Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học các môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh tại Viện Đại học Mở Hà Nội - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM

ĐÀO HẢI VÂN

Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng
dạy học các môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ
Chí Minh tại Viện Đại học Mở Hà Nội luËn v¨n th¹c sÜ GIÁO DỤC HỌC


Người hướng dẫn khoa học: TS. Từ Đức Văn

Hµ néi - 2008 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
TRANG
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3
4. Giả thuyết khoa học
4
5. nhiệm vụ nghiên cứu
4
6. phạm vi nghiên cứu
4
7. Phương pháp nghiên cứu
4
8. Cấu trúc của luận văn
5

27
1.4. Những yêu cầu cơ bản trong quản lý dạy học các môn khoa
học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
31 1.4.1. Những yêu cầu cơ bản về công tác quản lý dạy học các môn khoa
học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
31
1.4.2. Yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học các môn khoa học Mác -
Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
33
Chương 2:
Thực trạng dạy học và quản lý dạy học
các môn khoa
học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tại Viện Đại học Mở
Hà Nội
35
2.1. Một số nét cơ bản về Viện Đại học Mở Hà Nội
35
2.1.1. Lịch sử hình thànhViện Đại học Mở Hà Nội
35
2.1.2. Bộ máy tổ chức
36
2.1.3. Quy mô đào tạo
37
2.2. Thực trạng dạy học các môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh tại Viện Đại học Mở Hà Nội
40
2.2.1. Về đội ngũ giảng viên các môn khoa học Mác - Lênin, Tư


học các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tại Viện
Đại học Mở Hà Nội
3.1. Các định hướng để đề xuất biện pháp
67
3.1.1. Các định hướng
67
3.1.2. Mục tiêu phát triển của Viện Đại học Mở Hà Nội
69
3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học các môn khoa học
Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
70
3.2.1. Nhóm biện pháp chú trọng xây dựng đội ngũ giảng viên
70
3.2.2. Nhóm biện pháp tăng cường quản lý hoạt động giảng dạy của giảng
viên
72
3.2.3. Nhóm biện pháp tăng cường quản lý hoạt động học tập của sinh viên
81
3.2.4. Nhóm biện pháp thường xuyên chú ý quản lý cơ sở vật chất, thực
hiện chế độ chính sách
88
3.3. Khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của các nhóm biện pháp
89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
98
PHỤ LỤC


xuyên tạc, bóp méo, đòi Việt Nam phải từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của cách mạng Việt Nam.
Trước thực tế đó, để đối phó có hiệu quả với những âm mưu, thủ đoạn
của kẻ thù, để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong 2
thời kỳ phát triển mới, mọi người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ cần
thấm nhuần sâu sắc và vận dụng sáng tạo những nguyên lý và phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết những
vấn đề thực tiễn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây chính là
vũ khí lý luận sắc bén - thứ vũ khí mà sức mạnh, tính đúng đắn, khoa học và
cách mạng của nó đã được kiểm nghiệm bằng chính lịch sử đấu tranh cách
mạng hào hùng của Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến thần thánh chống
Pháp, chống Mỹ và qua thực hiện xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa những
năm qua. Việc học tập, nghiên cứu, quán triệt những nội dung cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vừa được coi là nhiệm vụ cấp
bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài. Nhiệm vụ này càng phải được triển
khai thực hiện một cách nghiêm túc cho đối tượng học sinh - sinh viên -
những chủ nhân tương lai của đất nước. Vì vậy, một trong bốn quan điểm chỉ
đạo phát triển giáo dục của "Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010" đã
nêu rõ: "Xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại,
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh làm nền tảng". Thủ tướng Chính phủ cũng đã có Quyết định số
494/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 phê duyệt Đề án "Một số biện pháp nâng cao
chất lượng và hiệu quả giảng dạy, học tập các môn Khoa học Mác - Lênin,
Tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng; môn chính trị
trong các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề". Quyết định đã nhấn
mạnh: các môn Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Chủ
nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí

Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học các
môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh tại Viện Đại học Mở Hà Nội.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý quá trình dạy học các môn Khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh tại Viện Đại học Mở Hà Nội.
3.2. Đối tượng nghiên cứu 4
Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học các
môn Khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh tại Viện Đại học Mở
Hà Nội.

