Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao
chất lượng dạy học ở trường Trung
cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang
1
MỤC LỤC
M uở đầ 2
1 . Lý do ch n t i.ọ đề à 2
Ch ng Iươ 5
c s lý lu n v qu n lý d y h c tr ng ơ ở ậ ề ả ạ ọ ở ườ 5
trung c p chuyên nghi pấ ệ 5
1.1. t ng quan v v n nghiên c u: ổ ề ấ đề ứ 5
Ch ng IIươ 18
th c tr ng ch t l ng d y h c v qu n lý ự ạ ấ ượ ạ ọ à ả 18
nâng cao ch t l ng d y h c tr ng trung c p ấ ượ ạ ọ ườ ấ 18
kinh t - k thu t B c Giangế ỹ ậ ắ 18
2.1. L ch s phát tri n Tr ng trung c p Kinh t - K thu tị ử ể ườ ấ ế ỹ ậ 18
B c Giang ắ 18
T i li u tham kh oà ệ ả 58
Mở đầu
1 . Lý do chọn đề tài.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã quyết định đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước, phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và
văn minh. Để thực hiện được mục tiêu đó yếu tố quyết định thắng lợi sự nghiệp CNH,
HĐH ở nước ta chính là chất lượng nguồn lực con người. Chất lượng nguồn lực con người
lại phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng giáo dục. Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục
đào tạo là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội
Nghị quyết lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII cũng đã chỉ rõ: "Giáo
dục và đào tạo hiện nay phải có một bước chuyển nhanh chóng về chất lượng và hiệu quả
đào tạo, về số lượng và quy mô đào tạo, nhất là chất lượng dạy học trong các nhà trường,
nhằm nhanh chóng đưa giáo dục - đào tạo đáp ứng yêu cầu mới của đất nước. Thực hiện
sở lý luận và thực tiễn đã nêu tác giả mạnh dạn chọn đề tài:
“ Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế -
Kỹ thuật Bắc Giang ” với hy vọng đóng góp một phần vào việc xây dựng các biện pháp
quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường trung cấp đáp ứng yêu cầu ngày càng
cao của toàn xã hội, thực hiện tốt nhất nhiệm vụ của nhà trường mà Đảng, Nhà nước và
nhân dân giao cho.
2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường
Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực về
lĩnh vực kinh tế và kỹ thuật của tỉnh Bắc Giang.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3.1. Khách thể nghiên cứu :
Công tác quản lý dạy học ở trường TC chuyên nghiệp tỉnh Bắc Giang.
3. 2. Đối tượng nghiên cứu :
Những biện pháp quản lý có hiệu quả đối với hoạt động dạy học ở trường Trung cấp Kinh
tế - Kỹ thuật Bắc Giang.
4. Giả thuyết khoa học:
Chất lượng dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang hiện nay vẫn
còn có những hạn chế. Nếu áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, đồng bộ các biện pháp
3
quản lý được đề xuất trong đề tài nghiên cứu thì chất lượng dạy học của nhà trường sẽ
được nâng cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý dạy học ở trường trung cấp.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng dạy học và quản lý quá trình dạy học ở trường Trung
cấp Kinh tế- Kỹ thuật Bắc Giang.
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường
Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao
1.1. tổng quan về vấn đề nghiên cứu:
Nâng cao chất lượng dạy học là nhiệm vụ cơ bản của các nhà trường nói chung và của
người quản lý nói riêng. Đây chính là điều kiện để nhà trường tồn tại và phát triển. Thực
chất của công tác quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy học, công việc này được
tiến hành thuờng xuyên, liên tục qua từng giờ học, học kỳ và từng năm học, đây là điều
kiện tất yếu để đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường đáp ứng yêu cầu mục tiêu đề
ra.
Để thực hiện được mục tiêu đó người quản lý phải nắm vững những chủ trương, đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, vững vàng về chuyên môn, có trình độ lí luận và
nghiệp vụ tốt thì mới có thể tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá được quá trình dạy và
học. Có thể nói người quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức, chỉ đạo thực
hiện các hoạt động giáo dục trong nhà trường.
Vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục cho nhà trường nói chung, nâng cao chất lượng dạy
học nói riêng, luôn là vấn đề quan tâm của các cấp QL giáo dục, với mục đích chính là
nâng cao hiệu quả QL trong nhà trường, nhân tố quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động
DH. Thời gian qua đã có nhiều đề tài nghiên cứu về các vấn đề QL nâng cao chất lượng
DH ở các trường trong tỉnh Bắc Giang nhưng chủ yếu tập chung vào các trường phổ,
trường Cao đẳng Song đến nay chưa có đề tài nào đề cập đến việc nghiên cứu tìm ra các
biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường Trung cấp kinh tế - kỹ
thuật Bắc Giang. Với đề tài này tác giả sẽ phân tích thực trạng quá trình dạy học và quản
lý quá trình dạy học của nhà trường, từ đó đưa ra một số biện pháp quản lý góp phần vào
việc nâng cao chất lượng DH nhằm đưa sự nghiệp GD&ĐT ở Tỉnh Bắc Giang ngày càng
ổn định và phát triển.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài:
1.2.1 . Khái niệm quản lý.
