Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường trung học phổ thông hiệp hoà số 2 tỉnh bắc giang luận - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
----------------------------------------------------Đồng Duy Hiển

Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở
trường Trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2 tỉnh Bắc Giang
Luận văn ThS Giáo dục học: 60.14.05
Nghd:

PGS.TS. Nguyễn Bá Dương

ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

Hà Nội – 2006


Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong thời đại ngày nay, sự phát triển nhanh nhƣ vũ bão của khoa học,
kỹ thuật và công nghệ cùng với xu thế toàn cầu hoá, phát triển kinh tế tri thức
đã và đang đặt ra yêu cầu mới trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo phải thay đổi
mục tiêu, từ mục tiêu trang bị tri thức khoa học là chính sang mục tiêu hình
thành và phát triển các kỹ năng, năng lực cho ngƣời học là chính.
Ở Việt Nam, trong hệ thống giáo dục quốc gia, giáo dục phổ thông giữ
một vai trò quan trọng trong việc tạo mặt bằng dân trí, đáp ứng những yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội trong sự nghiệp đổi mới. Bƣớc sang thế kỷ XXI,
kiến thức của nhân loại, khoa học và công nghệ phát triển không ngừng. Xu
thế hội nhập khu vực và thế giới là xu thế tất yếu với bất cứ quốc gia nào.
Giáo dục phổ thông đứng trƣớc những đòi hỏi phải có những bƣớc tiến mới

chất lƣợng giáo dục - đào tạo ở nƣớc ta trong nhiều năm qua nói chung và
chất lƣợng dạy học nói riêng đã có nhiều tiến bộ đƣợc xã hội công nhận.
Trong giáo dục đào tạo nhiều nơi đã xuất hiện những nhân tố mới, phong trào
học tập sôi nổi, loại hình trƣờng, lớp trong các cấp học đa dạng, dân trí từng
bƣớc đƣợc nâng cao. Tuy nhiên, chất lƣợng đào tạo nói chung và chất lƣợng
dạy học nói riêng còn nhiều bất cập về qui mô, nhất là chất lƣợng thực, hiệu
quả thực. Đội ngũ cán bộ giáo viên tuyệt đại đa số nhiệt tình, có tâm huyết với
sự nghiệp giáo dục, xong còn thiếu về số lƣợng, yếu về chất lƣợng, có nơi, có
lúc chƣa thực sự đáp ứng đƣợc yêu cầu của công cuộc đổi mới kinh tế xã hội,
xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc
theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Trong những lý do dẫn đến những tồn tại,
hạn chế trên, trƣớc tiên phải kể đến sự hạn chế và hiệu quả quản lý giáo dục
nói chung và quản lý chất lƣợng dạy học nói riêng của các nhà trƣờng trong
đó có các nhà trƣờng trung học phổ thông. Trong những năm qua, ở tỉnh Bắc
Giang nói chung và ở trƣờng Trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2 nói riêng,

2


Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

việc nâng cao chất lƣợng dạy học đã đạt đƣợc nhiều kết quả tốt đẹp đáp ứng
đƣợc sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội ở địa phƣơng và đất nƣớc. Tuy nhiên
vấn đề chất lƣợng dạy học vẫn còn là vấn đề khó khăn, phức tạp và có nhiều
bất cập. Công tác quản lý dạy và học đƣợc đặt ra với những tƣ tƣởng và yêu
cầu mới. Ngƣời quản lý cần phải đúc rút kinh nghiệm, tổng kết đánh giá
nghiêm túc, tìm ra biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học,
nhanh chóng đáp ứng yêu cầu mới của đất nƣớc.
Thực tiễn quản lý giáo dục trong các nhà trƣờng trung học phổ thông
của tỉnh Bắc Giang đang đặt ra nhiều vấn đề cả về mặt lý luận và thực tiễn

