Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng
dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật
Bắc Giang
Mở đầu
1 . Lý do chọn đề tài.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã quyết định đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước, phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và
văn minh. Để thực hiện được mục tiêu đó yếu tố quyết định thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH
ở nước ta chính là chất lượng nguồn lực con người. Chất lượng nguồn lực con người lại phụ
thuộc chủ yếu vào chất lượng giáo dục. Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục đào tạo
là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội
Nghị quyết lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII cũng đã chỉ rõ: "Giáo dục
và đào tạo hiện nay phải có một bước chuyển nhanh chóng về chất lượng và hiệu quả đào
tạo, về số lượng và quy mô đào tạo, nhất là chất lượng dạy học trong các nhà trường, nhằm
nhanh chóng đưa giáo dục - đào tạo đáp ứng yêu cầu mới của đất nước. Thực hiện nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển
đất nước" 27.
Nâng cao chất lượng dạy học là nhiệm vụ cơ bản đầu tiên của các nhà trường, đây chính là
điều kiện để nhà trường tồn tại và phát triển. Thực chất của công tác quản lý nhà trường là
quản lý hoạt động dạy học, công việc này được tiến hành thuờng xuyên, liên tục qua từng
giờ dạy học, qua các học kỳ và từng năm học, đây là điều kiện tất yếu để đảm bảo chất
lượng giáo dục đào tạo của nhà trường đáp ứng yêu cầu mục tiêu đề ra.
Chất lượng dạy học ở các trường trung cấp chuyên nghiệp hiện nay và chất lượng đào tạo
nói chung đã có nhiều tiến bộ trên một số mặt về khoa học tự nhiên và kỹ thuật. Nhiều nơi
đã xuất hiện những nhân tố mới, phong trào học tập sôi nổi, dân trí từng bước được nâng
lên. Tuy nhiên chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng dạy học nói riêng còn nhiều yếu
kém, bất cập.
Đáng quan tâm là chất lượng, hiệu quả đào tạo còn thấp, chưa đáp ứng được những đòi hỏi
ngày càng cao về nguồn nhân lực của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo
vệ tổ quốc, thực hiện CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN.
tế - Kỹ thuật Bắc Giang.
4. Giả thuyết khoa học:
Chất lượng dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang hiện nay vẫn
còn có những hạn chế. Nếu áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, đồng bộ các biện pháp
quản lý được đề xuất trong đề tài nghiên cứu thì chất lượng dạy học của nhà trường sẽ được
nâng cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý dạy học ở trường trung cấp.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng dạy học và quản lý quá trình dạy học ở trường Trung cấp
Kinh tế- Kỹ thuật Bắc Giang.
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường
Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao
chất lượng dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang trong khoảng thời
gian 5 năm (2001 - 2005).
7. Phương pháp nghiên cứu:
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp phân tích tổng hợp lý thuyết.
- Phương pháp hệ thống hóa lý thuyết.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi.
- Phương pháp phỏng vấn.
- Phương pháp chuyên gia.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục.
7.3. Phương pháp thống kê, lập bảng, tổng kết đánh giá.
8. Cấu trúc luận văn:
- Mở đầu
- Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý dạy học ở trường trung cấp
chuyên nghiệp.
đẳng... Song đến nay chưa có đề tài nào đề cập đến việc nghiên cứu tìm ra các biện pháp
quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường Trung cấp kinh tế - kỹ thuật Bắc
Giang. Với đề tài này tác giả sẽ phân tích thực trạng quá trình dạy học và quản lý quá trình
dạy học của nhà trường, từ đó đưa ra một số biện pháp quản lý góp phần vào việc nâng cao
chất lượng DH nhằm đưa sự nghiệp GD&ĐT ở Tỉnh Bắc Giang ngày càng ổn định và phát
triển.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài:
1.2.1 . Khái niệm quản lý.
Quản lý hình thành cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người. Khi xã hội loài người phát
triển qua các phương thức sản xuất khác nhau thì trình độ tổ chức và điều hành xã hội ngày
càng được nâng cao. Sự phát triển của xã hội dựa vào nhiều yếu tố, trong đó có 3 yếu tố cơ
bản: tri thức, sức lao động và trình độ quản lý. Mọi hoạt động xã hội đều cần đến hoạt động
quản lý và hoạt động quản lý cũng chính do con người tiến hành. Người quản lý và đối
tượng được quản lý, sự cần thiết của quản lý được C.Mác viết: "Tất cả mọi lao động trực
tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến
3
một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung,
phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những cơ quan
độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một
dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng".
(C. Mác và ăngghen - Toàn tập, tập 23 trang 34-NXB Chính trị Quốc gia).
Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch
của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý)
nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến"[31; 35].
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Bản chất của hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ
thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới. Do đó
được xác định là:
+ Quản lý = Quản + lý
Trong đó:
- Quản là chăm sóc, giữ gìn sự ổn định.
quá trình quản lý được diễn ra tuần tự từ chức năng kế hoạch đến các chức năng tổ chức,
chỉ đạo và kiểm tra. Song, trong thực tế các chức năng này đan xen, hỗ trợ lẫn nhau trong
quá trình thực hiện. Chất xúc tác và liên kết giữa các chức năng cơ bản này là thông tin
quản lý và các quyết định QL.
