên trì, gay go và phức tạp để tham gia hội nhập WTO. Nhìn
nhận một cách khách quan, việc mở rộng thị trường viễn thông, dịch vụ chuyển
phát nhanh và dịch vụ máy tính phù hợp với xu thế hội nhập của đất nước. Do
tiềm lực vốn, công nghệ và chất lượng nguồn lực còn hạn chế, nguy cơ các doanh
nghiệp Việt Nam bị thua thiệt và bị mất mảng thị trường tiềm năng là không nhỏ.
Do vậy chính phủ luôn cân nhắc và có biện pháp khắc phục xử lý kịp thời, đưa ra
những quyết định mang tính chiến lược và thực tiễn.
Nằm trong số các công ty tham gia vào ngành BCVT, Bưu chính Viettel
luôn sáng tạo không ngừng, luôn có những đột phá, tạo nên những cú hích cho sự
tăng trưởng vượt bậc, cũng như những thay đổi mang tính cách mạng của thị
trường viễn thông, nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO. Bưu chính Viettel vẫn
còn là một doanh nghiệp trẻ, song luôn có những quyết định táo bạo đầy đột phá.
Công ty sẵn sàng đương đầu và vượt thách thức tạo động lực thúc đẩy cạnh
tranh. Điểm nổi bật trong thành công của Viettel không phải là những con số ấn
tượng về phát triển thuê bao, tăng doanh thu... mà phải nói đến tính chiến lược và
sáng tạo không ngừng trong các quyết định kinh doanh. Điều này được thể hiện
rõ trong việc táo bạo mở rộng thêm các loại hình kinh doanh và thị trường kinh
doanh, đầu tư ra nước ngoài để cung cấp dịch vụ viễn thông. Từ đó xóa độc
quyền doanh nghiệp, thúc đẩy cạnh tranh và hợp tác trong thị trường Việt Nam.
Đàm Thị Hường 1 CQDN07.2
Trường CĐCĐ Hải Phòng Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- CNTT: Công nghệ thông tin
- đ: đồng
- ng: người
- ĐH: Đại học
- CĐ- TC: Cao đẳng- trung cấp.
- LĐ: Lao động
- CP: chi phí
Đàm Thị Hường 3 CQDN07.2
Trường CĐCĐ Hải Phòng Báo cáo thực tập tốt nghiệp
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
1.1. Khái niệm, vị trí, chức năng và nhiệm vụ của phân tích hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh
Doanh nghiệp là một hạt nhân kinh tế, là một hệ thống sản xuất kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ. Hoạt động của doanh nghiệp có thể chia thành hai giai đoạn:
+ Giai đoạn phục vụ sản xuất tức là: sáng tạo của cải vật chất và dịch vụ
+ Giai đoạn hoạt động tiêu thụ tức là: phân phối các hàng hóa dịch vụ cho
các thành phần có nhu cầu trong xã hội
Để đánh giá kết quả của hoạt động kinh doanh người ta đưa ra các khái niệm
sau:
1.1.1. Khái niệm phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.1.1. Khái niệm về phân tích:
Phân tích là đánh giá quá trình hướng đến kết quả hoạt động kinh doanh, có
thể là kết quả kinh doanh đã đạt được hoặc kết quả của các mục tiêu trong tương
lai gần cần phải đạt được
1.1.1.2. Khái niệm hiệu quả:
Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh trình
độ sử dụng và năng lực quản lý các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để hoạt
động sản xuất kinh doanh đạt kết quả cao với chi phí thấp nhất.
Theo quan điểm mục đích cuối cùng thì hiệu quả hoạt động kinh doanh và
Đàm Thị Hường 5 CQDN07.2
Trường CĐCĐ Hải Phòng Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nhiệm vụ trước tiên của phân tích là đánh giá và kiểm tra khái quát giữa kết
quả đạt được so với các mục tiêu kế hoạch, dự toán, định mức... đã đặt ra để
khẳng định tính đúng đắn và khoa học của chỉ tiêu xây dựng, trên cơ sở một số
mặt chủ yếu của quá trình hoạt động kinh doanh.