5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu.
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm
nâng cao chất lƣợng dạy học ở trƣờng trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2 tỉnh
Bắc Giang.
6. Giả thuyết khoa học ( vấn đề nghiên cứu ).
Chất lƣợng dạy học ở trƣờng trung học phổ thông Hiệp Hoà 2 tỉnh Bắc
Giang còn có nhiều hạn chế vì chƣa có biện pháp quản lý đồng bộ và hiệu
quả. Nếu xây dựng đƣợc những biện pháp quản lý đảm bảo tính khoa học,
tính hệ thống, tính hiệu quả và khả thi thì chẳng những góp phần nâng cao
chất lƣợng dạy học ở nhà trƣờng mà còn có thể áp dụng cho các nhà trƣờng
trung học phổ khác có điều kiện tƣơng tự.
7. Phương pháp nghiên cứu.
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Nghiên cứu và khái quát các văn bản, Nghị quyết của Đảng và Nhà
nƣớc về giáo dục, quản lý Nhà nƣớc về giáo dục và những tài liệu lý luận
khác có liên quan đến đối tƣợng nghiên cứu của đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
+ Phƣơng pháp quan sát việc dạy và học của giáo viên và học sinh.
+ Phƣơng pháp điều tra: Nghiên cứu chƣơng trình, hồ sơ chuyên môn
của nhà trƣờng.

4


Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

+ Phƣơng pháp đàm thoại, phỏng vấn: Lấy ý kiến của giáo viên, học
sinh thông qua trao đổi trực tiếp.
+ Phƣơng pháp thống kê: Căn cứ vào số liệu thống kê hàng năm của
nhà trƣờng.

- “Nâng” là đƣa lên cao, làm cho cao hơn trƣớc, lên mức độ cao hơn.
- “Nâng” cấp là cải tạo, sửa chữa để nâng chất lƣợng lên một mức.
- “Nâng cao” là làm tăng thêm, ví dụ làm tăng thêm chất lƣợng.
- “Chất lƣợng” là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con ngƣời, một
sự vật, sự việc, dạy để nâng cao trình độ văn văn hoá và phẩm chất đạo đức,
theo chƣơng trình nhất định.
1.1.1 Quản lý, chức năng và nguyên tắc quản lý.
1.1.1.1. Quản lý.

6


Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

Khái niệm về quản lý: Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ
thuật, tác động đến một hệ thống hoạt động xã hội từ tầm vĩ mô cho đến tầm
vi mô. Có nhiều cách tiếp cận, do vậy rất có thể có nhiều cách quan niệm
khác nhau về quản lý. Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ
Lộc: Quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (
ngƣời quản lý ) đến khách thể quản lý ( ngƣời bị quản lý ) trong một tổ chức
nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức.
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại định nghĩa “ Quản lý là tác động có
mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động
nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến ” [34,14].
Quản lý là một hiện tƣợng xã hội xuất hiện từ rất sớm - Hoạt động quản
lý đã ra đời nhƣ một yếu tố khách quan, mang tính tất yếu trong quá trình vận
động và phát triển của lao động và các hoạt động xã hội.
Các quan điểm về quản lý: Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý.
* Quan điểm của các tác giả nước ngoài
F.W Taylo ( 1856 - 1915 ), ngƣời đề xuất thuyết “Quản lý khoa học”

hoạt động bình thƣờng, giải quyết đƣợc nhiệm vụ đề ra.
Tác giả Đỗ Hoàng Toàn lại quan niệm: Quản lý là sự tác động có tổ
chức của chủ thể quản lý lên đối tƣợng bị quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề
ra trong điều kiện biến động của môi trƣờng.
Theo giáo sƣ Đặng Vũ Hoạt và giáo sƣ Hà Thế Ngữ cho rằng: Quản lý
là một quá trình định hƣớng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống
nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nhất định.
Theo Giáo sƣ Nguyễn Văn Lê: Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa
học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng những
phƣơng pháp thích hợp, nhằm đạt đƣợc những mục tiêu đề ra cho hệ và từng
thành tố của hệ.
Những quan niệm về quản lý của các tác giả tuy có khác nhau về cách
tiếp cận nhƣng đều toát nên một số quan điểm chung nhất về quản lý nhƣ sau:

8


Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

- Là một quá trình tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản
lý lên đối tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc mục đích nhất định.
- Là công cụ hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá
nhân nhằm đạt đƣợc những mục đích của nhóm.
- Là phƣơng thức hoạt động tốt nhất để đạt đƣợc mục tiêu chung của
một nhóm, một tổ chức.
Nhƣ vậy, có thể khái quát về khái niệm quản lý là một quá trình tác
động gây ảnh hƣởng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt đƣợc
mục tiêu chung.
Bản chất của quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động. Bản
chất của hoạt động quản lý chính là sự tác động hợp qui luật của chủ thể quản

vực khác nhau, phụ thuộc vào hình thức, lĩnh vực hoạt động và phong cách
quản lý trong tổ chức.
1.1.1.2. Chức năng quản lý.
Chức năng quản lý là một hoạt động quản lý chuyên biệt, cơ bản mà
thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện
mục tiêu xác định. Chức năng quản lý chiếm giữ một vị trí then chốt, nó gắn
liền với nội dung của hoạt động điều hành ở mọi cấp. Các công trình nghiên
cứu khoa học quản lý tuy có nhiều ý kiến chƣa thật đồng nhất trong thuật ngữ
để chỉ ra các chức năng quản lý, song về cơ bản đã thống nhất có 4 chức năng
cơ bản: Kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo - Kiểm tra.
Kế hoạch : Là chức năng trung tâm, đƣợc hiểu khái quát là một chƣơng
trình hành động cụ thể của chủ thể quản lý căn cứ vào hiện trạng ban đầu của
tổ chức trong từng thời ký, từng giai đoạn, đƣợc hoạch định, lập ra trƣớc khi
tiến hành thực hiện một nội dung nào đó để đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra.
Tổ chức: Tổ chức là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố,
những con ngƣời, những dạng hoạt động thành một hệ toàn vẹn nhằm đảm
bảo cho chúng tƣơng tác với nhau một cách tối ƣu.
V.I. Lê Nin nói: Tổ chức là một nhân tố sinh thành ra hệ toàn vẹn, biến
tập hợp các thành tố rời rạc thành một thể thống nhất, ngƣời ta gọi là hiệu ứng
tổ chức.

10


Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

Chỉ đạo: Là phƣơng thức hoạt động của chủ thể quản lý nhằm điều
hành bộ máy của tổ chức hoạt động thực hiện mục tiêu kế hoạch. Về thực
chất, chỉ đạo là những hoạt động xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của
ngƣời lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, huy động mọi lực lƣợng vào

Tổ chức

Chỉ đạo
1.1.1.3. Các nguyên tắc quản lý
Quản lý các tổ chức ( Kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục ...) thực chất
là quản lý con ngƣời hoạt động trong tổ chức đó - đối tƣợng đích của quản lý.
Khi tiến hành quản lý, các nhà quản lý đều phải đƣa ra những nguyên
tắc quản lý nhất định, thƣờng tập chung vào các nguyên tắc cơ bản sau:
Đảm bảo tính pháp lý: Đây là nguyên tắc quản lý đƣợc xây dựng trên
cơ sở những qui định, luật pháp và các chế tài của pháp luật. Chẳng hạn:
Quản lý giáo dục, tính pháp lý dựa trên luật giáo dục, điều lệ nhà trƣờng, các
văn bản dƣới luật, các chế tài có liên quan đến giáo dục, các chỉ thị, nghị định
của chính phủ, của Bộ giáo dục về giáo dục, các văn bản chỉ đạo thực hiện
chƣơng trình ... Đây là hành lang pháp lý để các nhà quản lý thực hiện các
chức năng quản lý, đảm bảo tính hiệu lực của cơ chế quản lý nhà nƣớc, dựa
trên các chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của nhà nƣớc, các văn bản chỉ đạo
của ngành để thực hiện vai trò quản lý của nhà quản lý trong quá trình quản
lý. Hoạt động quản lý không dựa trên nguyên tắc pháp lý ví nhƣ “cƣỡi ngựa
không cƣơng”, dễ dẫn đến quyết định tuỳ tiện, thiếu cơ sở pháp lý, sai phạm
chủ trƣơng, pháp luật.
Đảm bảo tính tập trung dân chủ: Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả
năng quản lý một cách khoa học, có sự kết hợp chặt chẽ quyền lực của chủ thể

12


Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

quản lý với sức mạnh sáng tạo của mọi đối tƣợng quản lý trong việc thực hiện
mục tiêu quản lý.