4
Các chức năng quản lý tạo thành quá trình quản lý có thể được mô tả theo sơ đồ hình vẽ
sau:
Hình 1.1: Sơ đồ về quá trình quản lý . [2, 21 ]
- Chức năng kế hoạch: là một chức năng, một khâu quan trọng nhất trong hoạt động quản
lý, lập kế hoạch là hoạt động nhằm thiết lập các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của một
tổ chức, chỉ ra các hoạt động, những biện pháp cơ bản và các điều kiện cần thiết để thực
hiện mục tiêu đó. Kế hoạch là nền tảng của quản lý, là sự quyết định lựa chọn đường lối
hành động của một tổ chức và các bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục
tiêu của tổ chức.
- Chức năng tổ chức: là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc quyền hành và các nguồn lực
cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách
hiệu quả. ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức đơn vị cũng khác
nhau. Nhờ tổ chức phù hợp mà người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn nguồn
nhân lực và các điều kiện nguồn lực khác nhằm đạt tới mục tiêu.
- Chức năng lãnh đạo: là quá trình nhà quản lý dùng ảnh hưởng của mình tác động đến con
người trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu để đạt được mục tiêu
của tổ chức. Vai trò của người lãnh đạo là phải chuyển được ý tưởng của mình vào nhận
thức của người khác, hướng mọi người trong tổ chức về mục tiêu chung của đơn vị.
- Chức năng kiểm tra: kiểm tra là một chức năng quan trọng của QL, quản lý mà không
kiểm tra thì coi như không có quản lý. Nhờ có hoạt động kiểm tra mà người quản lý đánh
giá được kết quả công việc, uốn nắn, điều chỉnh kịp thời những hạn chế từ đó có biện pháp
phù hợp điều chỉnh kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo.
- Thông tin: thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý. Thông tin là tin
tức được chuyển giao, lưu trữ trong các bộ máy quản lý, nhằm giúp nhà quản lý điều hành
bộ máy, thiếu tin tức nhà quản lý không thể thực hiện được các hoạt động quản lý. Thông
cấu trúc lên hệ thống giáo dục quốc dân, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục. Khi
nghiên cứu về nội dung khái niệm quản lý giáo dục thì khái niệm trường học được hiểu là tổ
chức cơ sở mang tính nhà nước- xã hội trực tiếp làm công tác GD&ĐT thế hệ trẻ cho tương
lai đất nước.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu
của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các
nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng
vốn tự có. Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá
trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà
trường tiến lên trạng thái mới ” [31; tr43].
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “ Quản lý nhà trường là lao động của các cơ quan quản lý
nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác,
cũng như huy động tối đa các nguồn lực để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong
nhà trường ” [40; 205].
Tóm lại: “ Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi
trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới
mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học
sinh”
Quản lý nhà trường bao gồm tác động của những chủ thể quản lý bên trong và bên ngoài
nhà trường:
+Tác động của những chủ thể QL bên trên và bên ngoài nhà trường.
Quản lý nhà trường là những tác động quản lý của các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên
nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập, giáo dục của nhà
trường. Quản lý nhà trường cũng gồm những chỉ dẫn, quyết định của những thực thể bên
ngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường. Như cộng đồng được đại
diện dưới hình thức hội đồng nhà trường (Hội đồng giáo dục) nhằm định hướng sự phát
triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó.
+ Tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường.
Đó là tác động của bộ máy quản lý của nhà trường tới từng thành tố như: mục đích giáo
dục, nội dung, phương pháp giáo dục, đội ngũ giáo viên, cán bộ nhân viên, tập thể học sinh
Hình 1.3: Sơ đồ cấu trúc quá trình DH theo tiếp cận hoạt động. [9;30].
7
Từ những quan niệm trên cho thấy quá trình dạy học là một quá trình
mà ở đó phải đồng thời diễn ra hai hoạt động: hoạt động dạy của thầy và hoạt
động học của trò, hai hoạt động này đan quyện vào nhau, vì nhau, phối hợp với nhau, thiếu
một trong hai hoạt động thì quá trình dạy học không diễn ra.
Hoạt động dạy học làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một
cách có hệ thống cơ bản, có những ký năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập,
lao động và đời sống. Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành
những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của học sinh, hình thành ở học sinh thế
giới quan khoa học, lòng yêu tổ quốc, yêu CNXH, đó chính là động cơ học tập trong nhà
trường và định hướng hoạt động của học sinh.
Theo cách tiếp cận hệ thống, quá trình dạy học là một hệ bao gồm các thành tố cơ bản như:
mục đích dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học, giáo viên. học sinh, kết quả dạy
học … các thành tố này quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình
dạy học.
b. Quản lý quá trình dạy học.
Quản lý hoạt động dạy học là quản lý một quá trình với tư cách là một hệ toàn vẹn,
bao gồm các thành tố cơ bản: mục đích, nhiệm vụ, nội dung dạy học, thày với hoạt động
dạy, trò với hoạt động học, các phương pháp và phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức
dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả dạy học. Tất cả các thành tố này tồn tại trong mối quan
hệ qua lại và thống nhất với môi trường của nó: môi trường xã hội - chính trị và môi trường
khoa học - kinh tế - công nghệ. Điều đó có nghĩa là chủ thể quản lý phải tác động vào toàn
bộ các thành tố của hoạt động dạy học theo quy luật tâm lý, giáo dục học, lý luận về quản lý
để đưa hoạt động dạy học từ trạng thái này sang trạng thái cao hơn để dần tiến tới mục tiêu
giáo dục .