Ngoài quá trình đánh giá trên, phân tích cần xem xét, đánh giá tình hình
chấp hành các quy định, các thể lệ thanh toán, trên cơ sở tôn trọng pháp luật của
Nhà nước ban hành và luật kinh doanh Quốc tế.
Thông qua quá trình kiểm tra, đánh giá, người ta có được cơ sở là cơ sở định
hướng nghiên cứu sâu sắc hơn các bước sau, nhằm là rõ các vấn đề mà doanh
nghiệp cần quan tâm.
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng của các chỉ tiêu và tìm nguyên nhân gây
nên các mức độ ảnh hưởng đó.
Sự biển động của các chỉ tiêu là do ảnh hưởng trực tiếp của các nhân tố gây
nên, do đó ta phải xác định trị số của các nhân tố và tìm nên nguyên nhân gây
nên biến động của nhân tố đó.
- Đề xuất giải pháp nhằm khai thác tiềm năng và khắc phục những tồn tại
yếu kém của quá trình hoạt động kinh doanh.
- Xây dựng phương án kinh doanh căn cứ vào mục tiêu đã định
Định kỳ doanh nghiệp phải tiến hành kiểm tra và đánh giá trên mọi khía
cạnh hoạt động, đồng thời căn cứ vào các điều kiện tác động ở bên ngoài, như
môi trường kinh doanh hiện tại và tương lai, để xác định vị trí của doanh nghiệp
đang đứng ở đâu và hướng đi đâu, các phương án kinh doanh có còn thích hợp
hay không? Nếu không phù hợp phải điều chỉnh cho kịp thời.
Nhiệm vụ của phân tích nhằm xem xét, dự báo,dự toán có thể đạt được trong
tương lai rất thích hợp với chức năng hoạch định các mục tiêu của doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường.
Đàm Thị Hường 6 CQDN07.2
Trường CĐCĐ Hải Phòng Báo cáo thực tập tốt nghiệp
biến động các chỉ tiêu kết quả đầu ra trong hoạt động kinh doanh.
+ Cung cấp tài liệu phân tích kết quả sản xuất - kinh doanh, các dự báo tình
hình kinh doanh sắp tới, các kiến nghị theo trách nhiệm chuyên môn đến lãnh
đạo và các bộ phận quản lý doanh nghiệp.
* Phân tích các yếu tố đầu vào –C
Thường phân tích các chỉ tiêu chính như: lao động, vốn, chi phí,...
Nhiệm vụ của việc phân tích các yếu tố đầu vào:
+ Thu thập được các thông tin số liệu đã và đang diễn ra về các chỉ tiêu phản
ánh các yếu tố đầu vào trong quá trình kinh doanh từ các bộ phận liên quan.
+ Phân tích biến động của các yếu tố đầu vào, so sánh với các năm trước,
với cùng kì của năm trước, tìm ra mối liên hệ trong quan hệ ấy với các chỉ tiêu
của kết quả đầu ra theo thời gian và theo kế hoạch được giao. Xác định các
nguyên nhân tích cực và tiêu cực đến các chỉ tiêu yếu tố đầu vào của quá trình
kinh doanh. Đây cũng là quá trình sẽ cung cấp thông tin cho nhà quản trị về việc
sử dụng các yếu tố đầu vào và các dự báo trong tương lai đối với doanh nghiệp.
1.2. Hệ thống chỉ tiêu phân tích, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.2.1. Phương pháp phân tích
Có rất nhiều phương pháp được dùng trong việc phân tích hoạt động kinh
doanh. Song các phương pháp cơ bản hay được sử dụng là:
Phương pháp so sánh: là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân
tích hoạt động kinh doanh. Người ta có thể dùng các kỹ thuật so sánh như:
Đàm Thị Hường 8 CQDN07.2
Trường CĐCĐ Hải Phòng Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- So sánh bằng số tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ thực tế
với kỳ gốc của các chỉ tiêu, kết quả so sánh biểu hiện khối lượng quy mô của các
hiện tượng kinh tế.