4. Giả thuyết khoa học
Việc quản lý hoạt động dạy học các môn Khoa học Mác - Lênin, Tư
tưởng Hồ Chí Minh tại Viện Đại học Mở Hà Nội đã được thực hiện tương đối
tốt, nhưng đứng trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo hiện
nay, cần thiết phải có những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy
học các môn Khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh một cách hợp lý,
khoa học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Viện Đại học Mở Hà Nội.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý nhằm nâng cao chất
lượng dạy học các môn học khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Khảo sát, đánh giá đúng thực trạng dạy học và quản lý dạy học các
môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh tại Viện Đại học Mở Hà
Nội, chỉ ra những nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm.
- Xác định các biện pháp quản lý chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng
dạy học các môn Khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh tại Viện Đại
học Mở Hà Nội.

Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh tại Viện Đại học Mở Hà Nội.
Chương 3: Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy
học các môn Khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh tại Viện Đại học
Mở Hà Nội.

6 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHẰM NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC MÁC – LÊNIN,
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1.1. Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu
Chất lượng dạy học các môn khoa học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh trong các trường đại học, cao đẳng trở thành vấn đề ngày càng thu
hút sự quan tâm của các cấp, ngành có liên quan, của nhiều nhà khoa học,
nhất là từ sau Đại hội toàn quốc lần thứ VI, khi Bộ đại học, trung học
chuyên nghiệp và dạy nghề (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) có chủ trương
cụ thể chỉ đạo việc thực hiện đổi mới mục tiêu, chương trình, nội dung và

với bài viết: Nâng cao chất lượng dạy- học các môn khoa học Mác-Lênin, Tư
tưởng Hồ Chí Minh, Chính trị trong các trường đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp và dạy nghề. Bài đăng trên Tạp chí giáo dục số 62, tháng 7
năm 2003.
Các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý đào tạo đã khái
quát những luận điểm cơ bản về quản lý hoạt động đào tạo trong các trường
cao đẳng, đại học làm cơ sở cho việc thực hiện công tác quản lý quá trình này
một cách có hiệu quả. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào
nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về vấn đề quản lý
hoạt động dạy học các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
trong các trường cao đẳng và đại học.
1.2. Những khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, trải qua nhiều giai đoạn,
con người đều cần phải hoạt động lao động để tồn tại và phát triển. Để công
việc có hiệu quả hơn, năng suất hơn đòi hỏi con người phải có sự phân công, 8
hợp tác trong lao động và phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra,
chỉnh lý, giúp người đứng đầu nỗ lực các thành viên trong nhóm, trong cộng
đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra. Hoạt động lao động đặc biệt đó
được gọi là hoạt động quản lý.
Khi nghiên cứu về lý luận quản lý, các nhà nghiên cứu cũng như thực
hành quản lý, với những cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra rất nhiều quan
niệm về quản lý: Chẳng hạn đối với lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin đã lý giải
một cách đầy đủ và phản ánh chính xác những nét đặc trưng cơ bản của hoạt
động quản lý. Theo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, quản lý xã hội một
cách khoa học “là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ
hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội, trên cơ sở vận dụng đúng