Hoạt động dạy học vận động và phát triển là do các nhân tố cấu thành của nó vận
động và tương tác với nhau nhằm thực hiện mục tiêu của quá trình, góp phần thực hiện mục
đích giáo dục nói chung. Vì vậy quản lý hoạt động dạy học vừa phải làm sao cho mỗi nhân
tố có được lực tác động đủ mạnh, lại vừa đảm bảo sự vận động nhịp nhàng, hài hoà và
Quá trình đào tạo
Kiến thức - K
Kĩ năng - S Thái độ và Người tốt nghiệp
hành vi - AB
(Theo chương trình đào tạo ) - Đặc trưng, giá trị nhân
cách, XH, nghề nghiệp.
- Giá trị sức lao động .
- Năng lực hành nghề .
- Trình độ chuyên môn
nghề nghiệp (kiến thức
kỹ năng ...)
- Năng lực thích ứng với
thị trường lao động .
- Năng lực phát triển
nghề nghiệp .
Hình 1.4: Quan hệ giữa mục tiêu và chất lượng đào tạo [11; 34]
b. Những yếu tố tạo nên chất lượng dạy học.
Quá trình dạy học được cấu thành bởi nhiều thành tố, mỗi thành tố có vị trí xác
định, có chức năng riêng, tác động qua lại với nhau và vận động theo quy luật chung, tạo
nên chất lượng toàn diện của hệ thống. Chúng ta thường xuyên nghiên cứu để hoàn thiện
từng thành tố của quá trình dạy học, nâng cao chất lượng của chúng, góp phần hoàn thiện
chất lượng của toàn bộ hệ thống mà tựu chung là chất lượng dạy học, chất lượng giáo dục.
Dạy học có chất lượng chính là việc thực hiện tốt các nhiệm vụ: cung cấp kiến thức,
rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ. Thực hiện tốt 3 nhiệm vụ đó sẽ làm cho hiệu quả dạy
học ngày càng cao, chất lượng dạy học ngày càng được nâng lên.
Chất lượng dạy học nó được quy tụ bảo đảm ở những yếu tố sau:
1- Mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo.
2- Đội ngũ giáo viên.
3- Hoạt động dạy của giáo viên.
4- Hoạt động học của học sinh.
trên cơ sở thẩm định của Hội đồng thẩm định do Hiệu trưởng thành lập.
- Thực hiện các hoạt động thực nghiệm, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và phát triển công
nghệ, tham gia giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước:
- Thực hiện các dịch vụ khoa học, công nghệ, sản xuất kinh doanh phù hợp với ngành nghề
ĐT và các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
- Quản lý giáo viên cán bộ và nhân viên .
- Tuyển sinh và quản lý học sinh .
- Phối hợp với gia đình HS, các tổ chức cá nhân trong hoạt động GD&ĐT.
- Tổ chức cho giáo viên, cán bộ nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã hội.
- Quản lý và sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp
luật.
- Liên kết với các tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội, các cơ sở đào tạo nhằm phát triển công
tác đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với việc làm, phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội, bổ sung nguồn tài chính cho trường.
- Sử dụng nguồn thu từ ngân sách nhà nước cấp, từ hoạt động kinh tế để đầu tư xây dựng cơ
sở vật chất của trường, mở rộng sản xuất, kinh doanh theo ngành, nghề và cho cho các hoạt
động giáo dục, ĐT theo quy định của pháp luật.- Hợp tác về đào tạo, nghiên cứu khoa học
với nước ngoài theo quy định của Chính phủ.
10
- Được nhà nước giao đất, được thuê đất, được miễn giảm thuế và vay tín dụng theo quy
định của pháp luật ;
- Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật .
1.3.2. Nội dung quản lý hoạt động dạy học ở trường trung cấp.
Quản lý hoạt động dạy và hoạt động học là nội dung chủ yếu trong việc quản lý quá trình
dạy học ở trường trung cấp chuyên nghiệp. Tuy nhiên quản lý hoạt động dạy học cần được
thực hiện một cách đồng bộ và đan xen với việc quản lý các thành tố cơ bản của quá trình
dạy học. Nội dung cụ thể được thể hiện ở các vấn đề sau:
a. Quản lý hoạt động dạy của thày:
Hoạt động dạy của thày là hoạt động chủ đạo trong quá trình dạy học, quản lý hoạt động
này bao gồm: QL việc thực hiện kế hoạch, chương trình dạy, quản lý việc soạn bài và chuẩn
Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị bài trước khi lên lớp phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Đảm bảo tính tư tưởng, tính giáo dục của bài giảng.
- Thực hiện soạn bài phải đúng quy chế, chu đáo trước khi lên lớp, chống việc soạn để đối
phó với kiểm tra.
- Đảm bảo nội dung, tri thức khoa học mang tính giáo dưỡng. Đưa việc soạn bài, chuẩn bị
lên lớp vào nề nếp, nghiêm túc và đảm bảo chất lượng.
