Báo cáo nghiên cứu khoa học PHÂN LUỒNG học SINH SAU TRUNG học cơ sở (THCS) và TRUNG học PHỔ THÔNG (THPT) góp PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN lực TỈNH ĐỒNG THÁP TRONG THỜI kỳ hội NHẬP - Pdf 33

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(39).2010

PHÂN LUỒNG HỌC SINH SAU TRUNG HỌC CƠ SỞ (THCS)
VÀ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (THPT) GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH ĐỒNG THÁP
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
STREAMING OF SECONDARY AND HIGH-SCHOOL GRADUATES -CONTRIBUTION TO THE IMPROVEMENT OF DONG THAP PROVINCE’S
WORKFORCE IN THE INTEGRATION PERIOD
Hồ Văn Thống
Phòng Giáo dục & Đào tạo Tháp Mười, Đồng Tháp

TÓM TẮT
Thời gian qua, việc phân luồng học sinh (HS) sau Trung học cơ sở (THCS) và Trung
học phổ thông (THPT) ở Đồng Tháp chưa tốt. Nguyên nhân của thực trạng trên có nhiều,
nhưng tập trung vào các lý do: cha mẹ và bản thân HS không muốn học Trung cấp nghề
(TCCN), mà chỉ muốn vào Đại học, Cao đẳng; mạng lưới trường nghề, TCCN của tỉnh chưa
đáp ứng yêu cầu về quy mô lẫn chất lượng; chính sách đãi ngộ cho công tác đào tạo và sử
dụng sau đào tạo chưa được quan tâm,... Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực địa phương
cần tăng cường các giải pháp: nâng cao nhận thức của cộng đồng, xã hội; làm tốt việc hướng
nghiệp cho HS lớp cuối cấp THCS, THPT; có chính sách và cơ chế phù hợp,…
ABSTRACT
Over the past few years, the streaming of secondary and high - school graduates in
Dong Thap Province has not achieved good results. There are several causes of this situation,
but the main reasons are that parents and even students themselves prefer university or college
education to vocational training. In fact, the province’s vocational school network has not met
the scale and quality requirements and the training policy and post-training employment have
not received proper considerations. In order to improve the quality of provincial workforce, it is
necessary to take drastic measures to raise the community’s awareness of the situation by
providing useful vocational guidance for the ninth and 12th graders as well as developing
appropriate policies and mechanisms.


Về yếu tố tâm lý - xã hội: Nguyện vọng nói chung của dân ta là muốn học để
“làm thầy” không thích “làm thợ”. Đa số các gia đình có con đi học đều muốn cho con
mình học lên đại học. Hầu hết học sinh đều muốn học hết THPT rồi học tiếp tục ngay
bậc đại học, coi đại học là con đường tươi sáng nhất để lập thân, lập nghiệp.
Về yếu tố giáo dục: Nhà nước chưa đầu tư đúng mức cho lĩnh vực đào tạo nghề.
Trường dạy nghề, trường TCCN chỉ tiếp nhận học sinh tốt nghiệp THPT không tuyển
học tốt nghiệp THCS. Xã hội, gia đình và người học chưa được giáo dục đầy đủ về vai
trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển cá nhân và sự hưng thịnh của đất nước.
Nhiều chế độ chính sách, nhiều cách đối xử xem thường những người có bằng cấp thấp.
Về tăng trưởng kinh tế chưa tạo ra nhiều việc làm: Thị trường lao động trong
nước chưa sôi động, thị trường xuất khẩu lao động chưa được khai thác có hiệu quả. Vì
trong thực tế nếu không học lên, khó có việc làm trong xã hội. Đa số học sinh sau khi
tốt nghiệp THCS không muốn vào luồng TCCN và dạy nghề vì sau khi ra trường:
Không tìm được hoặc khó tìm được việc làm; Nếu có việc làm thì thu nhập thấp; Khả
năng phát triển ít so với tốt nghiệp THPT [3].
Sự phân công ngành, nghề trong xã hội chưa tuân theo một tỷ lệ cơ cấu đội ngũ
nhân lực hợp lý. Hệ thống đào tạo nghề của tỉnh nói chung và của các huyện nói riêng
chưa đáp ứng nhu cầu thực tế đòi hỏi của xã hội.
Là một Tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đa số lao động là nông
nghiệp nên chưa nhận thức sâu sắc về nghề nghiệp thì việc phân luồng học sinh sau
THCS và THPT vào học các cơ sở dạy nghề, TCCN, Cao đẳng, Đại học, để đào tạo cơ
cấu đội ngũ nhân lực hợp lý tạo ra nguồn nhân lực cho quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của Tỉnh đến năm 2010 và những năm tiếp theo là hết sức cần thiết.
101


TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(39).2010

2. Đánh giá về phân luồng học sinh của Tỉnh trong thời gian qua
Hơn 20 năm qua, hệ thống giáo dục của Tỉnh phát triển mạnh ở tất cả các cấp

động. Họ tự tìm việc làm để nuôi bản thân và giúp đỡ gia đình. Một số ở nhà, một số đi
học các lớp bổ túc tại các TTGDTX, phần lớn học sinh ở nhà tham gia vào lao động
nông nghiệp giúp đỡ gia đình.
Thống kê, mỗi năm có khoảng 26.000 HS tốt nghiệp THCS và khoảng 10.000
HS tốt nghiệp THPT nhưng:
- Tuyển vào THPT 20.000 HS;
102


TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(39).2010

- Các trường Đại học, Cao đẳng, TCCN chỉ tiếp nhận: hơn 4.000 HS;
- Các Cơ sở dạy nghề chỉ tiếp nhận: 300 HS.
Như vậy, hàng năm có khoảng 11.700 học sinh tốt nghiệp THCS và THPT
không tiếp tục học lên, phải đi ngay vào thị trường lao động mà không qua đào tạo.
Luồng này ước tính khoảng 31%.
3. Kế hoạch phân luồng học sinh của Tỉnh sau cấp THCS và THPT
3.1. Quan điểm và phương hướng phân luồng học sinh
3.1.1. Quan điểm
Hiện nay, phần lớn quan điểm của cha mẹ và các em học sinh sau khi tốt nghiệp
THCS đều có nguyện vọng vào THPT và học sinh sau tốt nghiệp THPT đều có nguyện
vọng thi và học tiếp ở các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp, đó là
nguyện vọng chính đáng. Nhưng, nếu tất cả học sinh đều nhận thức như vậy, thậm chí
học sinh cho đó là con đường duy nhất thì không phù hợp với yêu cầu chung của xã hội
về nguồn nhân lực.
Phân luồng học sinh sau THCS và THPT là vấn đề bức xúc cần phải giải quyết,
nhưng không phải là việc chỉ riêng Ngành Giáo dục và Đào tạo mà cần có sự phối hợp
của tất cả các Ngành và Địa phương. Đây là vấn đề mang tính chiến lược nhằm đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh - xã hội của Tỉnh.
Do đó, việc phân luồng hợp lý học sinh sau khi tốt nghiệp THCS và THPT là

tuyển vào lớp 10 khoảng 16.317 học sinh, chiếm tỉ lệ từ 65 - 70%.
3.2.2. Luồng vào Đại học và Cao đẳng
Dự kiến tốt nghiệp THPT hàng năm trung bình đạt 50% so với đúng độ tuổi (18
tuổi) và tuyển vào Cao đẳng và Đại học 35% số học sinh tốt nghiệp THPT hàng năm.
Như vậy, dự báo dân số đúng độ tuổi 18 sắp tới khoảng 25.684 người thì số tốt nghiệp
THPT hàng năm khoảng 12.842 học sinh và tuyển vào Cao đẳng,Đại học 4.495. Với số
tuyển sinh Đại học, Cao đẳng hàng năm như trên thì đảm bảo đạt tỉ lệ trên 170 sinh
viện/1 vạn dân sau năm 2010 (tính từ năm 2010 đến 2013 số sinh viên 28.872/160 vạn
dân > 180 sinh viên/1 vạn dân).
3.2.3. Luồng vào Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề
Quy mô của các trường đào tạo TCCN và Cơ sở dạy nghề trong và ngoài tỉnh
ngày càng phát triển, đặc biệt năm 2010 các trường Trung cấp nghề của các huyện, thị,
thành phố trong tỉnh được xây dựng với quy mô trung bình 4 xưởng và 20 phòng học
thu hút mỗi năm khoảng 120 HS vào học nghề (trong đó huyện Hồng Ngự mới tách nên
chỉ tính 11 huyện, thị, thành phố) và Trường Cao đẳng nghề của Tỉnh tuyển trung bình
mỗi năm ổn định khoảng 700 học sinh (Năm 2009 Trường tuyển 700 học sinh). Trường
Trung học Y tế, Cao đẳng Cộng đồng, Đại học Đồng Tháp tăng cường đào tạo TCCN.
Như vậy, mỗi năm (ước tính từ năm 2010) số học sinh tốt nghiệp THCS và THPT dự
kiến tuyển vào TCCN tăng 2% (ổn định sau năm 2020) và vào Cơ sở dạy nghề ngoài
tỉnh khoảng 300 Hs, đồng thời căn cứ vào kết quả tuyển vào TCCN và dạy nghề thời
gian qua thì kế hoạch phân luồng năm 2013, học sinh sau THCS và THPT vào THCN là
12% khoảng 3.801 học sinh và dạy nghề khoảng 2.120 học sinh (6,69%).
Số học sinh còn lại sẽ tham gia các lớp nghề ngắn hạn tại các Trung tâm học tập
cộng đồng (TTHTCĐ) vào thị trường lao động hoặc vừa lao động vừa học tại các Trung
tâm giáo dục thường xuyên (TTGDTX).
3.3. Giải pháp phân luồng học sinh sau cấp THCS và THPT
3.3.1. Nâng cao nhận thức xã hội
Tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức xã hội về nghề nghiệp: tuyên truyền
trong và ngoài nhà trường để cho các bậc cha, mẹ học sinh và bản thân các em thấy rằng
việc học lên là chính đáng nhưng đồng thời cũng cần xem xét đến năng lực cá nhân và