- So sánh bằng số tương đối: là kết quả của phép chia, giữa trị số của kỳ
phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu, kết quả so sánh biểu hiện kết cấu, mối
quan hệ, tốc độ phát triển, mức phổ biến của các hiện tượng kinh tế.
- So sánh bằng số bình quân: số bình quân là dạng đặc biệt của số tuyệt đối,
- Tỷ suất lợi nhuận trước thuế:
x100%
Tỷ số này cho biết: Lợi nhuận trước thuế chiếm bao nhiêu % trong tổng
doanh thu của doanh nghiệp.
- Hiệu quả sử dụng TSCĐ:
Tỷ số này cho biết: kết quả kinh doanh thu được so với TSCĐ của doanh
nghiệp sẽ có giá trị sử dụng là bao nhiêu
+ Các chỉ tiêu năng suất lao động
- Năng suất lao động theo doanh thu:
Chỉ tiêu này cho biết: doanh thu bình quân do 1 lao động làm ra.
Đàm Thị Hường 10 CQDN07.2
Tỷ suất lợi nhuận trước
thuế
Lợi nhuận trước thuế
Doanh thu
=
Hiệu quả sử dụng TSCĐ
Tổng TSCĐ
Doanh thu
=
Tỷ suất lợi nhuận gộp
Lợi nhuận gộp
Doanh thu
=
Năng suất lao động theo doanh thu
Doanh thu
Tổng số lao động
=
Trường CĐCĐ Hải Phòng Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Năng suất lao động theo chi phí:
Từ một trung tâm chịu trách nhiệm phát hành báo chí cho các đơn vị Quân
đội ,đến nay Bưu chính Viettel đã trở thành một doanh nghiệp kinh doanh đa
dịch vụ với mức tăng doanh thu mỗi năm hàng chục tỉ đồng.
Ngày 01/7/1997, Công ty viễn thông quân đội ( nay là Tập đoàn viễn thông
Quân đội Viettel ) đã quyết định thành lập bộ phận phát hành báo chí, là tiền thân
của Bưu chính hiện nay.Vào thời điểm đó, Bưu chính Viettel mới chỉ cung cấp
dịch vụ phát hành báo tại các cơ quan trực thuộc Bộ Quốc Phòng, nhân sự chỉ có
5 người, doanh thu và lợi nhuận rất ít.Không lâu sau đó, từ năm 1998 đến năm
2000, Bưu chính Viettel đã đẩy mạnh nghiên cứu thị trường, từng bước mở rộng
Đàm Thị Hường 12 CQDN07.2
Trường CĐCĐ Hải Phòng Báo cáo thực tập tốt nghiệp
mạng lưới ở nhiều tỉnh, thành phố khác trong đó có Hải Phòng, mở thêm dịch vụ
chuyển phát nhanh trong nước và quốc tế.
Tới nay sau hơn 10 năm xây dựng và trưởng thành, công ty Bưu chính
Viettel chi nhánh Hải Phòng phát triển nhanh chóng kinh doanh trong 3 lĩnh vực:
chuyển phát nhanh, phát hành báo chí và làm đại lý dịch vụ viễn thông của Tập
đoàn viễn thông Viettel. Đội ngũ cán bộ chỉ có 5 người, nay đã tăng lên trên 100
người.
Hơn 10 năm hình thành và phát triển, công ty luôn cân bằng thu chi, có lãi
và đạt mức tăng trưởng cao. Năm 2007 Bưu chinh Viettel đạt doanh thu hơn 9,1
tỷ đồng và tăng 15% so với năm 2000. Thu nhập của người lao động từ đó mà
cũng tăng lên đáng kể.Nếu như năm 2007, thu nhập bình quân đầu người đạt trên
1,7 triệu đồng/ người, thì đến năm 2008 thu nhập bình quân đạt 3,5 triệu đồng/
người, tức là tăng lên 100%. Bưu chính Viettel đã vươn lên trở thàn doanh
nghiệp đứng thứ 2 ( chỉ sau dịch vụ EMS của Tập đoàn VNPT ) về thị phần
chuyển phát nhanh trong nước.