11
- Chỉ đạo không rập khuôn máy móc, đảm bảo và khuyến khích tính tích cực, tự giác và
sáng tạo của giáo viên.
Để soạn bài chuẩn bị lên lớp của giáo viên có thể thực hiện theo một kế
hoạch đồng bộ và có hiệu quả, hiệu trưởng nhà trường cần phải phân công trách nhiệm cụ
thể cho cán bộ giáo viên trong nhà trường, tạo mọi điều kiện để họ thực hiện tốt việc soạn
bài và chuẩn bị lên lớp, có kế hoạch thường xuyên kiểm tra, theo dõi khuyến khích kịp thời,
đồng thời điều khiển những sai lệch nhằm thực hiện đúng những quy định đề ra.
3) Quản lý giờ lên lớp của giáo viên.
Hoạt động dạy và học trong nhà trường hiện nay được thực hiện chủ yếu bằng hình thức
dạy và học trên lớp, với những giờ lên lớp và hệ thống bài học cụ thể. Chính vì vậy trong
quá trình quản lý dạy và học của mình người quản lý phải có những biện pháp tác động cụ
thể, phong phú và linh hoạt để nâng cao chất lượng giờ lên lớp của giáo viên, đó là việc
làm của hiệu trưởng, là trách nhiệm của người quản lý.
Quản lý giờ lên lớp của giáo viên phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu sau:
- Xây dựng được “ chuẩn ” giờ lên lớp để quản lý giờ lên lớp của giáo viên. Chuẩn này
ngoài những quy định chung của ngành như thông tư 13/TT- GD&ĐT ngày 12/9/1994. Cần
thường xuyên bổ sung, điều chỉnh để thực hiện được sự tiến bộ chung của trường và của
giáo viên trong trường.
- Phải xây dựng nề nếp giờ lên lớp cho thày và trò nhằm đảm bảo tính nghiêm túc
trong mọi hoạt động hết sức nhịp nhàng của nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng dạy
học.
- Phải tác động đến giờ lên lớp một cách tích cực và càng trực tiếp càng tốt để mọi
giờ lên lớp thực hiện đúng mục tiêu .
thực hiện nề nếp chuyên môn. Nhưng hồ sơ chuyên môn của giáo viên không thể xem đồng
nghĩa với năng lực giảng dạy của giáo
viên trên lớp. Nó chỉ là điều kiện cần thiết.
Hồ sơ của giáo viên phục vụ hoạt động dạy học theo Điều 37, Điều lệ trường trung học
chuyên nghiệp gồm:
- Giáo trình
- Giáo án lý thuyết
- Giáo án thực hành
- Sổ tay giáo viên, sổ dự giờ.
- Lịch giảng dạy.
Trong quá trình quản lý hiệu trưởng cần hướng dẫn cụ thể yêu cầu của từng loại hồ sơ, cần
kết hợp với phó hiệu trưởng chuyên môn và tổ trưởng chuyên môn thường xuyên kiểm tra
bằng nhiều hình thức khác nhau để kịp thời điều chỉnh những sai lệch trong hoạt động dạy
và học.
6) Quản lý hoạt động kiểm tra- đánh giá kết quả học tập của HS.
Kiểm tra đánh giá là bộ phận hợp thành, không thể thiếu được trong quá trình dạy học ở tất
cả các môn học. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh được tồn tại đồng thời với
quá trình dạy học, đó là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ và khả năng thực
hiện nhiệm vụ học tập của học sinh, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp phù hợp giúp học
sinh học tiến bộ.
Cũng chính qua việc quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá học sinh của giáo viên, người
quản lý sẽ nắm bắt được chất lượng dạy và học của người dạy lẫn người học, việc quản lý
hoạt động kiểm tra kết quả học tập của học sinh là điều rất quan trọng.
Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, là việc làm hết sức cần thiết của người
quản lý nhằm tác động trực tiếp đến giáo viên thực hiện đầy đủ và chính xác quá trình kiểm
tra đánh giá, thúc đẩy quá trình nâng cao hiệu quả dạy học theo mục tiêu. Quản lý hoạt động
kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh phải đạt được những yếu cầu cơ bản sau đây:
- Phải thực hiện nghiêm chỉnh quy chế chuyên môn của nhà trường thông qua điểm số,
đánh giá chất lượng học của HS và giảng dạy của giáo viên, từ đó rút ra được những vấn đề
cần phải điểu chỉnh, uốn nắn và bổ sung, giúp cho người QL chỉ đạo hoạt động này một
- Làm cho học sinh có kỹ năng học tập phù hợp với từng bộ môn.
- Giúp học sinh có phương pháp học tập ở trên lớp.
- Giúp cho học sinh có phương pháp học tập ở nhà.
Để đạt được những yêu cầu trên, hiệu trưởng phải tổ chức học tập nghiên cứu, bồi
dưỡng để toàn thể giáo viên trong nhà trường nắm vững và thống nhất các phương pháp
học tập và trách nhiệm của các đối tượng, từ đó vạch vạch ra kế hoạch chỉ đạo thực hiện và
thường xuyên kiểm tra đôn đốc điều chỉnh, uốn nắn kịp thời biểu hiện những sai lệch nhằm
thực hiện có hiệu quả việc giáo dục phương pháp học tập cho học sinh.