Quản lý hình thành cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người. Khi xã hội loài người phát
triển qua các phương thức sản xuất khác nhau thì trình độ tổ chức và điều hành xã hội
ngày càng được nâng cao. Sự phát triển của xã hội dựa vào nhiều yếu tố, trong đó có 3 yếu
tố cơ bản: tri thức, sức lao động và trình độ quản lý. Mọi hoạt động xã hội đều cần đến
hoạt động quản lý và hoạt động quản lý cũng chính do con người tiến hành. Người quản lý
- QL là hoạt động được tiến hành trong một tổ chức, một nhóm xã hội.
- Quản lý phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể,
mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động.
- Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối
tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.
Trong hoạt động quản lý, chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Chủ thể quản lý là một cá
nhân hay một nhóm có chức năng quản lý hay điều khiển tổ chức, làm cho tổ chức vận
hành và đạt tới mục tiêu. Khách thể quản lý bao gồm những người thừa hành nhiệm vụ
trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu. Chủ thể
quản lý làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể quản lý sản sinh ra vật chất và
tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu con người, đáp ứng mục đích của
chủ thể quản lý.
- Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Chính vì vậy trong hoạt
động, cán bộ quản lý phải hết sức sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo và bằng cách nào đó để
người bị QL luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích
cho bản thân, cho tổ chức, cho cả xã hội.
1.2.2. Chức năng quản lý.
Có bốn chức năng cơ bản: kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra. Theo hình thức,
quá trình quản lý được diễn ra tuần tự từ chức năng kế hoạch đến các chức năng tổ chức,
chỉ đạo và kiểm tra. Song, trong thực tế các chức năng này đan xen, hỗ trợ lẫn nhau trong
quá trình thực hiện. Chất xúc tác và liên kết giữa các chức năng cơ bản này là thông tin
quản lý và các quyết định QL.
Các chức năng quản lý tạo thành quá trình quản lý có thể được mô tả theo sơ đồ hình vẽ
sau:
6
Hình 1.1: Sơ đồ về quá trình quản lý . [2, 21 ]
- Chức năng kế hoạch: là một chức năng, một khâu quan trọng nhất trong hoạt động quản
lý, lập kế hoạch là hoạt động nhằm thiết lập các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của
một tổ chức, chỉ ra các hoạt động, những biện pháp cơ bản và các điều kiện cần thiết để
thực hiện mục tiêu đó. Kế hoạch là nền tảng của quản lý, là sự quyết định lựa chọn đường
xác định như là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và định hướng của chủ thể
quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống đó (từ Bộ đến các
trường, các cơ sở giáo dục khác ) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục XHCN cho thế
hệ trẻ, trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của CNXH, cũng như các
quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực, tâm lý trẻ, thiếu niên và thanh
niên” [22; 10].
7
Theo giáo sư Phạm Minh Hạc: “ Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học.
Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ
thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục tức là cụ thể hóa đường lối
giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân,
của đất nước” [34, 9].
Như vậy quản lý giáo dục thực chất là quản lý quá trình giáo dục và đào tạo. Quản lý quá
trình giáo dục và đào tạo là quản lý hoạt động của người dạy, người học và quản lý các tổ
chức sư phạm ở các cơ quan khác nhau trong việc thực hiện các kế hoạch, chương trình
giáo dục và đào tạo nhằm đạt được mục tiêu đặt ra.
b. Quản lý nhà trường:
Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường vì nhà trường là đơn vị cơ bản
cấu trúc lên hệ thống giáo dục quốc dân, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục. Khi
nghiên cứu về nội dung khái niệm quản lý giáo dục thì khái niệm trường học được hiểu là
tổ chức cơ sở mang tính nhà nước- xã hội trực tiếp làm công tác GD&ĐT thế hệ trẻ cho
tương lai đất nước.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu
của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các
nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng
vốn tự có. Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá
trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà
trường tiến lên trạng thái mới ” [31; tr43].
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “ Quản lý nhà trường là lao động của các cơ quan quản lý
nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác,
sau:
Hình 1.2: Mô hình quản lý trường học. [19, 2]
1.2.4 . Khái niệm dạy học và quản lý quá trình dạy học.
a. Khái niệm dạy học.
Theo giáo sư Phạm Minh Hạc: “Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt
và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được, nhằm biến kiến thức, kinh
nghiệm xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân ” [20; tr18].
