Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN MẠNH TƢỜNG NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHẰM NÂNG
CAO NĂNG SUẤT, CHẤT LƢỢNG TINH DẦU HỒI (Illicium
verum Hook.f.) TẠI LẠNG SƠN
NGUYỄN MẠNH TƢỜNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHẰM NÂNG
CAO NÂNG SUẤT CHẤT LƢỢNG TINH DẦU HỒI (Illicium verum
Hook.f.) TẠI LẠNG SƠN Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60 LUẬN VĂN
THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Nguyễn Huy Sơn Thái Nguyên, năm 2010
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Viện Hoá học các hợp
chất thiên nhiên, Viện Quy hoạch và Thiết Kế Nông nghiệp giúp đỡ tôi
trong quá trình phân tích các chỉ tiêu nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã ủng hộ động viên
tôi trong thời gian thực hiện đề tài.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song Luận văn không tránh khỏi những
thiếu sót, rất mong nhận đƣợc các ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các
nhà khoa học và các đồng nghiệp để công trình nghiên cứu này đƣợc hoàn
thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Mạnh Tường Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
ii
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƢỚC NGOÀI 4
1.1.1. Những nghiên cứu về phân loại và phân bố 4
1.1.2. Những nghiên cứu về cải thiện giống 6
1.1.3. Những nghiên cứu về nhân giống 6
1.1.4. Những nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng 6
2.4.1. Phƣơng pháp luận tổng quát 29
2.4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể 29
Chƣơng III . ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN
CỨU 36
3.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 36
3.1.1. Vị trí địa lý 36
3.1.2. Điều kiện khí hậu 36
3.1.3. Điều kiện thủy văn 37
3.2. ĐIỀU KIỆN DÂN SINH, KINH TẾ - XÃ HỘI 42
3. 2.1. Điều kiện dân sinh 42
3.2.2. Điều kiện kinh tế 43
3.2.3. Lĩnh vực văn hóa- xã hội 46
3.3. Nhận xét chung 47
Chƣơng IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50
4.1. ẢNH HƢỞNG CỦA THỜI ĐIỂM THU HÁI QUẢ VÀ TUỔI CÂY ĐẾN HÀM
LƢỢNG VÀ CHẤT LƢỢNG TINH DẦU TRONG QUẢ 50
4.1.1. Ảnh hƣởng của thời điểm thu hái quả đến hàm lƣợng và chất
lƣợng tinh dầu 50
4.1.2. Ảnh hƣởng của tuổi cây đến hàm lƣợng tinh và chất lƣợng tinh
dầu 54
4.2. NGHIÊN CỨU CHỌN GIỐNG HỒI THEO SẢN LƢỢNG VÀ CHẤT LƢỢNG
TINH DẦU 57
4.2.1. Xác định lâm phần chọn giống 58
4.2.1.1. Sản lƣợng quả, chỉ tiêu sinh trƣởng tại hai lâm phần dự tuyển . 58
4.2.1.2. Hàm lƣợng tinh dầu của hai lâm phần dự tuyển 61
iv
4.2.1.3. Chất lƣợng tinh dầu tại hai lâm phần dự tuyển 63
4.2.2. Nghiên cứu xác định tƣơng quan giữa một số chỉ tiêu sinh trƣởng
với hàm lƣợng và chất lƣợng tinh dầu. 65
v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
D
1.3
:
Đƣờng kính đo ở vị trí 1,3m của thân cây
H
vn
:
Chiều cao vút ngọn
Dt:
Đƣờng kính tán
Hdc:
Chiều cao dƣới cành
Dcc:
Đƣờng kính chồi ghép
Hcc:
Chiều cao chồi ghép
r:
Hệ số tƣơng quan
R:
Phạm vi biến động
S
X:
Sai tiêu chuẩn
Cây trội
Hl:
Hàm lƣợng
Đđông:
Độ đông
Slƣợng:
Sản lƣợng