Đảm bảo tính Đảng: Ở Việt Nam, Đảng là biểu hiện sức mạnh, ý chí
của nhân dân và là Đảng cầm quyền duy nhất, vì thế trong quản lý hơn bao
giờ hết phải luôn bám sát, thể hiện rõ và tuân thủ chủ trƣơng, đƣờng lối, chính
sách của Đảng trong hoạt động quản lý.
Từ những quan niệm trên có thể rút ra nhận xét sau:
- Mặc dù cách diễn đạt khác nhau nhƣng những định nghĩa trên đều thể
hiện đƣợc bản chất của hoạt động quản lý, đó là: hoạt động quản lý nhằm làm
cho hệ thống vận động theo mục tiêu đã đặt ra, tiến đến trạng thái có chất
lƣợng mới.
- Trong quản lý có hai bộ phận khăng khít với nhau, đó là chủ thể và
khách thể quản lý. Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm ngƣời
có chức năng quản lý hay điều khiển tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt
tới mục tiêu. Khách thể quản lý bao gồm những ngƣời thừa hành nhiệm vụ
trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục
tiêu chung. Chủ thể quản lý nhằm làm nẩy sinh các tác động quản lý, còn
khách thể quản lý sản sinh ra vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp
đáp ứng nhu cầu của con ngƣời, đáp ứng mục đích của chủ thể quản lý.
- Quản lý có bốn chức năng cơ bản quan hệ khăng khít, tác động qua lại
lẫn nhau và tạo thành chu trình quản lý, đó là các chức năng: kế hoạch hoá, tổ
chức, chỉ đạo và kiểm tra cùng các yếu tố khác là thông tin và quyết định.
Mỗi chức năng có vai trò, vị trí riêng trong chu trình quản lý - Thông tin là
mạch máu của quản lý.
1.1.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường.
1.1.2.1. Quản lý giáo dục.
Trƣớc tiên chúng tôi đề cập đến một số quan niệm về quản lý giáo dục
của các tác giả trong và ngoài nƣớc:

14



15


Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Quản lý giáo dục là sự
tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đƣa hoạt
động giáo dục đạt kết quả mong muốn.
Theo giáo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo dục là hệ thống tác
động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ thống
giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đƣờng lối và nguyên lý giáo dục
của Đảng, thực hiện đƣợc các tính chất của nhà trƣờng xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đƣa hệ
giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất.
Các quan điểm trên tuy có những cách diễn đạt khác nhau, nhƣng đều
toát lên bản chất của quản lý giáo dục: Đó là sự tác động có tổ chức, có định
hƣớng, phù hợp với qui luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đối
tƣợng quản lý, nhằm đƣa hoạt động giáo dục ở cơ sở và của toàn bộ hệ thống
giáo dục đạt tới mục tiêu đã định.
Trong nghị quyết Đại hội Đảng các khoá VI đến khoá IX, trong các văn
bản hƣớng dẫn nhiệm vụ năm học của Sở giáo dục và đào tạo Bắc Giang về
mục tiêu phát triển giáo dục, về đổi mới công tác quản lý giáo dục trong các
nhà trƣờng đều định hƣớng: Không ngừng nâng cao chất lƣợng đội ngũ, chất
lƣợng giáo dục; tăng cƣờng đổi mới công tác quản lý giáo dục.
Quản lý giáo dục với tƣ cách là một bộ phận của quản lý xã hội, đã xuất
hiện từ lâu. Quản lý là một thuộc tính tất yếu, bất biến và nội tại của mọi hoạt
động trong quá trình lao động xã hội, nó có tầm quan trong đối với bất cứ
hoạt động nào của con ngƣời. Quản lý giáo dục có thể đƣợc hiểu ở nhiều cấp
độ khác nhau, tuỳ ta xác định đối tƣợng quản lý. Ở đây chúng ta chỉ đơn giản

những trách nhiệm và quyền hạn rộng rãi hơn để thực hiện nguyên tắc giải
quyết vấn đề tại chỗ.
1.1.2.2. Quản lý nhà trường.
* Về khái niệm quản lý nhà trường.

