BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO "HIỆU QUẢ
TRONG" Ở ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
MANAGEMENT MEANS TO IMPROVE "INTERNAL EFFICIENCY"AT THE
UNIVERSITY OF DANANG
LÊ ĐÌNH SƠN
Đại học Đà Nẵng TÓM TẮT
Chất lượng và hiệu quả đang là điểm yếu của giáo dục đại học nước ta. Thời gian gần đây Đại
học Đà Nẵng đã có nhiều hoạt động trong lĩnh vực chất lượng. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng
các nguồn lực trong đào tạo ("hiệu quả trong") là yếu tố gắn liền với chất lượng đào tạo thì còn
ít được quan tâm. Những phân tích về "hiệu quả trong" và biện pháp nâng cao "hiệu quả
trong" ở Đại học Đà Nẵng có thể góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh của nhà trường
trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.
ABSTRACT
Quality and efficiency are still weak points of Vietnam higher education. Recently, the
University of Danang has organized a number of quality management improvement activities.
However, its resource using efficiency in training ("internal efficiency"), a factor closely related
to training quality has not yet gained enough attention. The analysis in this paper on "internal
efficiency" and the means for improving "internal efficiency" at the University of Danang will be
a contribution to increasing competitive capability of UD in the current international integration. 1. Đặt vấn đề
Thừa nhận giáo dục (GD) là dịch vụ trong cơ chế thị trường (theo định hướng XHCN)
cũng có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh. Hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập WTO và tham gia
khá sâu rộng vào các cam kết của GATS, dòng chảy của GD xuyên quốc gia vào nước ta sẽ
khăn trong việc đo lường đầu ra cũng như lượng hóa mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra".
Như vậy, "hiệu quả trong" hay hiệu suất sử dụng các nguồn lực trong đào tạo được
xem như điều kiện cần để có hiệu quả. Các tiêu chí cụ thể được xem xét gồm: chi phí đào tạo;
sử dụng nguồn nhân lực trong đào tạo; sử dụng trang thiết bị và cơ sở vật chất (CSVC) phục
vụ đào tạo.
2.2. Phân tích hiệu quả trong của CSGD
Bản chất của việc phân tích hiệu quả là so sánh giữa chi phí và kết quả theo những mục
tiêu nhất định. Nói đến mục tiêu người ta luôn đề cập đến các chỉ số cụ thể về số lượng, chất
lượng, thời gian và nguồn lực.
Như đã nói trên, "hiệu quả trong" biểu thị sự đánh giá các nỗ lực của nhà trường nhằm
đạt tới mục tiêu đặt ra trong phạm vi các nguồn lực và thời gian cho trước. Các chỉ số về "hiệu
quả trong" chú trọng các hoạt động cụ thể bên trong của nhà trường, có xu hướng làm sao đạt
được kết quả với chi phí ít hơn, hay cùng một điều kiện đạt kết quả cao hơn. Tất nhiên, chất
lượng luôn là thước đo không thể thiếu khi xem xét hiệu quả.
* Khi phân tích "hiệu quả trong" của CSGD thường tính đến các chỉ số sau:
- Các hiện tượng tốn kém vô ích như tỷ lệ sinh viên (SV) bỏ học; tỷ lệ SV chậm tiến độ,
học lại; tỷ lệ SV không tốt nghiệp, không hoàn thành khóa học;…
- Kết quả nâng chất lượng đào tạo trong trường hợp chi phí được giả sử là cố định như
thực hiện đổi mới phương pháp dạy học nhằm tăng tính tích cực học tập của SV, tự học và tự
nghiên cứu của SV; tỷ lệ SV tham gia các đề tài NCKH ngay trong quá trình đào tạo; số giờ
học trung bình mà mỗi SV thực dành cho một môn học/ năm học/ cả khoá học;…
- Cơ cấu các khoản chi phí cho hoạt động giáo dục, đào tạo: tiền trả thù lao cho giảng viên
(GV); chi phí cho giáo trình và tài liệu tham khảo; chi phí thực tập, thí nghiệm; chi phí đổi mới
chương trình, bồi dưỡng GV; chi phí hành chính quản lí; …
- Các tỷ lệ nhằm sử dụng hợp lý các nguồn lực: tỷ lệ HS trên GV; số SV trung bình cho
một lớp học/ CSGD; định mức giờ giảng dạy và nghiên cứu cho mỗi GV; chi phí thường
xuyên trung bình cho mỗi SV; tỷ lệ giờ thực tế sử dụng CSVC- TB phục vụ cho dạy học; tỷ lệ
SV đến thư viện;…
* Các phương pháp chủ yếu thường được sử dụng khi phân tích "hiệu quả trong":
- Phương pháp phân tích tình trạng và xu hướng biến đổi của các chỉ số "hiệu quả trong"
tài liệu tham khảo kèm theo lên mạng đang tiến hành tích cực ở các trường thành viên đã giúp
SV chủ động hơn trong hoạt động tự học.