Năm 2008 Bưu chính Viettel coi dịch vụ chuyển phát nhanh là mũi
nhọn.Đồng thời sẽ bước vào cổ phần hóa công ty này, sau đó tìm kiếm đối tác để
liên doanh và ký kết các hợp đồng cung cấp các dịch vụ bưu chính chiều về. Bên
cạnh đó sẽ nghiên cứu để mở các trung tâm khai thác bưu chính ở nước ngoài,
- Dịch vụ phát hành báo chí
- Dịch vụ viễn thông 097, 098, 0167, 0168, 0169
- Chuyển bưu phẩm, bưu kiện trong nước và quốc tế
Trong thời gian tới Bưu chính Viettel không ngừng mở rộng các loại hình
kinh doanh dịch vụ mới như:
Đàm Thị Hường 14 CQDN07.2
Trường CĐCĐ Hải Phòng Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- In ấn
- Kho vận
- Thương mại điện tử
- Tài chính bưu điện
2.1.3. Đặc điểm tổ chức bộ máy công ty
2.1.3.1. Mô hình tổ chức của bộ máy công ty
Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến, có đặc trưng
cơ bản là duy trì hệ thống quản lý giữa giám đốc với phó giám đốc, đồng thời kết
hợp được với các phòng ban chức năng hình thành nên bộ máy hoạt động được
chuyên môn hóa,có sự thống nhất, đồng bộ.
Công ty Bưu chính Viettel là một thành viên của Tập đoàn viễn thông Quân
đội, chịu sự quản lý của Tập đoàn. Do đó giám đốc sẽ là người chịu trách nhiệm
báo cáo tình hình, kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh lên ban lãnh đạo
cấp cao hơn.
Các phó giám đốc có nhiệm vụ giám sát những công việc dưới sự quản lý
của mình, báo cáo kịp thời lên giám đốc công ty về mọi mặt hoạt động của công
ty. Do đặc thù của công ty là công ty thuộc khối quân sự nên có Phó giám đốc
chính trị sẽ là người chịu trách nhiệm về quản lý nhân sự trong công ty, quá trình
giáo dục các điều lệ về Đảng, chính trị theo đúng như quy định trong khối ngành
Quân sự.
Đàm Thị Hường 15 CQDN07.2
Trường CĐCĐ Hải Phòng Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Bảng 01: Mô hình tổ chức quản lý công ty
Trường CĐCĐ Hải Phòng Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Phối hợp, tác nghiệp với các bộ phận, đơn vị có liên quan để thực hiện
nhiệm vụ chung của ban giám đốc cũng như Tập đoàn đã đề ra.
-
b) Phòng kinh doanh
Bưu chính Viettel kinh doanh đa ngành nghề trong lĩnh vực bưu chính. Do
vậy phòng kinh doanh có nhiệm vụ quan trọng trong việc giám sát các hoạt động
kinh doanh của Công ty. Trong đó có bổ nhiệm các chức vụ cho cán bộ riêng biệt
phụ trách các mảng chính như: CPN, PHB và in ấn,dịch vụ VT…- Có nhiệm vụ
nghiên cứu, xây dựng phương pháp Marketing để phát triển thị trường nhằm
chiếm được thị phần cao nhất.
- Tiến hành thực hiện các chương trình Marketing trực tiếp: như quản lý
khách hàng, thông qua việc quản lý nơi làm việc, công nợ, thuê bao…
- Nghiên cứu, mở rộng thị trường, tìm hiểu các đối tác mới, cải tổ các bưu
cục, bám sát thị trường…
c) Phòng kế toán
- Kiểm tra, thu hồi một cách chính xác, kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh từ các phòng ban, kết quả kinh doanh, tập hợp toàn bộ số liệu. Trên cơ sở
đó, cung cấp thông tin kịp thời và đưa ra quyết định, phản ánh kinh doanh tối ưu,
hiệu quả nhằm đem lại lợi nhuận cao nhất cho công ty.