Bên cạnh giúp học sinh tự đánh giá khả năng học tập của bản thân, việc xét đến
hoàn cảnh gia đình cũng rất cần thiết để chọn hướng đi cho phù hợp. Cần cho học sinh
thấy được có nhiều con đường, nhiều cách để có thể đạt được ước mơ của mình.
+ Giúp học sinh hiểu các hướng đi sau khi tốt nghiệp THCS, THPT.
Cần giúp học sinh hiểu được một cách đầy đủ và cụ thể về tất cả các hướng đi sau
khi các em tốt nghiệp THCS, THPT. Mỗi một hướng đi cần phải làm rõ các yêu cầu như
sau: đối tượng lao động của nghề, mục đích lao động của nghề; công cụ lao động của nghề
và điều kiện lao động của nghề …. Có như vậy mới có thể giúp học sinh nhận thức và có
một sự lựa chọn nghề đúng trên cơ sở đánh giá năng lực bản thân và các điều kiện khác.
- Các cơ sở dạy nghề, Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp,... kết hợp
với các trường THCS và THPT để sinh hoạt các buổi chuyên đề về hướng nghiệp cho
học sinh lớp 9 và cấp THPT. Các cơ sở đào tạo cần nâng cao chất lượng đào tạo nghề
nghiệp, xác định nguyên tắc đào tạo theo nhu cầu, đào tạo có địa chỉ; công bố tỷ lệ học
sinh học xong có việc làm. Mỗi cơ sở dạy nghề cần xác định danh sách doanh nghiệp,
đơn vị là đối tác chiến lược ổn định lâu dài trong việc tiếp nhận nguồn nhân lực đã được
đào tạo.
105


TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(39).2010

- Đa dạng hóa ngành nghề phù hợp với địa phương và tăng cường hoạt động của
các THTHCĐ, TTGDTX và trường Trung cấp nghề ở các huyện, thị, thành phố để phân
luồng học sinh sau THCS và THPT đi theo nhiều hướng khác nhau. Đối với trường
Trung cấp nghề cần thu hút học sinh tốt nghiệp THCS vào đào tạo một cách có hệ thống
để các em lấy học vấn trung học cùng với nghề trong vòng 3 – 4 năm sẽ tiết kiệm hơn
so với tuyến học sinh tốt nghiệp lớp 12. Một bộ phận học sinh sau THCS tham gia vào
thị trường lao động thu hút vào các lớp bổ túc văn hóa tại TTGDTX.
- Trước mắt cần tạo điều kiện thu hút chừng 70% học sinh tốt nghiệp THCS vào
học lớp 10 THPT. Khi phân luồng có sức hấp dẫn thì tỉ lệ vào lớp 10 giảm xuống còn



TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 4(39).2010

nghiệp, lấy đó làm căn cứ để phân luồng học sinh sau THCS và THPT, phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Tháp nói riêng và của cả nước nói chung trong hiện
tại, cũng như tương lai để phát triển nguồn nhân lực một cách hợp lý, tạo nền tảng quan
trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Phùng Đình Mẫn, Phan Minh Tiến, Trương Thanh Thúy. Một số vấn đề cơ bản về
hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[2] Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Truyền, Bùi Văn Quân. Một số vấn đề hướng nghiệp cho
học sinh phổ thông, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
[3] Đề án Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2006 - 2010.
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1276/QĐ - UBND.HC, ngày 28 tháng 8 năm
2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp).
[4] Phạm Minh Hạc (1999), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng thế kỷ XXI, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
[5] Đặng Quốc Bảo (2005), Quan điểm phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị
trường, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

107




Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status