Theo Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt: “Quá trình dạy học là một quá trình sư phạm bộ
phận, một phương tiện để trau dồi học vấn, phát triển giáo dục và giáo dục phẩm chất,
nhân cách thông qua sự tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm truyền thụ và
lĩnh hội một cách có hệ thống những tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo, nhận thức
và thực hành ” [26;tr 25].
Theo Nguyễn Ngọc Quang: dạy học được hiểu là một hoạt động bao gồm hai quá
trình đó là quá trình dạy của thày và quá trình học của trò. Hai quá trình này có mói quan
hệ biện chứng, tồn tại vì nhau, sinh ra vì nhau và thúc đẩy nhau phát triển.
Dạy Học
Dạy học
cộng tác
Hình 1.3: Sơ đồ cấu trúc quá trình DH theo tiếp cận hoạt động. [9;30].
Từ những quan niệm trên cho thấy quá trình dạy học là một quá trình
mà ở đó phải đồng thời diễn ra hai hoạt động: hoạt động dạy của thầy và hoạt
động học của trò, hai hoạt động này đan quyện vào nhau, vì nhau, phối hợp với nhau,
thiếu một trong hai hoạt động thì quá trình dạy học không diễn ra.
Hoạt động dạy học làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một
9
cách có hệ thống cơ bản, có những ký năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập,
lao động và đời sống. Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành
những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của học sinh, hình thành ở học sinh thế
1.2.5. Chất lượng dạy học và quản lý chất lượng dạy học.
a. Chất lượng dạy học.
Nói đến “chất lượng dạy học” chính là nói đến “chất lượng thể hiện ở người học ”hay “tri
thức, kỹ năng, thái độ” mà người học có được trong quá trình học, đào tạo. Vốn học vấn
toàn diện và vững chắc công việc, kỹ năng, thái độ ở mỗi người là chất lượng đích thực
của dạy học [10,tr 10]. Đó chính là kết qủa của quá trình đào tạo (người học đã học như
thế nào, họ biết gì, có thể làm gì và phẩm chất nhân cách của họ ra sao nhờ kết quả
tương tác giữa người học với giáo viên và nhà trường).
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, mô hình chất lượng dạy học gồm:
- Kiến thức (Knowledge - K).
- Kỹ năng (Skill - S ).
- Thái độ (Attitude - A) và hành vi (Behaviour - B ).
Các yếu tố trên được liên hệ với nhau trong tính cân đối và đồng bộ[1], được thể
hiện trong hoạt động nghề nghiệp của người tốt nghiệp .
Khi đánh giá chất lượng dạy học phải cần căn cứ vào mục tiêu của từng cấp học, bậc học
đối chiếu sản phẩm giáo dục - đào tạo được đối chiếu với mục tiêu của cấp học, bậc học.
10
Chất lượng dạy học càng cao càng làm phong phú thêm kiến thức, kỹ năng, thái độ, giá trị
và hành vi của con người.
Quan hệ giữa mục tiêu đào tạo và chất lượng đào tạo thể hiện qua sơ đồ sau:
Quá trình đào tạo
Kiến thức - K
Kĩ năng - S Thái độ và Người tốt nghiệp
hành vi - AB
(Theo chương trình đào tạo ) - Đặc trưng, giá trị nhân
cách, XH, nghề nghiệp.
- Giá trị sức lao động .
- Năng lực hành nghề .
- Trình độ chuyên môn
nghề nghiệp (kiến thức
chất lượng dạy học không chỉ là quản lý chất lượng tri thức văn hoá mà còn phải xem xét
đến mức độ đạt được của định hướng giá trị, ý chí và thái độ của người học.
Quản lý chất lượng dạy học cũng chính là quản lý các hoạt động toàn diện trong
trường nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học trong quá trình đào tạo. Phương hướng để
nâng cao chất lượng dạy học là phải cải tiến các biện pháp hoạt động sư phạm và biện
pháp quản lý, trong đó đổi mới biện pháp quản lý là then chốt và phải đi trước một bước.
Trong giai đoạn hiện nay cần đặc biệt quan tâm tới việc tổ chức, quản lý việc bảo đảm
chất lượng giáo dục và thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục.
1.3. quản lý hoạt động dạy học ở trường trung cấp chuyên nghiệp.
1.3.1. Nhiệm vụ và quyền hạn của trường trung cấp .
Căn cứ vào quyết định số 24/2000/QĐ-BGD-ĐT ngày 11 tháng 07 năm 2000 của
Bộ Trưởng Bộ GD&ĐT về việc ban hành Điều lệ trường trung học chuyên nghiệp (theo
quy định mới của Luật Giáo dục năm 2005 nay gọi tên là
trường trung cấp chuyên nghiệp), trường trung cấp chuyên nghiệp có những nhiệm vụ và
quyền hạn sau: [14,tr 1]
- Tổ chức quá trình đào tạo và hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu. Chương trình đào
tạo các ngành nghề được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép .
- Xây dựng chương trình đào tạo, kế hoạch giảng dạy trên cơ sở chương trình khung do Bộ
GD & ĐT ban hành ;
- Tổ chức biên soạn và duyệt giáo trình của những ngành, nghề được phép đào tạo
trên cơ sở thẩm định của Hội đồng thẩm định do Hiệu trưởng thành lập.
- Thực hiện các hoạt động thực nghiệm, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và phát triển công
nghệ, tham gia giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước:
- Thực hiện các dịch vụ khoa học, công nghệ, sản xuất kinh doanh phù hợp với ngành
nghề ĐT và các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
- Quản lý giáo viên cán bộ và nhân viên .
- Tuyển sinh và quản lý học sinh .
- Phối hợp với gia đình HS, các tổ chức cá nhân trong hoạt động GD&ĐT.
- Tổ chức cho giáo viên, cán bộ nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã hội.
- Quản lý và sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp
- Nắm vững những nguyên tắc cấu tạo chương trình, nội dung và phạm
vi kiến thức dạy học của từng môn học, cấp học.
- Nắm vững PPDH của từng môn học, từng khối lớp trong trường.
- Không được giảm nhẹ, nâng cao hoặc mở rộng so với yêu cầu nội dung, phạm vi kiến
thức quy định của từng chương trình môn học.
- Vận dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau, kết hợp giữa các hình thức dạy học
trên lớp, ngoài lớp, thực hành một cách hợp lý.
- Dạy học và coi tất cả các môn học theo quy định của phân phối chương trình - nghiêm
cấm việc cắt xén, dồn ép bài học, thêm bớt tiết học với bất cứ môn học nào, lớp học nào,
dưới bất kỳ hình thức nào.
Để việc quản lý thực hiện chương trình dạy học đạt kết quả, đảm bảo thời gian cho việc
thực hiện chương trình dạy học người quản lý phải chú ý sử dụng thời khóa biểu như là
công cụ để theo dõi, điều khiển và kiểm soát tiến độ thực hiện chương trình dạy học, để
thường xuyên, kịp thời điều chỉnh những lệch lạc trong quá trình thực hiện chương trình
dạy học.
2) Quản lý việc sọan bài và chuẩn bị lên lớp.
Soạn bài là khâu quan trọng nhất trong việc chuẩn bị của giáo viên cho giờ lên lớp, tuy nó
chưa dự kiến hết các tình huống trong quá trình lên lớp nhưng soạn bài thực sự là lao động
sáng tạo của từng giáo viên, nó thể hiện sự suy nghĩ, lựa chọn, quyết định của giáo viên về
nội dung, phương pháp giảng dạy, hình thức lên lớp phù hợp đối tượng học sinh và đúng
yêu cầu của chương trình.
Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị bài trước khi lên lớp phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Đảm bảo tính tư tưởng, tính giáo dục của bài giảng.
- Thực hiện soạn bài phải đúng quy chế, chu đáo trước khi lên lớp, chống việc soạn để đối
phó với kiểm tra.
- Đảm bảo nội dung, tri thức khoa học mang tính giáo dưỡng. Đưa việc soạn bài, chuẩn bị
lên lớp vào nề nếp, nghiêm túc và đảm bảo chất lượng.
- Chỉ đạo không rập khuôn máy móc, đảm bảo và khuyến khích tính tích cực, tự giác và
sáng tạo của giáo viên.
Để soạn bài chuẩn bị lên lớp của giáo viên có thể thực hiện theo một kế
- Phải nắm vững được lý luận dạy học và lý thuyết về bài học, nắm vững quan điểm trong
phân tích sư phạm bài học.
- Nắm vững các bước trong việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học để chỉ đạo tất cả
giáo viên trong trường thực hiện.
- Tổ chức tốt việc dự giờ trong trường, có chế độ dự giờ rõ ràng, có kế hoạch cụ thể, đặc
biệt phải có chuẩn đánh giá phù hợp, có đầy đủ hồ sơ dự giờ, đánh giá đúng tình hình giờ
lên lớp cũng như chất lượng giờ lên lớp trên cơ sở đó tìm ra những biện pháp thích hợp
cho công tác quản lý giờ lên lớp.
Để nâng cao chất lượng dự giờ, phân tích sư phạm bài học cần có tổ chức các chuyên đề
về giờ lên lớp, như trao đổi về nội dung và phương pháp giảng dạy, xây dựng giờ dạy
mẫu, tổ chức dạy thử, tổ chức kiến tập, thao giảng nhằm giúp giáo viên nắm vững lý
thuyết, rút kinh nghiệm về phương pháp giảng dạy, về các bước trong dự giờ và phân tích
sư phạm bài giảng trên cơ sở đó khuyến khích sự sáng tạo của giáo viên. Hiệu trưởng nhà
trường cần phải có tổ chức tốt để tạo điều kiện cho giáo viên phát huy khả năng của mình
nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
5) Quản lý hồ sơ chuyên môn của giáo viên.