2) Quản lý nề nếp thái độ học tập cho học sinh:
Nề nếp học tập, kỷ luật học tập của học sinh là những điều quy định cụ thể về tinh
thần, thái độ, hành vi ứng xử nhằm làm cho hoạt động học tập được hoạt động nhịp nhàng
và có hiệu quả. Nề nếp học tập sẽ quyết định nhiều đến kết quả học tập. Vì vậy cần phải
xây dựng và hình thành được những nề nếp học tập sau đây:
- Phải xây dựng cho học sinh có tinh thần, thái độ học tập tốt, chuyên cần, chăm chỉ,
có nề nếp học bài và làm bài đầy đủ.
- Giúp học sinh có nề nếp tổ chức học tập ở trường cũng như ở nhà và những nơi
sinh hoạt văn hóa...
- Nề nếp sử dụng, bảo quản và chuẩn bị đồ dùng học tập.
- Xây dựng được nề nếp khen thưởng, kỷ luật, chấp hành nề nếp nội quy học tập cho
học sinh.
Như vậy có xây dựng được nề nếp học tập tốt sẽ duy trì mọi hoạt động
học tập tốt, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Vì vậy hiệu trưởng nhà trường phải
thường xuyên theo dõi, kiểm tra, nhận xét tình hình thực hiện nề nếp và phân công trách
nhiệm cụ thể cho các đối tượng để phối hợp thực hiện
, tạo môi trường thuận lợi cho sự giáo dục của nhà trường.
3) Phối hợp các lực lượng giáo dục QL hoạt động học tập của học sinh.
Hoạt động của học sinh trong nhà trường diễn ra trong không gian và thời gian tương đối
rộng, hoạt động học tập chủ yếu là học trên lớp và ở nhà, vì vậy cần phải tổ chức phối hợp
giữa giáo viên chủ nhiệm, đoàn thanh niên, cán bộ quản lý học sinh nhà trường và gia đình
học sinh nhằm đưa hoạt động học tập của học sinh vào nề nếp chặt chẽ từ trong trường, lớp
chi trả lương cho cán bộ, giáo viên, khen thưởng giáo viên, học sinh có thành tích trong dạy
và học.
Ngoài nguồn ngân sách của nhà nước chi thường xuyên cho trường chiếm tỷ lệ rất lớn thì
nhà trường còn tạo nguồn kinh phí bằng nhiều cách như:
- Kinh phí được trích từ nguồn học phí, qua việc dạy các lớp tại chức trong và ngoài trường,
lớp bồi dưỡng cán bộ, các lớp đào tạo liên kết với các huyện...
- Kinh phí được chi cho các hoạt động chuyên môn như: hoạt động đào tạo, hội thi, thao
giảng, thí nghiệm thực hành, chi khen thưởng cho cán bộ, giáo viên và học sinh có thành
tích tốt,
- Kinh phí hỗ trợ giáo viên đi bồi dưỡng chuyên môn và đào tạo trên chuẩn như thạc sĩ, tiến
sĩ.
Nếu nhà trường tạo nguồn kinh phí tốt và sử dụng đúng vào mục đích trên thì người
quản lý không những thực hiện tốt phương pháp kinh tế mà còn
làm tốt phương pháp tâm lý- xã hội trong quản lý giáo dục. Nội dung quản lý hoạt động
dạy và học ở nhà trường được tóm tắt bằng sơ đồ sau:
15
Hình 1.5 : Nội dung quản lý hoạt động dạy và học ở nhà trường. [38 ]
Chương II
thực trạng chất lượng dạy học và quản lý
nâng cao chất lượng dạy học trường trung cấp
kinh tế - kỹ thuật Bắc Giang
2.1. Lịch sử phát triển Trường trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật
Bắc Giang
2.1.1. Đặc điểm kinh tế- xã hội của tỉnh Bắc Giang và tác động của nó tới quá trình dạy học
ở các trường Trung cấp chuyên nghiệp
a. Đặc điểm kinh tế- xã hội của tỉnh Bắc Giang
Bắc Giang là tỉnh miền núi có 10 huyện thị, diện tích tự nhiên là 3.822 km2, dân số là
1.522.807 người phân bố tương đối đồng đều ở các huyện thị, gồm nhiều dân tộc khác nhau
trong đó dân tộc kinh là chủ yếu chiếm hơn 80% dân số của tỉnh nhà.
bình quân đầu người của cả nước, thu nhập chính dựa vào sản xuất nông nghiệp, trình độ
dân trí chưa cao. Việc huy động cộng đồng tham gia vào công tác giáo dục còn nhiều hạn
chế. Đầu tư cho học tập chưa cao. Một bộ phận nhân dân còn ỷ lại, khoán trắng cho nhà
trường, thờ ơ và chưa quan tâm đến con em mình về việc học tập và việc làm sau này.
b. Phương hướng phát triển đến năm 2010.
- Tập trung đầu tư phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp nâng cao tỷ trọng công
nghiệp, dịch vụ giữ vững, ổn định sản xuất lương thực, chuyển nông nghiệp theo hướng sản
xuất hàng hoá; đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu theo hướng
CNH , HĐH, tiếp tục phát triển GD&ĐT, tăng cường đào tạo nghề, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực lao động một cách hợp lý tạo bước chuyển biến mạnh về chất lượng và giáo
dục toàn diện, mở rộng đào tạo bồi dưỡng nghề cho người lao động. Đặc biệt là trong lĩnh
vực giáo dục đào tạo phấn đấu đến năm 2010 thành lập trường Đại học Bắc Giang trong đó
trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang là một khoa của trường Đại học.