- Tỷ lệ SV làm luận văn tốt nghiệp tăng lên: từ khoảng 20% (2001) -> 35% (2005).
Riêng SV trường Đại học Bách khoa: 100% làm đồ án tốt nghiệp.
- Tỷ lệ giữa chi phí quản lý hành chính và chi phí cho hoạt động dạy học và nghiên cứu
khoa học (giáo trình, tài liệu tham khảo; thực tập, thí nghiệm, lương GV, chi phí đổi mới
chương trình, bồi dưỡng GV…) giảm. Từ 2001 - 2005 số lượng cán bộ quản lý (CBQL), phục
vụ chỉ tăng 10% trong khi số lượng giáo viên tăng 30%.
- Định mức giờ giảng dạy cao, không đồng đều ở các chuyên ngành (cao hơn định mức
qui định từ 150% - 300%).
* Các điểm yếu
- Tỷ lệ SV chậm tiến độ ở một số ngành còn cao (đặc biệt các ngành kỹ thuật) gây lãng
phí về nguồn tài lực và vật lực.
- Phương pháp dạy học chậm đổi mới. Vì vậy, không phát huy được tính tích cực của
SV, không quản lý được giờ tự học, tự nghiên cứu của SV. Chất lượng đào tạo, do vậy không
tăng tương xứng với đầu tư CSVC.
- Tỷ lệ SV tham gia các đề tài NCKH ngay trong quá trình đào tạo thấp, đặc biệt ở các
chuyên ngành kỹ thuật (Đại học Bách khoa: 2000: 37/7119 SV; 2005: 65/10.650 SV).
- Nội dung chương trình chậm đổi mới, vì vậy việc giảng dạy càng trở nên quá tải và
hiệu quả thấp (số giờ lên lớp quá nhiều so với yêu cầu tăng cường tự học, tự nghiên cứu của
SV). Chi phí cho giáo trình và tài liệu tham khảo chiếm tỷ lệ thấp trong tổng chi phí.
- Tỷ lệ SV đến thư viện thấp (ĐHĐN có hai Thư viện điện tử hiện đại, nhưng mật độ
SV đến khai thác tài liệu, thông tin hàng ngày thấp).
- Số SV trung bình cho một lớp học các ngành: từ 40 - 50; ngoại ngữ: từ 25 - 35. Tuy
nhiên, một số ngành đào tạo không tuyển đủ số lượng; tổ chức giờ học các môn chung với lớp
nhỏ (70 - 100 SV), hiệu quả kinh tế thấp.
- Chi phí hành chính quản lí còn cao do chất lượng của đội ngũ CBQL, phục vụ hạn
chế.
- Một số phòng thí nghiệm đầu tư thiếu đồng bộ, trùng lặp (Ví dụ: Các khoa cùng lập
dự án đầu tư phòng máy tính riêng) dẫn đến không khai thác hết công suất.
4. Biện pháp quản lý nâng cao "hiệu quả trong" ở Đại học Đà Nẵng
Căn cứ thực trạng trình bày trên, để nâng cao "hiệu quả trong" ở ĐHĐN, cần thực hiện
đồng bộ các biện pháp cơ bản sau:
4.1. Nâng cao chất lượng bộ máy tổ chức và đội ngũ nhân lực
Đây là yếu tố đầu tiên quyết định "hiệu quả trong" ở CSGD. Vì vậy, đầu tư xây dựng
đội ngũ và tổ chức bộ máy là nhiệm vụ chiến lược của nhà trường.
Từ thực trạng phân tích trên có thể định hướng thực hiện một số nội dung sau:
- Nghiên cứu thực hiện cơ chế phân cấp và tăng cường trách nhiệm của CBQL các cấp;
xây dựng các qui trình quản lý từng lĩnh vực công việc; ngăn ngừa tình trạng quan liêu, trì trệ,
thiếu hiệu quả do có nhiều tầng bậc trung gian. Tăng tính tự chủ, sáng tạo của các đơn vị trực
thuộc và tổ chức trao đổi học tập kinh nghiệm quản lý hiệu quả của các trường, các đơn vị
trong và ngoài ĐHĐN.