Hồ sơ chuyên môn của giáo viên là phương tiện phản ánh quá trình quản lý có tính khách
quan và cụ thể, giúp hiệu trưởng nắm chắc hơn, cụ thể hơn tình hình thực hiện nhiệm vụ
chuyên môn của giáo viên.
Có thể nói hồ sơ chuyên môn của giáo viên là một trong những cơ sở pháp lý để nói lên
việc thực hiện nề nếp chuyên môn. Nhưng hồ sơ chuyên môn của giáo viên không thể xem
đồng nghĩa với năng lực giảng dạy của giáo
14
viên trên lớp. Nó chỉ là điều kiện cần thiết.
Hồ sơ của giáo viên phục vụ hoạt động dạy học theo Điều 37, Điều lệ trường trung học
chuyên nghiệp gồm:
- Giáo trình
- Giáo án lý thuyết
- Giáo án thực hành
- Sổ tay giáo viên, sổ dự giờ.
b. Quản lý hoạt động học tập của học sinh:
Hoạt động học tập của học sinh là một hoạt động song song tồn tại cùng với hoạt
động dạy của thày giáo. Vì vậy quản lý hoạt động của học sinh sinh cần phải đạt được
những yêu cầu chủ yếu sau.
- Phải làm cho học sinh có thái độ đúng đắn trong học tập và rèn luyện, ham thích
đến trường, đến lớp ham học các môn học, tự giác tìm tòi phát hiện vấn đề, chủ động lĩnh
hội kiến thức, biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục.
- Phải tổ chức hướng dẫn cho học sinh học tập, giúp học sinh học tập có phương pháp,
nắm được các phương pháp học tập ở từng môn .
- Phải làm cho học sinh có nề nếp thói quen học tập tốt, làm cho hoạt động học tập
ở nhà trường có kỷ luật, có trật tự.
15
- Kết quả kiểm tra, xếp loại phản ánh được khả năng học tập của học sinh. Kết quả
này giúp cho học sinh nhận ra mặt mạnh, mặt hạn chế để vươn lên đồng thời nó giáo dục
cho học sinh tính trung thực trong học tập, cuộc sống. Việc quản lý học tập của học sinh
phải được thực hiện đầy đủ, toàn diện và mang tính giáo dục cao. Quản lý hoạt động học
tập của học sinh bao gồm các nội dung sau:
1) Quản lý việc giáo dục phương pháp học tập cho học sinh:
Phương pháp học tập là vấn đề hết sức quan trọng trong việc nâng cao
chất lượng học tập của học sinh. Vì vậy quản lý việc hướng dẫn phương pháp học tập cho
học sinh cần phải đạt được những yêu cầu chủ yếu là:
- Làm cho học sinh nắm được kỹ năng chung của hoạt động học tập.
- Làm cho học sinh có kỹ năng học tập phù hợp với từng bộ môn.
- Giúp học sinh có phương pháp học tập ở trên lớp.
- Giúp cho học sinh có phương pháp học tập ở nhà.
Để đạt được những yêu cầu trên, hiệu trưởng phải tổ chức học tập nghiên cứu, bồi
dưỡng để toàn thể giáo viên trong nhà trường nắm vững và thống nhất các phương pháp
học tập và trách nhiệm của các đối tượng, từ đó vạch vạch ra kế hoạch chỉ đạo thực hiện
và thường xuyên kiểm tra đôn đốc điều chỉnh, uốn nắn kịp thời biểu hiện những sai lệch
nhằm thực hiện có hiệu quả việc giáo dục phương pháp học tập cho học sinh.
phần nâng cao hiệu quả học tập thực hiện được mục tiêu giáo dục đề ra.
16
c. Quản lý cơ sở vật chất - thiết bị dạy học.
Cơ sở vật chất là điều kiện tiên quyết cho nhà trường hình thành và đi vào hoạt
động, là điều kiện không thể thiếu được trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Cơ sở vật
chất - thiết bị dạy học của nhà trường là hệ thống các phương tiện vật chất - kỹ thuật dạy
và học của nhà trường.
Quản lý cơ sở vật chất - thiết bị dạy học phục vụ cho dạy và học đảm bảo được 3 yêu
cầu liên quan mật thiết với nhau đó là:
- Đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất - thiết bị dạy và học.
- Sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất - thiết bị trong việc dạy và học.
- Tổ chức QL tốt cơ sở vật chất - thiết bị dạy và học trong nhà trường.
Nội dung quản lý cơ sở vật chất - thiết bị dạy học phục vụ dạy và học trong nhà
trường bao gồm:
- Quản lý lớp học, phòng học, các đồ dùng trong lớp học.
- Quản lý các trang thiết bị phục vụ dạy học, hoạt động của các phòng bộ môn,
phòng thực hành, thí nghiệm và các phòng chức năng khác.