17


Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

Nhà trƣờng nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân và hệ thống xã hội.
Vì vậy nó luôn luôn có mối quan hệ qua lại và tác động với môi trƣờng xã
hội. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Nhà trƣờng là một thiết chế đặc biệt của
xã hội, thực hiện chức năng tạo nguồn cho các yêu cầu của xã hội, đào tạo các
công dân cho tƣơng lai. Với tƣ cách là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang
tính giáo dục, vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, nó là tế bào
chủ chốt của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ trung ƣơng đến địa phƣơng”.
Tác giả còn cho rằng: “ Nhà trƣờng của thế kỷ XXI là nhà trƣờng của nền
kinh tế tri thức, của xã hội tri thức, vì vậy việc tổ chức và quản lý nhà trƣờng
phải dựa trên một cơ sở “ động ” , biết học hỏi để phát triển [7,37].
Quản lý nhà trƣờng chính là bộ phận của quản lý giáo dục. Theo tác giả
Phạm Minh Hạc: Việc quản lý nhà trƣờng phổ thông là quản lý hoạt động dạy
và học, tức là làm sao đƣa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thía khác
dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục. Ông cũng cho rằng: Quản lý nhà trƣờng,
quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học. Có tổ chức đƣợc hoạt động
dạy học, thực hiện đƣợc các tính chất của nhà trƣờng phổ thông Việt Nam xã
hội chủ nghĩa mới quản lý đƣợc giáo dục, tức là cụ thể hoá đƣờng lối giáo dục
của Đảng và biến đƣờng lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân
dân, của đất nƣớc.
Hoạt động quản lý của nhà quản lý là phải làm thế nào để các thành tố

+ Nội dung cơ bản quản lý hoạt động dạy và học trong nhà trường.
Trên cơ sở nhiệm vụ quản lý trƣờng học, quản lý hoạt động dạy và học
trong trƣờng trung học phổ thông tập trung chủ yếu vào các nội dung sau:
- Xây dựng kế hoạch và quản lý kế hoạch dạy học.
Kế hoạch dạy học là một bộ phận của kế hoạch năm học, trong đó bao
hàm các mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu, nhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vụ cụ thể,
biện pháp tổ chức thực hiện, chƣơng trình thực hiện, thời gian, tiến độ và
phân công thực hiện, đƣợc cụ thể hoá trong từng tháng, từng tuần. Kế hoạch
dạy học của nhà trƣờng đƣợc triển khai thành kế hoạch của các tổ, nhóm
chuyên môn và cá nhân. Hiệu trƣởng, phó hiệu trƣởng, tổ, nhóm trƣởng

19


Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

chuyên môn có trách nhiệm giám sát, đôn đốc chỉ đạo cấp mình phụ trách
thực hiện đúng kế hoạch.
- Tổ chức kiểm tra đánh giá chất lượng hoạt động dạy và học.
Đƣợc tiến hành bằng các hình thức dự giờ thăm lớp, phiếu hỏi, kiểm tra
khảo sát đầu năm, kiểm tra viết giữa kỳ, kiểm tra cuối kỳ và cuối năm. Các
biện pháp thƣờng tiến hành là kiểm tra xác suất, kiểm tra định kỳ, kiểm tra
đột xuất, kiểm tra có báo trƣớc và kiểm tra toàn diện. Mục đích của các biện
pháp này nhằm phát hiện đúng, đánh giá sát nhất năng lực thực tế của giáo
viên và chất lƣợng thực của hoạt động dạy, học ; đồng thời phát hiện những
điểm yếu, những bất cập về chất lƣợng do quá trình chỉ đạo và thực hiện có
sai lệch hoặc phát sinh từ thực tế biến động ngoài dự kiến.
Trƣờng học là một tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác giáo
dục thế hệ trẻ một cách toàn diện. Nó là thành tố cấu thành hệ thống giáo dục
của quốc gia. Nói cách khác, trƣờng học là thành tố khách thể cơ bản của tất