- Xây dựng và triển khai dự án tăng cường năng lực cho đội ngũ CBQL. Thông qua dự
án này tổ chức bồi dưỡng đội ngũ CBQL và phục vụ cập nhật kiến thức, kỹ năng quản lý hiện
đại. Đổi mới phương pháp quản lý giáo dục. Nghiên cứu áp dụng các hình thức quản lý của các
trường đại học tiên tiến nhằm tăng hiệu suất sử dụng đội ngũ, CSVC-TB.
- Triển khai kế hoạch bổ sung GV trẻ, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ, nâng tỷ lệ
GV có học hàm, học vị cao ở các chuyên ngành mũi nhọn và các đơn vị giảng dạy còn yếu
(vừa tăng chất lượng GD, vừa giảm chi phí mời thỉnh giảng). Đào tạo, bồi dưỡng GV một số
chương trình có định hướng, để có thể giảng dạy thay thế GV nước ngoài.
4.2. Đổi mới về chương trình, phương pháp đào tạo và tổ chức đào tạo
- Cần thống nhất quan điểm phương pháp luận cho việc đổi mới chương trình, phương
pháp đào tạo theo hướng tăng cường tính tích cực, sáng tạo của SV, giảm giờ lên lớp, tăng giờ
tự học, tự nghiên cứu của sinh viên. Hiệu suất sử dụng đội ngũ nhờ vậy sẽ tăng lên cùng với
chất lượng đào tạo.
- Tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ một cách triệt để hơn, lưu ý tăng tính mềm dẻo,
linh hoạt của các chương trình đào tạo, xây dựng các chương trình liên thông, cải tiến phương
thức tổ chức đào tạo, áp dụng mở rộng hình thức đào tạo qua mạng, đào tạo từ xa, để có thể
tận dụng được năng lực đội ngũ và CSVC trong điều kiện hạn chế về số lượng GV.
SV trong hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới phương pháp dạy học, học tập sáng tạo
(Đồng thời có thể có chế tài về nhiệm vụ nghiên cứu khoa học).
- Xây dựng chính sách khuyến khích đủ mạnh để đổi mới quản lý CSVC-TB, nâng cao
hiệu suất sử dụng phòng học, phòng thí nghiệm, trang thiết bị (khoán chi phí đào tạo, sử dụng
thiết bị, khen thưởng về hiệu suất sử dụng ). Thiết kế một cơ chế, chính sách quản lý tài
chính có thể khuyến khích tiết kiệm, tăng hiệu suất sử dụng CSVC-TB (VD: Tính cả số tiền
phải trả cho việc sử dụng phòng học, thiết bị vào ngân sách của trường, khoa. Nếu tiết kiệm
được có thể dành cho hoạt động bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học,…).
- Xây dựng chiến lược phát triển nguồn tài chính để đảm bảo các mặt hoạt động của
nhà trường. Có chính sách tăng cường mạnh mẽ các nguồn thu từ hoạt động khoa học - công
nghệ, sản xuất, dịch vụ tận dụng CSVC-TB của nhà trường.
5. Kết luận
Cũng như ở nhiều nước đang phát triển trên thế giới, các nhà nghiên cứu và quản lý
giáo dục nước ta bắt đầu nói nhiều và nghiêm túc đến hiệu quả và chất lượng giáo dục mới chỉ
vài năm gần đây. Trong bối cảnh kinh tế thế giới đang mang tính cạnh tranh ngày càng cao và
với việc Việt Nam gia nhập WTO, các cơ sở giáo dục đại học với tư cách là nơi cung cấp dịch
vụ đặc biệt cần phải quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả. Vấn đề "hiệu quả trong" đang trở thành
thách thức và là mối quan tâm hàng đầu của lý luận và thực tiễn QLGD. Mô hình quản lý kiểu
doanh nghiệp, quản lý nhà trường hiệu quả cần được tính đến.
Việc đưa ra xem xét, phân tích "hiệu quả trong" ở ĐHĐN nhằm mục đích đề xuất các
biện pháp để sử dụng tốt hơn các nguồn lực hay hạ thấp chi phí trong hoạt động GD của nhà
trường, đồng thời đảm bảo chất lượng giáo dục như một tiêu chí thành phần của quan niệm về
hiệu quả GD. Nhưng với vấn đề lớn như vậy, bài viết mới chỉ xới lên những dấu hiệu dễ nhận
biết, rất cần phải có sự đầu tư nghiên cứu, điều tra khảo sát sâu hơn.
Cũng như đối với chất lượng, "hiệu quả trong" của nhà trường chỉ có thể được cải thiện
thực sự nếu có sự quan tâm của lãnh đạo cao nhất của nhà trường và sự tham gia tích cực của
mọi bộ phận, cá nhân trong trường.