- Quản lý thư viện trường học với các giáo trình, tài liệu sách báo
- Quản lý đồ dùng học tập của học sinh.
d. Quản lý nguồn kinh phí chi cho hoạt động dạy và học :
Trong bất kỳ tổ chức đơn vị nào thì nguồn kinh phí tài chính đóng vai trò rất quan
trọng trong việc duy trì các hoạt động dạy và học trong nhà trường, nó là nguồn lực dùng
để chi trả lương cho cán bộ, giáo viên, khen thưởng giáo viên, học sinh có thành tích trong
dạy và học.
Ngoài nguồn ngân sách của nhà nước chi thường xuyên cho trường chiếm tỷ lệ rất lớn thì
nhà trường còn tạo nguồn kinh phí bằng nhiều cách như:
- Kinh phí được trích từ nguồn học phí, qua việc dạy các lớp tại chức trong và ngoài
trường, lớp bồi dưỡng cán bộ, các lớp đào tạo liên kết với các huyện
- Kinh phí được chi cho các hoạt động chuyên môn như: hoạt động đào tạo, hội thi, thao
giảng, thí nghiệm thực hành, chi khen thưởng cho cán bộ, giáo viên và học sinh có thành
Nền kinh tế của tỉnh Bắc Giang tăng trưởng khá. Trong 5 năm từ 2001 - 2005, tốc độ tăng
trưởng bình quân hàng năm đạt 8,3%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực.
Năm 2005 tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng chiếm 43,5%, công nghiệp - xây
dựng chiếm 22%; dịch vụ chiếm 34,5%. GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 305
USD. Các thành phần kinh tế được khuyến khích và phát triển đúng hướng. Việc đầu tư
phát triển có chuyển biến mới. Sự nghiệp GD&ĐT của tỉnh đạt nhiều thành tựu đáng kể.
Sự nghiệp khoa học - công nghệ và môi trường có bước chuyển biến tích cực. Các lĩnh
vực văn hoá - xã hội có tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện. Song nền kinh tế của
tỉnh nhà còn không ít khó khăn, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, tốc độ phát triển chậm,
đời sống vật chất tinh thần của một số bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, bên
cạnh do tác động của mặt trái cơ chế thị trường. Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ nét.
chính những đặc điểm kinh tế - xã hội ấy đã có những tác động thuận lợi, nhưng cũng
không ít khó khăn cho giáo dục - đào tạo.
18
Thuận lợi: Môi trường giáo dục thuần nhất, nhịp sống khẩn trương náo nhiệt của nền kinh
tế thị trường chưa thâm nhập sâu và tác động đến nhà trường. Truyền thống cần cù chịu
khó và hiếu học của người Kinh bắc đã tác động nhiều đến quá trình học tập của học sinh.
Đội ngũ giáo viên có điều kiện tiếp xúc gần gũi đồng cảm với điều kiện hoàn cảnh học
sinh phần nào tăng thêm tình thương yêu tận tụy với nghề nghiệp, đó cũng là yếu tố cơ
bản giúp cho các trường trong tỉnh nhiều năm qua giữ vững ổn định, nâng cao chất lượng
dạy học và phát triển trong những năm gần đây.
Khó khăn: Mức thu nhập của dân bình quân trên đầu người trong tỉnh còn thấp, chưa đạt
bình quân đầu người của cả nước, thu nhập chính dựa vào sản xuất nông nghiệp, trình độ
dân trí chưa cao. Việc huy động cộng đồng tham gia vào công tác giáo dục còn nhiều hạn
chế. Đầu tư cho học tập chưa cao. Một bộ phận nhân dân còn ỷ lại, khoán trắng cho nhà
trường, thờ ơ và chưa quan tâm đến con em mình về việc học tập và việc làm sau này.
b. Phương hướng phát triển đến năm 2010.
- Tập trung đầu tư phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp nâng cao tỷ trọng công
nghiệp, dịch vụ giữ vững, ổn định sản xuất lương thực, chuyển nông nghiệp theo hướng
sản xuất hàng hoá; đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu theo
trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang được xác định là:
- Đào tạo cán bộ Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật với 3 chuyên ngành là:
+ Ngành hạch toán - kế toán ;
19
+ Ngành quản lý kinh tế ;
+ Ngành kỹ thuật nông nghiệp.
- Bồi dưỡng và đào tạo lại cán bộ, công chức QL kinh tế theo yêu cầu của Bộ GD&ĐT,
Bộ tài chính và các cơ quan đơn vị có nhu cầu.
- Thực hiện quan hệ hợp tác, liên kết với các cơ quan, tổ chức, trường Cao đẳng kinh tế,
các đơn vị sản xuất kinh doanh trong nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ .
- Tổ chức công tác nghiên cứu, triển khai khoa học quản lý kinh tế, khoa học giáo dục,
thực hiện gắn đào tạo với nghiên cứu thực nghiệm khoa học và lao động sản xuất nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo theo yêu cầu phát triển ngày càng cao của sản xuất - kinh
doanh.