- Tiến hành quyết toán công trình, kiểm kê tài sản, tiền vốn, việc thu chi
theo đúng chế độ quy định của Nhà nước, báo cáo lên giám đốc Công ty cũng
như Tập đoàn.
- Tổ chức hạch toán kế toán, đối chiếu thu hồi công nợ của khách hàng
nhanh chóng.
Đàm Thị Hường 17 CQDN07.2
Trường CĐCĐ Hải Phòng Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Phối kết hợp với các phòng ban khác để kiểm tra tình hình sản xuất, kinh
doanh trong công ty báo cáo kịp thời lên giám đốc.
d) Phòng công tác Đảng, chính trị
trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh, nằm trong tốp những Doanh nghiệp đi đầu
trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông. Trong các năm qua công ty không ngừng
mở rộng địa bàn hoạt động, thay đổi chính sách về giá và sản phẩm, đưa mức
doanh thu ngày một tăng trưởng đảm bảo thu nhập cho người lao động, tạo thế và
lực cho công ty trên thị trường cạnh tranh gay gắt. Những bước đột phá của Bưu
chính Viettel trong thời gian qua được thể hiện rõ trong mức doanh thu và lợi
nhuận của Công ty, được chỉ rõ trong bảng 02.
Bảng 02: Một số kết quả đạt được của Công ty Bưu chính Viettel trong
giai đoạn 2007- 2009.
Chỉ tiêu 2007 2008 2009
Tổng doanh thu (đ) 7.967.374.813 9.117.863.736 17.512.416.886
Tổng lợi nhuận (đ) 2.539.436.649 2.439.382.845 3.737.964.448
Tổng vốn đầu tư 172.987.400 153.898.900 978.120.000
Tổng nộp NSNN (đ) 511.082.972 865.467.906 1.025.408.060
Tổng số lao động (ng) 95 81 105
Tổng thu nhập bình
quân đầu người (đ)
1.332.869 2.525.388 4.089.948
Như vậy, tổng quan về tình hình sản xuất, kinh doanh, Bưu chính Viettel đã
có kết quả thực hiện vượt mức kế hoạch đặt ra giữa các năm. Năm 2009, Bưu
Đàm Thị Hường 19 CQDN07.2
Trường CĐCĐ Hải Phòng Báo cáo thực tập tốt nghiệp
chính Viettel đặt ra kế hoạch doanh thu tăng 84,25% so với năm 2008 thực tế đã
tăng 92,07%. Quá trình hoạt động kinh doanh ngày càng được mở rộng phát
triển. Điều này được thể hiện rõ thông qua số vốn đầu tư vào hoạt động sản xuất
kinh doanh năm 2009 tăng gấp 5,7 lần so với năm 2007, tổng nộp ngân sách nhà
nước năm 2009 tăng 514.325.088 đồng so với năm 2007. Cũng do hoạt động sản
xuất kinh doanh ngày càng được mở rộng do vậy Công ty tuyển dụng thêm nhiều
lao động, tăng lên trên 100 người. Mức thu nhập của người lao động tăng cao, từ
chỗ chỉ có 1.332.869 đồng vào năm 2007 đã tăng mạnh và đạt mức 4.089.948
Việt Nam trên trường Quốc tế; đồng thời thể hiện cam kết mạnh mẽ của chính
phủ Việt Nam về mở cửa thị trường và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn
cầu.
- Sự kiện Việt Nam trở thành ủy viên không thường trực của Liên Hợp
Quốc có tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế, tạo ra nhiều cơ hội hợp tác đầu tư…
Nhu cầu sử dụng các dịch vụ viễn thông tăng nhanh.