Sig:
Xác suất
Mean Rank:
Số hạng trung bình
HTX:
Hợp tác xã
THCS:
Trung học cơ sở vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
Trang
1.1
Thống kê giá bình quân Hồi và dầu hồi xuất khẩu từ năm
1996-2007 tại Trung Quốc
9
Biến động hàm lƣợng tinh dầu theo thời điểm thu hái
53
4.5
Biến động hàm lƣợng trans-anethol, độ đông và chỉ số chiết
quang theo thời điểm thu hái
53
4.6
Sinh trƣởng, hàm lƣợng, chất lƣợng tinh dầu ở các độ tuổi
khác nhau
55
4.7
Các đặc trƣng thống kê của hàm lƣợng và chất lƣợng tinh dầu
ở các độ tuổi khác nhau
56
4.8
Sản lƣợng quả, chỉ tiêu sinh trƣởng của lâm phần Hồi xã Tân
Đoàn,Văn Quan, Lạng Sơn
58
4.9
Sản lƣợng quả, chỉ tiêu sinh trƣởng sinh trƣởng của lâm phần
Hồi tại xã Đồng Giáp, Văn Quan, Lạng Sơn
59
4.10
Biến động sản lƣợng và các chỉ tiêu sinh trƣởng hai lâm phần
60
4.11
Biến động hàm lƣợng tinh dầu trong quả Hồi khô ở 2 lâm phần
nghiên cứu
61
72
4.20
Kết quả ghép nêm nối ngọn tháng 1 năm 2007
75
4.21
Kết quả ghép nêm nối ngọn và ghép áp tháng 2 năm 2009
76
4.22
Đặc trƣng mẫu kết quả ghép nêm nối ngọn và ghép áp tháng 2
năm 2009
77
4.23
Kết quả trồng 1ha vƣờn vô tính
78
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hồi (Illicium verum Hook.F) là cây đặc sản có giá trị kinh tế cao. Tinh dầu
Hồi là sản phẩm đƣợc chƣng cất từ lá, quả và hạt, nhƣng chủ yếu từ quả, là nguyên
liệu quý trong công nghiệp dƣợc phẩm và thực phẩm. Trong công nghiệp dƣợc
phẩm Hồi đƣợc sử dụng để chế biến các loại thuốc xoa bóp, nội tiết, tiêu hóa,
chống nôn mửa, ức chế sự lên men ruột, long đờm, là thành phần các thuốc trị ho,
trị bệnh nấm da và ghẻ, làm giảm đau, giảm co thắt ruột, hoặc chữa trị các bệnh lý
đau dạ dày, ruột… Trong công nghiệp thực phẩm quả hồi đƣợc dùng làm gia vị
chế biến thức ăn. Ngoài ra, tinh dầu Hồi còn đƣợc làm hƣơng liệu để chế biến các
đồ mỹ phẩm cao cấp. Sau khi ép lấy tinh dầu, bã còn lại dùng đế chế biến thuốc trừ
sâu, làm men, than hoạt tính [1], [2]. Hồi đƣợc dùng rộng rãi trong công nghiệp
nhẹ nhƣ quấn thuốc lá, sản xuất xà phòng thơm, kem đánh răng, thuốc sát trùng,
hƣơng liệu, dùng bảo quản lƣơng thực chống côn trùng gây hại, thuốc đông y…
chƣa áp dụng những tiến bộ kỹ thuật để nâng cao năng suất chất lƣợng. Phần lớn
diện tích Hồi hiện nay đã già cỗi, cho năng suất thấp.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, để góp phần nhằm nâng cao năng suất,
chất lƣợng rừng Hồi ở Lạng Sơn thì việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số
biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng tinh dầu hồi (Illicium
verum Hook.f.) tại Lạng Sơn” là cần thiết, có ý nghĩa cả lý luận và thực tiễn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Chƣơng I
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
năm 2004, Cục Quản lý thuốc và thực phẩm của Mỹ phát hiện thấy tinh dầu Hồi
thu từ Nhật Bản có độc tính cao (do hàm lƣợng cis- anethole vƣợt quá mức cho
phép) nên đã cấm sử dụng trong các lĩnh vực chế biến thực phẩm, đặc biệt là cấm
sử dụng quả hồi Nhật Bản trong quy trình chế biến “Trà hồi”.