2) Quy mô đào tạo của nhà trường:
Bảng 2.1: Quy mô đào tạo từ năm 2003 đến năm 2010.
TT
Hệ đào tạo Lưu lượng học sinh - sinh viên Dự kiến 2010
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
1 Đại học - - - - - - - 100
2 Cao đẳng - - - - 150 600 650 450
3 Trung cấp 415 530 550 580 350 50 50 50
4 Liên kết ĐT - - - - 100 100 100 100
Tổng cộng 415 530 550 580 600 750 800 700
Quy mô đào tạo của trường thực hiện qua 3 giai đoạn :
- Năm 2005: Hoàn chỉnh trường theo điều lệ trường trung cấp chuyên
nghiệp ( xem quy mô ĐT ở biểu 1 ).
- Năm 2007: Nâng cấp trường lên Cao đẳng (xem quy mô ĐT ở biểu 2)
- Năm 2010: Trở thành 2 khoa của trường Đại học Bắc Giang.
( xem quy mô ĐT ở biểu 3).
thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho tỉnh.
- Việc nâng cấp trường từ trung cấp chuyên nghiệp lên trường Cao đẳng vào năm 2007 và
nhập vào trường Đại học năm 2010 là một yêu cầu có tính khách quan và hoàn toàn phù
hợp với NQTW2 khoá VIII về GD&ĐT và Nghị quyết TW5.
1) Mục tiêu đào tạo:
- Đào tạo các hệ từ sơ cấp đến đại học, trước mắt là các ngành hạch toán
kế toán, kỹ thuật nông nghiệp, quản lý kinh tế, lâu dài sẽ mở rộng đào tạo một số ngành
nghề khác phục vụ sự phát triển kinh tế của tỉnh nhà.
- Đào tạo những học sinh có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có ý thức thức phục vụ nhân
dân, có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành về một ngành nghề, có khả năng phát
hiện, giải quyết những vấn đề thông thường thuộc về chuyên ngành đào tạo .
- Phấn đấu đến năm 2007 nâng cấp trường thành trường Cao đẳng, Kinh tế - Kỹ thuật, đến
năm 2010 sát nhập với trường Đại học Bắc giang.
2) Chuyên ngành đào tạo, đối tượng tuyển sinh .
Đào tạo cán bộ có trình độ từ sơ cấp đến Đại học tài chính kế toán, kỹ thuật nông nghiệp
và quản lý kinh tế các ngành nghề đào tạo như sau:
- Hạch toán kế toán gồm:
+ Kế toán doanh nghiệp sản xuất kinh doanh .
+ Kế toán hành chính sự nghiệp,
+ Kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ .
- Tài chính tiền tệ:
+ Quản lý ngân sách nhà nước.
+ Quản lý ngân sách xã, phường .
- Ngành kỹ thuật nông nghiệp gồm:
+ Chăn nuôi thú y, địa chính, trồng trọt, cơ khí nông nghiệp
+ Thuỷ sản .
+ Quản lý kinh tế nông lâm .
- Hàng năm tuyển khoảng 600 học sinh hệ chính quy tập trung, 500 học viên tại chức và
đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn cho 1000 người.
21
khá giỏi ở các trường phổ thông có nguyện vọng vào trường rất ít chủ yếu là những học
sinh có lực học trung bình.
Số học sinh khá, giỏi có nguyện vọng thi vào trường là rất ít nguyên nhân chính là do:
sau khi tốt nghiệp ở trường cơ hội xin việc làm là rất khó vì nhu cầu sử dụng về kế toán và
cán bộ chăn nuôi thú y ở các cơ quan nhà nước, trường học, doanh nghiệp cơ bản đã đủ
không có nhu cầu tuyển dụng.
Chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm của trường có chính sách ưu tiên, dành cho học sinh vùng
sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số. Số học sinh này chủ yếu có học lực trung bình, thậm chí có
cả học lực yếu, bên cạnh đó còn nhiều hạn chế về thông tin, văn hoá, giao lưu xã hội, điều
đó cũng tạo nên những khó khăn nhất định trong quá trình giảng dạy và học tập tại trường.
Qua khảo sát thực trạng tại trường cho thấy chất lượng tuyển sinh được thể hiện qua bảng
sau:
Bảng 2.2: Điểm tuyển sinh vào trường qua các năm học.
Điểm
thi
Ngành học Điểm tuyển sinh đầu vào tổng 2 môn Văn + Toán
2000 -2001 2001-2002 2002-2003 2003-2004
Kế toán 8,0 9,0 8,5 9,5
Kỹthuật NN 6,0 7,0 7,5 7,5
22
Như vậy chất lượng văn hóa tuyển sinh của trường là thấp tổng 2 môn Văn và Toán chưa
được điểm 10, trung bình mỗi môn chưa được 5 điểm. Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ
thuật Bắc Giang có điểm tuyển sinh thấp so với các trường chuyên nghiệp trong tỉnh. (từ
năm học 2005-2006 trở đi trường xét tuyển).
b. Tỷ lệ học sinh lên lớp, học sinh khá giỏi và tốt nghiệp.