2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của nhà trường.
- Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang được thành lập ngày 15/12/1989 theo
Quyết định số 899/ UB của UBND tỉnh Hà Bắc trên cơ sở sát nhập các trường. Trường
trung cấp tài chính, trường trung cấp nông nghiệp và trường dạy nghề nội thương của tỉnh
Hà Bắc cũ. Sau khi chia tách tỉnh ngày 20/ 01/1997 UBND tỉnh Bắc Giang có quyết định số
56/ UB về việc gọi tên trường: Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang.
- Từ khi thành lập trường đến nay, trường đã liên tục phấn đấu nỗ lực phục vụ nhiệm vụ đào
tạo để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Công tác đào tạo thường xuyên
được đổi mới, đang từng bước gắn chặt hơn giữa đào tạo và sử dụng, với việc làm của học
sinh sau khi tốt nghiệp. Gần đây đang chuyển mạnh toàn diện cả về mục tiêu và phương
thức đào tạo, tiếp tục phát triển để đáp ứng các yêu cầu mới của tỉnh .
- Trong quá trình xây dựng và trưởng thành, trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật
Bắc Giang đã khẳng định được vị trí của trường trong hệ thống giáo dục trung cấp chuyên
nghiệp, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho ngành kinh tế và ngành nông nghiệp
phục vụ cho nhu cầu phát triển nền kinh tế của tỉnh nhà cũng như của xã hội .
- Theo Quyết định số 204/ 2002/ QĐ-UB ngày 24/10/2002 của UBND tỉnh Bắc
Giang về việc phê duyệt đề án thành lập trường Đại học Bắc Giang, trường Trung cấp Kinh
Quy mô đào tạo của trường thực hiện qua 3 giai đoạn :
- Năm 2005: Hoàn chỉnh trường theo điều lệ trường trung cấp chuyên
nghiệp ( xem quy mô ĐT ở biểu 1 ).
- Năm 2007: Nâng cấp trường lên Cao đẳng (xem quy mô ĐT ở biểu 2)
- Năm 2010: Trở thành 2 khoa của trường Đại học Bắc Giang.
( xem quy mô ĐT ở biểu 3).
3/ Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của nhà trường .
Tổ chức bộ máy quản lý nhà trường.
- Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của trường được xây dựng theo mô hình trường trung cấp
chuyên nghiệp theo qui định của Điều lệ tổ chức và hoạt động của trường Trung cấp do Bộ
GD & ĐT ban hành gồm:
- 01 Hiệu trưởng và 02 Phó hiệu trưởng
* Các phòng, ban có:
- Phòng đào tạo .
- Phòng công tác học sinh.
- Phòng hành chính tổ chức.
- Phòng quản trị đời sống.
* Các tổ chuyên môn có:
- Tổ bộ môn kinh tế;
- Tổ bộ môn chung;
- Tổ tài vụ.
* Các cơ sở phục vụ, dịch vụ có: Thư viện, phòng học, phòng thực hành, ký túc
xá, nhà ăn cho học sinh, nhà thi đấu đa năng.
* Các Hội đồng có: Hội đồng đào tạo, tuyển sinh, thi đua, khoa học, khen thưởng
và kỷ luật ...
* Các lớp học có:
- Các lớp học sinh trung cấp hệ chính quy,
- Các lớp học sinh hệ tại chức, hệ ĐT bồi dưỡng công chức,viên chức.
18
----------› ‹----------
+ Chăn nuôi thú y, địa chính, trồng trọt, cơ khí nông nghiệp
+ Thuỷ sản .
+ Quản lý kinh tế nông lâm .
- Hàng năm tuyển khoảng 600 học sinh hệ chính quy tập trung, 500 học viên tại chức và đào
tạo bồi dưỡng ngắn hạn cho 1000 người.
19
- Đối tượng tuyển sinh bao gồm: Học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông, học sinh hệ cử
tuyển thuộc con em dân tộc trong tỉnh, học sinh tốt nghiệp trung cấp (với hệ Cao đẳng, Đại
học).
2.2. Thực trạng chất lượng dạy học và quản lý chất lượng DH ở Trường trung cấp Kinh tế -
Kỹ thuật Bắc Giang .
2.2.1. Một số thành tích chủ yếu của trường Trung cấp Kinh tế -
Kỹ thuật Bắc Giang .
Trải qua gần 20 năm xây dựng và trưởng thành, cùng với sự cố gắng nỗ lực vươn lên, vượt
qua mọi khó khăn của tập thể cán bộ giáo viên trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc
Giang đã khẳng định được vai trò của một trường trung cấp chuyên nghiệp trong sự nghiệp
GD&ĐT của tỉnh nhà nói riêng và của toàn quốc nói chung đã được thể hiện qua những
thành tích chủ yếu sau: 4 năm liên tục được công nhận là trường tiên tiến. Chi bộ nhà
trường liên tục được công nhận là đơn vị trong sạch vững mạnh. Công đoàn, đoàn thanh
niên liên tục được công nhận là đơn vị vững mạnh. Nhà trường được tặng nhiều cờ, giấy
khen, bằng khen của Thủ tướng Chính Phủ, Bộ GD&ĐT và UBND Tỉnh Bắc Giang. 2
giáo viên giỏi cấp quốc gia và nhiều giáo viên giỏi cấp tỉnh. Ngoài ra nhà trường còn được
nhiều giải thưởng cao trong các cuộc thi về văn nghệ thể thao, các cuộc hội giảng do tỉnh,
sở GD&ĐT tổ chức.