Ngoài giá trị lấy tinh dầu, gỗ Hồi có mùi thơm, thớ đều và mịn có thể dùng
làm cột nhà, đóng đồ gia dụng thông thƣờng. Về giá trị môi trƣờng, cây Hồi có thể
kết hợp trồng rừng phòng hộ đầu nguồn, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, là cây đa
mục đích.
Do cây Hồi là cây đặc hữu chỉ có ở một số nƣớc trên thế giới nên các công
trình nghiên cứu loài cây này cũng rất hạn chế. Tuy nhiên, cũng có thể điểm qua
một số công trình nghiên cứu ở cả trong và ngoài nƣớc nhƣ sau:
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƢỚC NGOÀI
Do Illicium verum Hook.f là loài cây có phân bố hẹp, nên ở các nƣớc trên
thế giới việc nghiên cứu về cây Hồi chỉ có chủ yếu ở Trung Quốc. Trung Quốc đã
có nhiều nghiên cứu về phân loại thực vật, chọn giống, nhân giống vô tính, kỹ
thuật trồng rừng, kỹ thuật sấy khô, kỹ thuật chƣng cất v.v Từ 20 năm trở lại đây,
Quảng Tây đã giành đƣợc nhiều thành tựu to lớn và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào công tác trồng Hồi. Trong đó, bao gồm việc điều tra, nghiên cứu cải
thiện giống, nghiên cứu kỹ thuật gây trồng nhằm tăng sản lƣợng Hồi, trồng rừng
Hồi sản lƣợng cao, kỹ thuật cải tạo rừng Hồi sản lƣợng thấp, nghiên cứu kỹ thuật
chƣng cất và tinh chế tinh dầu Hồi v.v Ngoài ra, ngƣời ta còn nghiên cứu kỹ
thuật thâm canh nhƣ: bón phân, phòng chống sâu bệnh. Những năm gần đây kỹ
thuật chọn giống, gây giống, cấy ghép, trồng Hồi v.v ngày càng đƣợc quan tâm
và có nhiều tiến bộ kỹ thuật. Sau đây có thể điểm ra một số thành tựu cụ thể:
1.1.1. Những nghiên cứu về phân loại và phân bố
Cây hồi đƣợc ngƣời Nhật gọi là quả “Shikimmi” hoặc quả “Skimmi”. Gần
đây, ngƣời ta đã phát hiện đƣợc loài hồi Illicium religiosum Sieb, et Zuce, đƣợc
nguyên Hồi, và lấy kết quả điều tra tài nguyên làm căn cứ phân loại chủ yếu, kết
hợp với đặc trƣng hình thái của hoa, quả, cành và dáng cây, chia Hồi thành bốn
nhóm, 17 loại nhƣ sau:
(1) Nhóm hồi hoa đỏ (hồng hoa), có 9 loại, gồm: Hồi hoa đỏ cành mềm,
Hồi hoa đỏ phổ thông, Hồi hoa đỏ nhiều cánh, Hồi hoa đỏ quả to, Hồi hoa đỏ mỏ
chim ƣng, Hồi hoa đỏ lá dầy, Hồi hoa đỏ quả nhỏ, Hồi hoa đỏ nhụy đỏ, Hồi hoa đỏ
cây lùn.
(2) Nhóm Hồi hoa phớt hồng có 4 loại, gồm: Hồi hoa phớt hồng cành mềm,
Hồi hoa phớt hồng phổ thông, Hồi hoa phớt hồng nhiều cánh và Hồi hoa phớt hồng
lá dầy.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
(3) Nhóm Hồi hoa trắng có 3 loại, gồm: Hồi hoa trắng cành mềm, Hồi hoa
trắng phổ thông và Hồi hoa trắng nhiều cánh.
(4) Nhóm Hồi hoa vàng có 1 loại là Hồi hoa vàng.
Trong đó có 4 loại Hồi hoa đỏ cánh mềm, Hồi hoa phớt hồng cánh mềm,
Hồi hoa đỏ phổ thông và Hồi hoa phớt hồng phổ thông là những loại giống Hồi tốt
có thể trồng rộng rãi [36].