Nhà trường đã có nhiều biện pháp thiết thực để nâng cao chất lượng ĐT, tuy đã có sự bứt
phá, có bước ngoặc mới về chất lượng ĐT thực chất trong các năm học vừa qua song vẫn
ở tình trạng chất lượng thấp so với yêu cầu sử dụng.
Bảng 2.3: Kết quả học tập qua các năm học từ 2000- 2005
Năm học Lên lớp Khá giỏi Tốt nghiệp
- Từ 40 - 50 : 09 = 30 %
- Từ 50 trở lên : 03 = 10 %
3/ Trình độ chuyên môn và thâm niên giảng dạy:
23
Đơn vị
Hiện
có
Học
hàm Học vị Thâm niên giảng dạy GV dạy giỏi Thành tích cá nhân
TS
Th.S
ĐH <10
Năm 10-15
Năm Trên20
Năm
Cơ sở Tỉnh và toàn
quốc Bằng
khen Chiến sĩ thi đua Nhà
giáo ưu tú
BGH 02 01 01 01 01 02 02
01
Phòng ĐT 02 02 01 01 01 01
01
Phòng CTHS 02 02 02
Tổ Kinh tế 14 14 11 02 01 02 01
01
Tổ môn chung 10 10 06 01 03 02 01
01
Cộng 30 01 29 17 05 08 05 05 05
01
đòi hỏi đào tạo nguồn lực phục vụ cho nhiều cấp như kế toán trưởng, kế toán viên, bậc sơ
cấp, bồi dưỡng ngắn hạn Vì vậy khi thiết kế nội dung phải tạo ra sự gia tăng (về khối
lượng kiến thức và số tiết môn học ), sự khác biệt giữa các bậc học.
- Qua 20 giáo viên được hỏi về việc đánh giá chương trình đào tạo hệ trung học kết quả đã
cho thấy: tính khoa học 66%. tính thực tiễn 56%, tính hệ thống 54%. Tính cơ bản 86%,
đảm bảo tỷ lệ lý thuyết và thực hành 53%, tính cập nhật thông tin 45%, tính hiện đại 33%
và tính chuyên sâu 39%.
- Từ kết quả đánh giá cho thấy mặt mạnh trong chương trình đào tạo đó là khối lượng
kiến thức cơ bản, tỷ lệ giữa lý thuyết và thực hành, thực tập, khả năng đáp ứng nhu cầu sử
dụng của các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước là phù hợp. Từ đó cho thấy việc bố trí thời
gian thực tập tại các cơ sở trong nội dung chương trình đào tạo có ý nghĩa quan trọng.
Chính điều đó cho phép đánh giá hiệu quả đào tạo thông qua mối quan hệ giữa mục tiêu
đào tạo, kết quả đào tạo( đạt chất lượng trong ) với nhu cầu xã hội ( đạt chất lượng ngoài).
2.2.3.2. Quản lý hoạt động dạy của đội ngũ giáo viên.
Trường xác định quản lý hoạt động dạy của giáo viên thực chất là quản lý việc thực hiện
các nhiệm vụ của đội ngũ GV và từng giáo viên, phấn đấu đến năm 2007 trường đủ số
lượng giáo viên theo biên chế của khoa, nâng cấp lên trường Cao đẳng.
Đội ngũ giáo viên được đào tạo cơ bản, có trình độ ngoại ngữ, tin học theo quy định của
Bộ GD&ĐT có khả năng nghiên cứu khoa học, cập nhật kiến thức, thông tin mới đáp ứng
nhiệm vụ giảng dạy của trường trong tình hình mới.
a. Quản lý việc lập kế hoạch của giáo viên.
Việc lập kế hoạch của đội ngũ giáo viên cũng như từng giáo viên là khâu có tính chất
tiền đề, định hướng cho toàn bộ quá trình hoạt động dạy học của giáo viên và cũng là cơ
sở cho việc quản lý giáo viên. Việc quản lý kế hoạch hoạt động của giáo viên nằm trong
hệ thống quản lý hoạt động dạy học của trường, chỉ tiêu nhiệm vụ năm học, kế hoạch
giảng dạy của phòng, tổ bộ môn và từng giáo viên.
Như vậy để đánh giá thực trạng quản lý việc lập kế hoạch của đội ngũ giáo viên của
trường tác giả đề tài đã xin ý kiến đánh giá của 30 cán bộ quản lý và giáo viên nhà trường
kết quả thể hiện ở bảng như sau:
Bảng 2.6: Thực trạng QL hoạt động lập kế hoạch của đội ngũ giáo viên.