Tiến tới kỷ niệm 20 năm ngày thành lập trường, tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh, sinh
viên nhà trường quyết tâm phấn đấu thực hiện tốt các chỉ tiêu thi đua, lập nhiều thành tích
trong công tác dạy và học, góp phần nâng cao dân chí, đào tạo nhân tài phục vụ quê hương,
đất nước. Tin rằng với những thành công nhà trường đã đạt được, trường Trung cấp Kinh tế
- Kỹ thuật Bắc Giang mãi mãi xứng đáng với niềm tin của lãnh đạo và nhân dân các dân tộc
tỉnh Bắc Giang.
b. Tỷ lệ học sinh lên lớp, học sinh khá giỏi và tốt nghiệp.
Nhà trường đã có nhiều biện pháp thiết thực để nâng cao chất lượng ĐT, tuy đã có sự bứt
phá, có bước ngoặc mới về chất lượng ĐT thực chất trong các năm học vừa qua song vẫn ở
tình trạng chất lượng thấp so với yêu cầu sử dụng.
Bảng 2.3: Kết quả học tập qua các năm học từ 2000- 2005
Năm học Lên lớp Khá giỏi Tốt nghiệp
2000-2001 96,4% 4,8% 89,3%
2001-2002 97,2% 5,2% 94,6%
2002-2003 97,9% 5,0% 92,0%
2003-2004 96,7% 8,75% 98,9%
2004-2005 98,2% 10,7% 98,0%
Như vậy qua theo dõi bảng thống kê về kết quả học tập ta có thể nhận xét như sau:
- Chất lượng tuyển sinh đầu vào còn thấp, tỷ lệ lên lớp và tốt nghiệp vẫn đạt được mục tiêu
đề ra.
- Tỷ lệ học sinh lên lớp, học sinh khá giỏi, học sinh tốt nghiệp hàng năm có tăng song vẫn
còn chậm.
Về kết quả rèn luyện đạo đức qua các năm học của nhà trường được thể hiện qua bảng sau.
Bảng 2.4: Kết quả rèn luyện qua các năm học từ 2000-2005:
Năm học Xuất
sắc Tốt Khá T.bình
Khá Trung
bình Yếu Kém
2000-2001 0 30,0% 28,5% 27,4% 12,3% 1,8% 0
2001-2002 2,8% 25,7% 34,6% 31,9% 4,0% 1,0% 0
2002-2003 3,5% 28,5% 22,8% 24,8% 18,4% 1,0% 1,0%
2003-2004 4,0% 32,0% 27,9% 28,4% 5,2% 2,5% 0
2004-2005 4,2% 35,7% 24,6% 21,9% 12,0% 1,0% 0,6%
c. Số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên nhà trường ( bảng 2.5)
Bảng: 2.5
01
Tổ môn chung 10 10 06 01 03 02 01
01
Cộng 30 01 29 17 05 08 05 05 05
01
Theo số liệu từ phòng Hành chính tổ chức tính đến
tháng 9/ 2006
Như vậy chất lượng đội ngũ giáo viên nhà trường không đồng đều, Số giáo viên có tuổi
nghề, tuổi đời cao nhưng chất lượng dạy học không đồng đều, bên cạnh số giáo viên tâm
huyết với nghề nghiệp, gương mẫu trong công tác còn một số bộ phận sa sút về ý chí, giảng
dạy thiếu nhiệt tình, ít đọc sách, không cải tiến đổi mới phương pháp giảng dạy, nên số giáo
viên này chưa có cách tiếp cận tốt với sự thay đổi của nội dung và chương trình nhà trường
đề ra. Đó cũng là những khó khăn nhất định của nhà trường trong giai đoạn phát triển hiện
nay để nâng cấp lên Cao đẳng và Đại học vào năm 2010. Do vậy đòi hỏi người quản lý phải
nghiên cứu đưa ra các biện pháp quản lý thiết thực, hiệu quả mới đạt được mục tiêu đề ra.
2.2.3. Thực trạng quản lý chất lượng dạy học của trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc
Giang .
2.2.3.1. Quản lý mục tiêu, nội dung và chương trình đào tạo .
a. Quản lý mục tiêu đào tạo:
- Đào tạo bậc trung học và dưới trung học, gồm các ngành nghề hạch toán - kế toán, quản lý
kinh tế, kỹ thuật nông nghiệp và lâu dài sẽ mở rộng đào tạo một số ngành nghề khác phục
vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh nhà.
22
- Đào tạo học sinh có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến
thức chuyên môn và kỹ năng thực hành về một số ngành nghề, có khả năng phát hiện, giải
quyết những vấn đề thông thường về chuyên ngành đào tạo.
b. Quản lý nội dung và chương trình đào tạo:
- Đảm bảo quy định chương trình khung của Bộ GD&ĐT đối với từng cấp học, trường đã
tổ chức xây dựng nội dung, chương trình đào tạo phù hợp với mỗi khoá, ngành học, và đảm
Như vậy để đánh giá thực trạng quản lý việc lập kế hoạch của đội ngũ giáo viên của trường
tác giả đề tài đã xin ý kiến đánh giá của 30 cán bộ quản lý và giáo viên nhà trường kết quả
thể hiện ở bảng như sau:
Bảng 2.6: Thực trạng QL hoạt động lập kế hoạch của đội ngũ giáo viên.