1.1.2. Những nghiên cứu về cải thiện giống
Hiện nay, tại một số huyện của Quảng Tây - Trung Quốc nhƣ Phòng
Thành, huyện Đằng và lâm trƣờng quốc doanh Phái Dƣơng Sơn là nơi có nhiều
giống Hồi chất lƣợng cao. Viện khoa học lâm nghiệp Quảng Tây đã tuyển chọn
đƣợc 33ha gồm các cây mẹ ở lâm trƣờng thanh niên cộng sản huyện Đằng. Từ
nguồn giống này, những năm gần đây đã cung cấp số lƣợng lớn cây giống để phát
triển Hồi tại Trung Quốc. Trong thời gian qua, Trung Quốc đã xây dựng đƣợc 200
vƣờn giống vô tính sản lƣợng và chất lƣợng cao, trong đó có 3 giống Hồi đƣợc chú
ý, gồm: "Quế giác 45 (Hồi số 45 Quảng Tây), "Quế giác 77" (Hồi số 77 Quảng
Tây) và "Quế giác 78" (Hồi số 78 Quảng Tây). Năm 2006, các giống này đã đƣợc
ngành lâm nghiệp khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây cho phép và đã cung cấp
1.1.5. Những nghiên cứu về hàm lƣợng, chất lƣợng tinh dầu
Hiện nay các nghiên cứu về thành phần và công nghệ chế biến tinh dầu
Hồi đã có một số nhà nhà khoa học ở Trung Quốc quan tâm, nổi bật là một số
công trình sau:
Khi phân tích các mẫu tinh dầu hồi thu đƣợc tại tỉnh Vân Nam (Trung
Quốc) ở hai thời điểm khác nhau; Cu Q và cộng sự (1988,1990) đã cho biết
thành phần các tinh dầu rất phức tạp, có tới 30 hợp chất khác nhau. Tác giả
cũng chỉ ra rằng, giữa chúng không chỉ có sự biến động về hàm lƣợng của các
hợp chất chính (trans-anethol từ 71,98-85,6%; cis-anethol có hàm lƣợng rất nhỏ
(0,1%) và của một số thành phần thƣờng gặp nhƣ: limonen, linalool,
anisaldehyd, methylchavicol, anis keton…) mà còn khác nhau cả về thành phần
chất. Ở một số cá thể khác, trong tinh dầu chứa α-pinen, trans-α-bergamoten,
α-terpineol, β- bisabolen. Song ở các cá thể khác thì các hợp chất trên không
tìm thấy, trong khi đó lại xuất hiện các hợp chất mới nhƣ: α-gurjunen,
longifolen, isolongifolen và anisyl isobutyrat.
Nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu hồi trồng tại Shangyou
(Trung Quốc), Sun, L.F (1990) đã xác định đƣợc 39 hợp chất, trong đó nhiều
nhất là trans-anethol (87,9%); sau đó là: limonen (2,83%); foeniculin (0,89%);
linalool (0,73%); methylchavicol (0,57%); trans- β- farnesen (0,42%); α-pinen
(0,49%); δ-3-caren (0,58%); methyl issoeugenol (0,32%); cis-anethol (0,2%);
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
1,8-cineol (0,2%); γ-terpinen (0,3%); α-terpineol (0,28%); β-caryophyllen
(0,35%); isocaryophyllen (0,31%); safrol (0,14%) và α-copaen (0,1%);… những
hợp chất còn lại thƣờng ở dạng vết hoặc dƣới 0,1%. Ngoài ra, hạt hồi còn chứa
khoảng 50-58% dầu béo với thành phần chính là các axit oleic, linoleic, stearic
và myristic.
Nghiên cứu về công nghệ chiết xuất tinh dầu điển hình có công trình của
Lục Thuận Trung, Lý Thu Đình, Lê Quý Liễu, Quan Đoạn Hoa, Công Hoa, Lý
9
Trung Quốc đang triển khai sản xuất theo bản quyền với số lƣợng lớn thuốc
Tamiflu là loại thuốc chữa dịch cúm gia cầm hiệu nghiệm nhất trên thế giới.