*) Môi trường công nghệ:
- Công nghệ điện tử viễn thông phát triển nhanh, nhiều công nghệ mới xuất
hiện.
- Giá thiết bị viễn thông có xu thế giảm, cho phép giảm suất đầu tư.
b) Môi trường vi mô:
Hiện đang có 2 nhà cung cấp dịch vụ viễn thông chính bên cạnh Viettel, mỗi
một doanh nghiệp có những nhược điểm riêng và đây chính là cơ hội để Bưu
chính Viettel phát triển.
-VNPT: có bộ máy cồng kềnh, kém hiệu quả trong phối hợp và còn quản lý
phân tán ở nhiều cấp,
- EVN Telecom: Nhân lực viễn thông thiếu và còn rất yếu kém.
2.2.1.2. Những thách thức
*) Chính sách của Nhà nước:
Đàm Thị Hường 21 CQDN07.2
Trường CĐCĐ Hải Phòng Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Chính sách của Nhà nước về BCVT sẽ có nhiều thay đổi theo hướng mở cửa
cho các doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam.
Việt Nam là thành viên WTO, các Công ty nước ngoài có thể cung cấp dịch
vụ thẳng đến khách hàng trong nước.
*) Công nghệ:
Công nghệ phát triển mạnh, nhiều công nghệ mới xuất hiện, do đó đội ngũ
kỹ thuật chưa nắm bắt và làm chủ được công nghệ kịp thời.
*) Chất lượng dịch vụ:
- Nguy cơ mất khách hàng: mâu thuẫn của thị trường, xu hướng của khách
quan tâm tới tiềm lực của các đối thủ cạnh tranh, từ đó khác phục những
yếu kém chớp thời cơ phát triển.
2.2.2. Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Bưu
chính Viettel chi nhánh Hải Phòng.
2.2.2.1. Phân tích doanh thu từng lĩnh vực kinh doanh.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh thu là một yếu tố quan trọng
xác định quy mô hoạt động, phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Doanh thu cao chứng tỏ hoạt động kinh doanh của công ty ngày được mở rộng
phát triển hơn. Phân tích chỉ tiêu doanh thu là một trong những chỉ tiêu rất cần
thiết để phân tích về hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh
nghiệp trong thời gian qua.
Bưu chính Viettel, là công ty kinh doanh đa ngành nghề thuộc ngành viễn
thông, do vậy doanh thu của Công ty được thu từ nhiều hoạt động hoạt động
khác nhau, với mức tăng trưởng đáng ngờ.
Trong giai đoạn vừa qua công ty đã đẩy mạnh việc mở rộng các loại hình
kinh doanh, từ chỗ chỉ có 3 ngành nghề kinh doanh chính nay đã có thêm nhiều
ngành nghề mới đưa mức doanh thu của doanh nghiệp tăng lên mạnh. So sánh
giữa năm 2009 và 2008, tổng doanh thu của doanh nghiệp tăng trưởng lên
192,07%.
Đàm Thị Hường 23 CQDN07.2
Trường CĐCĐ Hải Phòng Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trong đó: Chuyển phát nhanh tăng lên 4.912.888.761 đồng với mức tăng
trưởng 163,17%; phát hành báo tăng 163.571.464 đồng tương ứng với mức tăng
trưởng là 113,48%; viễn thông là ngành có mức doanh thu tăng mạnh nhất với
mức doanh thu năm 2008 là 126.707.723 đồng, sang năm 2009 đã phát triển đạt
mức 3.010.904.761 đồng, như vậy doanh thu ngành viễn thông năm 2009 so với
năm 2008 tăng 2.884.197.038 đồng tương ứng với mức tăng trưởng 2.376,26%.
Đây là mức tăng trưởng nhanh, mạnh thể hiện hiệu quả làm việc ngày càng tăng
của loại hình dịch vụ này trong thời gian qua cũng như trong thời gian tới đây.
Điều này được thể hiện qua bảng 03.