TT
Nội dung Mức độ thực hiện
Tốt(%) Khá(%) T.B(%)Yếu(%) Kém(%)
1 Cụ thể hóa nhiệm vụ năm học và nghị quyết hội đồng ĐT 20,0% 60,0% 20,0%
0 0
2 Xây dựng những quy định cụ thể về kế hoạch cá nhân 23,3% 46,7% 20,0%
10,0% 0
23
3 Tổ chức kiểm tra nhiệm vụ xây dựng KH cá nhân 15,0% 50,0% 23,3% 11,7%
0
4 Thanh tra nhiệm vụ lập kế hoạch công tác và giảng dạy 13,3% 50,0% 21,7%
15,0% 0
5 Sử dụng kết quả kiểm tra kế hoạch để đánh giá xếp loại 3,3% 30,0% 56,7%
10,0% 0
Qua điều tra cho thấy hai nội dung có đánh giá thực hiện rất tốt đó là nội dung 1 và 2.. Các
hoạt động còn lại được đánh giá là tốt và trung bình.
b. Quản lý kế hoạch giảng dạy:
- Vào đầu năm học nhà trường xây dựng kế hoạch và chỉ tiêu chung cho cả năm học sau đó
các phòng ban, tổ bộ môn trên cơ sở kế hoạch của nhà trường xây dựng kế hoạch hoạt động
cho đơn vị mình. Từ đó giáo viên trực tiếp xây dựng kế hoạch giảng dạy của mình dựa trên
kế hoạch giảng dạy của tổ bộ môn, của phòng phân công cho từng giáo viên. Việc lập kế
hoạch này được tiến hành ngay từ đầu năm học (kế hoạch năm). Sau khi giáo viên xây dựng
kế hoạch xong được gửi lại tổ bộ môn, phòng đào tạo, Ban giám hiệu duyệt kế hoạch của
từng đơn vị. Đây là căn cứ để nhà trường kiểm tra, theo dõi tiến độ thực hiện công việc của
mỗi đơn vị, của mỗi giáo viên trong quá trình giảng dạy.
- Mọi công tác điều hành giảng dạy, kiểm tra đánh giá giáo viên đều dựa trên cơ sở
d. Quản lý tổ chức, chỉ đạo hoạt động dạy của giáo viên.
24
Tổ chức chỉ đạo hoạt động dạy của giáo viên là những hoạt động quản lý cụ thể dựa
trên cơ sở việc lập kế hoạch của các cấp, thể hiện rõ tài năng thực hiện của người quản lý
được biểu hiện qua các khâu sau:
- Về phân công giảng dạy:
Chương trình nội dung các môn học, ngành học được sắp xếp, phân công tương đối ổn định
về các phòng, tổ bộ môn trước khi bước vào năm học mới. Công tác phân công giáo viên đã
được quán triệt và tổ chức chu đáo trên cơ sở phối hợp giữa các tổ bộ môn, phòng đào tạo
và sự chỉ đạo từ các cấp xuống phòng, tổ bộ môn và giáo viên. Cán bộ quản lý phòng đào
tạo căn cứ số lượng giờ giảng, lịch giảng, định mức giờ giảng để phân công giảng dạy trên
nguyên tắc đảm bảo mức độ cao nhất về sự phù hợp giữa chuyên môn giảng dạy với chuyên
môn được đào tạo.
- Về quản lý hoạt động dạy của giáo viên:
Quản lý hoạt động dạy của giáo viên vừa mang tính phân cấp, vừa mang tính trực tiếp.
GV trực tiếp chịu sự quản lý của trưởng bộ môn. Phòng đào tạo vẫn phải nắm cụ thể được
phân phối chương trình của các môn học, tiến độ giảng dạy của các môn học, nội dung bài
giảng, đối tựơng lên lớp, địa điểm thời gian giảng dạy. Phòng đào tạo là cơ quan tham mưu
giúp Hiệu trưởng về công tác điều hành giảng dạy toàn trường bằng kế hoạch, chương trình
môn học, thời gian biểu. cụ thể như:
- Quản lý việc lập kế hoạch và ghi chép hồ sơ chuyên môn .
- Quản lý và hướng dẫn giáo viên trong việc sử dụng giáo trình.
- Quản lý giáo án của giáo viên.
- Quản lý giờ giấc lên lớp hàng ngày của giáo viên.
- Kiểm tra việc cho điểm, sổ theo dõi và đánh giá xếp loại HS.
- Kiểm tra sổ tự học, bồi dưỡng của giáo viên.
- Quản lý việc NCKH của giáo viên như đăng ký đề tài, đề cương, tiến độ thực hiện
cuối cùng là đánh giá thẩm định kết quả CNKH của GV trong năm. Kết quả hoạt động dạy
học của đội ngũ giáo viên được thể hiện ở bảng như sau:
Bảng 2.7: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học của đội ngũ giáo viên