Chính vì vậy, Hồi của Quảng Tây tiêu thụ khắp nơi trên toàn quốc của Trung
Quốc, tại Nam Ninh đã hình thành khu thƣơng mại trung chuyển Hồi lớn, hàng năm
Hồi từ Nam Ninh chuyển đi khu vực miền Bắc và các tỉnh khác. Chợ bán buôn hàng
khô ở thôn Hạnh Hoa, thành phố Đằng Châu tỉnh Sơn Đông là chợ bán buôn Hồi lớn
nhất trong toàn quốc, có hơn 300 thƣơng nhân kinh doanh Hồi tại dây, hơn 70% số
lƣợng Hồi của Quảng Tây từ nơi đây chuyển đi khắp nơi trên toàn quốc.
Theo số liệu thống kê đã đƣợc công bố của Hiệp hội hƣơng liệu tinh dầu
Quảng Tây, năm 2007, Hồi của Quảng Tây chủ yếu xuất đi các nƣớc Anh, Mỹ,
Đức, Pháp, Australia, Nhật, Hồng Công, Đài Loan và Nam Mỹ, Đông Nam á, Nam
á và Trung Đông. Đặc biệt, tiêu thụ nhiều ở các nƣớc: Pháp, Mỹ, Đức, Hồng Công,
Tây Ban Nha, Anh, Ấn Độ, Australia, In-đô-nê-xia, Singapore giá dầu hồi bình
quân không thấp hơn 5.500 USD/tấn [32].
Bảng 1.1: Thống kê giá bình quân Hồi và dầu hồi xuất khẩu từ năm 1996-2007 tại
Quảng Tây - Trung Quốc
(USD/T)
Năm
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
(Nguồn tài lệu: Sở Thương mại Quảng Tây)
Thống kê giá bình quân Hồi và dầu hồi xuất khẩu từ năm 1996-2007 cho
thấy giá Hồi không dƣới 1.000 USD/tấn và giá dầu Hồi bình quân không thấp hơn
5.500 USD/tấn. Điều đó có thể chứng minh rằng giá Hồi xuất khẩu ở Quảng Tây
tƣơng đối cao và ổn định.
Tóm lại: Điểm qua các công trình nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến
vấn đề nghiên cứu cho thấy các công trình nghiên cứu về Hồi chỉ có ở Trung
Quốc, các nghiên cứu khá công phu, đã giải quyết khá đầy đủ các vấn đề liên
quan, nhƣng các công trình nghiên cứu trong hoàn cảnh sinh thái và các điều kiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
kinh tế kỹ thuật hết sức khác nhau nên khó có thể áp dụng cụ thể vào điều kiện
của nƣớc ta.
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM
1.2.1. Nghiên cứu về nguồn gốc, phân loại
Theo Đỗ Tất Lợi (1999) cây Hồi nói chung chỉ mọc trong khu vực nhỏ
chiếm khoảng 5.000km2 ở tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn và một số ở Quảng Tây,
Quảng Đông - Trung Quốc. Một số nơi khác cũng trồng nhƣ Hà Giang, Tuyên
Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên nhƣng không nhiều. Đặc biệt, loài Đại Hồi Illicium
verum đã đƣợc gây trồng thành những quần thể lớn tại các tỉnh miền núi phía Đông
Bắc nƣớc ta nhƣ Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng v.v… Loài Hồi này (Ilicium
verum Hook.f.) còn có tên gọi khác nhƣ Đại hồi, Đại hồi hƣơng, Hồi 8 cánh, Hồi
Sao thuộc họ Hồi (Illiciacaea) [13].