nƣớc. Quản lý quá trình dạy học phải định hƣớng chủ yếu vào sự phát triển
mọi năng lực tiềm ẩn của con ngƣời, hiểu biết các qui luật đời sống, phát triển
các kỹ năng lao động trí tuệ, thái độ và tính tích cực xã hội, phát triển tài năng
của con ngƣời. Đồng thời nó đặt nền tảng cho sự phát triển phẩm chất nhân
cách, giá trị đạo đức bản thân, thẩm mĩ, các giá trị văn hoá tinh thần và thể lực
của học sinh. Chuẩn bị cho chúng tiếp tục học lên hoặc bƣớc vào đời lập thân,
lập danh, lập nghiệp.
Quản lý quá trình dạy học mặc dù do nhà trƣờng tổ chức, chỉ đạo
nhƣng nó có quan hệ tƣơng tác, liên thông với các tổ chức giáo dục đào tạo
khác hoặc các cơ quan, tổ chức văn hoá, khoa học, công nghệ. Mối quan hệ
cộng đồng hợp tác liên thông này là một trong những điều kiện để tối ƣu hoá
việc quản lý quá trình dạy học.
+ Quản lý quá trình dạy học là quản lý hệ thống toàn vẹn bao gồm các nhân tố
cơ bản của quá trình dạy học: Mục đích, nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học,
thầy và hoạt động dạy, học sinh và hoạt động học, các phƣơng pháp và

21


Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

phƣơng tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả
dạy học.
Tất cả các nhân tố cấu trúc của quá trình dạy học tồn tại trong mối quan
hệ qua lại và thống nhất với các môi trƣờng của nó: Môi trƣờng xã hội - chính
trị, môi trƣờng khoa học - kỹ thuật - công nghệ. Tức là chủ thể quản lý phải
tác động vào toàn bộ các thành tố của quá trình dạy học hoặc từng nhân tố của
quá trình dạy học theo các qui luật tâm lý học, giáo dục học, lý luận về quản
lý để đƣa hoạt động dạy học từ trạng thái này sang trạng thái cao hơn để tiến
tới mục tiêu giáo dục.

Quá trình dạy học là quá trình sƣ phạm bộ phận, một phƣơng tiện để
trau dồi học vấn, phát triển năng lực và giáo dục phẩm chất, nhân cách thông
qua sự tác động qua lại giữa ngƣời dạy và ngƣời học, nhằm truyền thụ và lĩnh
hội một cách có hệ thống những tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo
nhận thức và thực hành. Nói cách khác quá trình dạy học là tiến trình vận
động kết hợp giữa các hoạt động dạy và học để thực hiện các nhiệm vụ dạy
học.
Trong quá trình dạy học, vai trò của ngƣời thầy là định hƣớng, tổ chức,
điều khiển, thực hiện việc truyền thụ tri thức, kỹ năng và kỹ xảo đến ngƣời
học một cách khoa học, do đó luôn luôn có vai trò và tác dụng chủ đạo. Ngƣời
học tiếp thu một cách có ý thức tự giác, tích cực, tự lực và sáng tạo hệ thống
kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo, hình thành năng lực hoạt động trí tuệ và thái độ
đúng đắn. Ngƣời học là chủ thể sáng tạo của việc học, của việc hình thành
nhân cách của bản thân. Vai trò chủ đạo của giáo viên thể hiện qua việc định
hƣớng, tổ chức, điều khiển trực tiếp các hoạt động ở trên lớp, luôn luôn có ý
nghĩa đặc biệt với việc đảm bảo chất lƣợng của ngƣời học trong quá trình học
tập. Vai trò chủ động, tích cực, năng động của học sinh trong quá trình học
tập có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển trí tuệ, lĩnh hội kiến thức,
hình thành và phát triển nhân cách của bản thân với ý nghĩa chủ thể sáng tạo.
Việc giảng dạy và học tập đƣợc hiểu là hai mặt của một quá trình bổ xung cho
nhau, chế ƣớc lẫn nhau, tác động qua lại với nhau, là động lực kích thích bên

23


Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục

trong của mỗi chủ thể phát triển, tạo ra hoạt động dạy học với tƣ cách là một
quá trình toàn vẹn, tích hợp và thống nhất.
Quá trình dạy học là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục tổng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status