1.2.2. Những nghiên cứu về hình thái, sinh thái
Đặc điểm hình thái và sinh thái là yếu tố quan trọng trong nghiên cứu
phân loại thực vật, cũng nhƣ nghiên cứu gây trồng. Vì thế, các vấn đề này
cũng đã đƣợc một số nhà khoa học trong nƣớc nghiên cứu với các kết quả nổi
bật sau đây:
1.2.2.1. Đặc điểm hình thái
Về hình thái Hoa:
Khi nghiên cứu về hình dạng và cấu tạo hoa, các tác giả đã chỉ ra rằng, chi
Hồi (Illicium) là một chi thực vật tiến hóa ở bậc tƣơng đối thấp trong hệ thống phát
sinh thực vật. Mức độ tiến hóa thấp của chi này thể hiện ở các đặc điểm chính sau:
Bao hoa chƣa phân hóa thành đài và cánh hoa, mà chỉ tồn tại ở dạng các mảnh bao
hoa hình bản. Số lƣợng các mảnh bao hoa khá lớn và dao động trong khoảng 7-16
mảnh bao hoa. Ở một vài cây vẫn còn nhận thấy sự biến đổi trung gian giữa mảnh
bao hoa và nhị. Chỉ thị nhị hình phiến, số lƣợng khá lớn, dao động trong khoảng 9
- 23. Lá noãn rời, quả hình thành với nhiều nang (tƣơng ứng với số lá noãn). Trong
thực tế, quả Hồi có số lá noãn ít nhất là 5 và nhiều nhất là 13.
Ảnh1: Hồi hoa trắng Ảnh 2 Hồi hoa đỏ Ảnh 3: Hồi hoa hồng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Ngoài đặc điểm chung thể hiện mức độ tiến hóa ở các thể khác nhau, sắc
màu hoa cũng rất đa dạng thay đổi từ màu đỏ thẫm tới màu trắng. Trong khoảng
biên độ này có nhiều dạng trung gian nhƣ màu hồng, màu đỏ nhạt, màu trắng chấm
hồng. Đây là hiện tƣợng hiếm gặp trong hệ thực vật ở Việt Nam [6].
Về hình thái quả:
Nghiên cứu về hình thái quả Hồi (thƣờng gọi là hoa Hồi) Lƣu Đàm Cƣ và
Ninh Khắc Bản (2006) đã dựa vào số lƣợng lá noãn để chia quả Hồi thành 3 nhóm
chính sau:
+ Nhóm quả 8 cánh (lá noãn): Số lƣợng ít nhất là 7 và cao nhất là 10
phiến sét năng suất đạt từ 68,44 đến 70,56 kg quả tƣơi/cây/vụ; hàm lƣợng tinh dầu
từ 8,84 đến 11,52%; hàm lƣợng trans anethole từ 86,15 đến 87,62%.
Theo Trần Anh Châu (1975) thì Hồi sinh trƣởng tốt trên đất Ryolit và phiến
thạch sét, độ dốc từ 5
0
- 30
0
, ở độ cao tuyệt đối khoảng 600m so với mặt nƣớc biển
vẫn cho sản lƣợng quả cao, nhƣng không sống đƣợc ở những nơi ngập úng. Theo
Nguyễn Ngọc Bình và Lê Văn Hán (1981) thì tiêu chuẩn đất trồng Hồi phải có tính
vật lý tốt, có khả năng thấm và giữ nƣớc, thành phần cơ giới nặng và giàu sét,
không có hoặc rất ít đá lẫn, tầng đất dày, hoặc rất dày. Đặc biệt, Hồi sinh trƣởng và
sai quả trên đất giàu kali dễ tiêu (K≥ 13mg/100 g đất). Trong một nghiên cứu khác
thông qua hàm lƣợng các chất trong lá, Lê Đức Diên và các cộng sự (1976) đã
nhận thấy rằng cây càng tốt và càng sai quả thì hàm lƣợng kali trong lá càng cao.
Hàm lƣợng đạm và kali trong lá cao chứng tỏ có liên quan đến hàm lƣợng đạm và
kali trong đất. Khi nghiên cứu phục tráng rừng Hồi già, Phí Quang Điện (1981)
cũng nhận định rằng hàm lƣợng mùn và đạm trong đất có liên quan chặt chẽ với
khả năng sinh trƣởng và phát triển của cây Hồi, những cây Hồi già 60 - 70 tuổi nếu
đƣợc bón đạm sẽ nâng cao sản lƣợng quả và hạn chế quả rụng non.
Trên cơ sở nhu cầu sinh thái của cây Hồi, Dƣ Đức Hƣớng (2004) chia độ
cao thành 4 cấp: rất thích nghi có độ cao từ 300 - 600m, thích nghi trung bình có
độ cao 600 - 700 m, ít thích nghi có độ cao 700 - 800m, và không thích nghi có độ
cao trên 800m [9].
1.2.3. Những nghiên cứu về sinh trƣởng và phát triển
Theo Nguyễn Ngọc Bình, Lê Văn Hán (1981), thời gian đầu, Hồi tăng
trƣởng nhanh về chiều cao, trung bình có thể đạt 1,5-2,0m/năm. Tuy vậy, ở giai
đoạn đầu trong vƣờn ƣơm hoặc Hồi mới trồng cũng cần che bóng. Cây trồng từ hạt
có thể ra hoa và bói quả ở giai đoạn 5 - 6 tuổi. Thông thƣờng, mỗi năm, có thể tiến
hành thu hoạch 2 vụ: vụ chính vào tháng 8-9 cho sản lƣợng quả cao, nhiều tinh dầu
quả nhƣng năng suất rất thấp, thƣờng chỉ đạt 0,5-1 kg/cây. Giai đoạn từ 10-12 tuổi,
năng suất quả trung bình có thể đạt 7-20 kg/cây. Từ 20 năm tuổi trở đi, cây bắt đầu
cho năng suất quả ổn định nhƣng thƣờng chỉ đạt 20-30 kg/cây, năm đƣợc mùa có
thể lên tới 35-40 kg/cây. Cây Hồi có thể cho quả tới 100 năm tuổi [12].
Nhìn chung, hầu hết các nghiên cứu đều thống nhất Hồi sinh trƣởng tốt trên
đất feralitic vàng đỏ phát triển trên đá phiến thạch sét, phiến thạch mica, tầng đất
dày từ 1,5m trở lên, đất màu mỡ, còn tính chất đất rừng. Mỗi năm Hồi ra hoa 2 đợt,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
đợt hoa đầu tiên từ cuối tháng 6 đến cuối tháng 7, đợt hoa thứ 2 nở tiếp ngay sau
lứa đầu kéo dài từ tháng 7 tới tháng 10 hàng năm. Tƣơng ứng hai vụ hoa, quả Hồi
đƣợc thu hoạch hai lần/năm, vụ thứ nhất (Hồi chiêm) thu hoạch vào tháng 12 hàng
năm, vụ này năng suất quả thấp, vụ thứ hai (Hồi mùa) thu hoạch vào tháng 8-9
hàng năm. Cây trồng từ hạt có thể ra hoa và bói quả ở giai đoạn 5-6 tuổi. Từ năm
20 năm tuổi trở đi, cây bắt đầu cho năng suất quả ổn định, năm bội thu có thể lên
tới 35-40 kg/cây. Năng suất Hồi của nƣớc ta không cao và không ổn định qua các
năm, chu kỳ sai quả cũng khá rõ rệt thƣờng là 2-3 năm là một chu kỳ sai quả.
1.2.4. Những nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng
Lĩnh vực nghiên cứu gây trồng đã đƣợc nhiều tác giả đề cập rất sớm, hầu
hết các tác giả đều thống nhất thời vụ trồng Hồi vào vụ xuân hè và vụ thu; mật độ
trồng từ 400-500 cây/ha, cây cách cây 5m, hàng cách hàng 5m hoặc 4 x 5m; Xử lý
thực bì: thực bì cao trên 1m phát băng rộng 1m, chừa 4m theo đƣờng đồng mức;
Thực bì cao dƣới 1m phát băng rộng 2m, sau đó tiến hành gieo 3 hàng cốt khí. Hố
trồng cần chuẩn bị trƣớc khi trồng 3 tháng, kích thƣớc hố 40x40x40cm; Bón phân:
mỗi hố 0,5kg phân chuồng + 0,5 kg phân xanh ủ hoai. Trong quá trình chăm sóc
cần phát cây bụi xung quanh gốc theo diện tích tán cây, xới đất và nhặt sạch cỏ
trong phạm vi đã cuốc xung quanh gốc.
Tuy nhiên đến nay chƣa có nghiên cứu đầy đủ về thâm canh rừng Hồi.
Nghiên cứu phục tráng rừng Hồi của Bùi Ngạnh và Phí Quang Điện trong các năm