Như vậy, bất cứ hệ xã hội nào: Một xí nghiệp, một nhà máy, một trường
học, một Quốc gia, đều là hệ quản lý. Một hệ quản lý luôn tồn tại hai bộ phận
có quan hệ gắn bó khăng khít với nhau.
Bộ phận quản lý: giữ vai trò là chủ thể quản lý với chức năng điều khiển
hệ quản lý làm cho nó vận hành tới mục tiêu đã đặt ra.
Bộ phận bị quản lý: Giữ vai trò là khách thể quản lý, bao gồm những
người thừa hành trực tiếp sản xuất và bản thân quá trình sản xuất.
Có thể chỉ ra những nét đặc trưng cơ bản của công tác quản lý hệ thống
xã hội:
- Quản lý là một loại hình hoạt động đặc biệt, một quá trình tác động qua
lại giữa người và người.
- Quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật huy động và sử dụng
các nguồn lực.
- Quản lý nhằm tập hợp mọi người, mọi cấp tạo ra sự hợp tác giữa các
cá nhân và toàn xã hội trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch và mục tiêu
đã đề ra.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu: quản lý là một quá trình tác động có
định hướng của chủ thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các
cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của 10
môi trường. Khái quát những phân tích trên chúng tôi xây dựng mô hình quản
lý như hình 1.1. 11

Mục tiêu
quản lý 12
* Chức năng kiểm tra: Thu thập những thông tin ngược từ đối tượng quản
lý để kịp thời đánh giá tổng kết, sửa chữa, điều chỉnh mục tiêu.
Tập hợp các chức năng quản lý là nội dung của quản lý với tư cách là một
quá trình. Đáng chú ý là mọi quá trình quản lý, người quản lý phải thực hiện
một dãy chức năng quản lý kế tiếp nhau một cách logic, bắt buộc, bắt đầu từ
việc xác định mục tiêu và nhiệm vụ quản lý cho tới khi kiểm kê các kết quả
đạt được và tổng kết quá trình quản lý. Kết quả đạt có thể tương ứng hoặc
chưa tương ứng với dự kiến (mục tiêu). Trên cơ sở phân tích các kết quả và
thông tin thu thập về đối tượng quản lý, người cán bộ quản lý lại nêu ra các
mục tiêu và nhiệm vụ quản lý mới. Các quá trình được tiếp diễn một cách
“tuần hoàn”. Quá trình chủ thể quản lý thực hiện tổ hợp các chức năng quản
lý kế tiếp nhau diễn ra theo một thời gian một cách logic có thể gọi là chu
trình quản lý. Tuy nhiên các chức năng kế tiếp nhau và độc lập với nhau chỉ
là tương đối bởi một số chức năng có thể diễn ra đồng thời, hoặc kết hợp với
việc thực hiện các chức năng khác nhau.
Ngoài ra còn có vai trò của thông tin trong quá trình quản lý. Thông tin
chiếm vị trí rất quan trọng, nó là phương tiện không thể thiếu được, có thể coi
thông tin là một chức năng đặc biệt và là chức năng trung tâm.
Căn cứ vào bốn chức năng được phân tích trên đây chúng tôi biểu diễn
mối quan hệ chặt chẽ giữa các chức năng quản lý và vai trò của thông tin
trong chu trình quản lý bằng sơ đồ như hình 1.2 dưới đây:


Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể
quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới kết quả mong muốn.
Trong tác phẩm “Quản lý giáo dục quốc dân ở địa bàn huyện, quận”
P.V.Khuđôminxki đã viết: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau
đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo
việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn
diện và hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung
vốn có của chủ nghĩa xã hội cũng như các quy luật khách quan của quá trình
dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ em”.[30, tr 50]
M.I.Kondakov cũng đã từng viết trong cuốn: “Cơ sở lý luận của khoa
học quản lý giáo dục”. Quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là hệ
thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống đòi hỏi những tác động có ý
thức, có khoa học và có hướng của chủ thể quản lý trên tất cả các mặt của đời 14
sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu của xã hội kinh tế và tổ chức
sư phạm của quá trình dạy học đang lớn lên”.[36, tr 94]
Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác
động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm
cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng thực hiện
được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm
hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ đưa hệ giáo dục đến mục tiêu
dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất”.[10,tr 12]
Như vậy, từ các nhà nghiên cứu ở trên, theo chúng tôi khi nói quản lý
giáo dục bao gồm những vấn đề sau: Quản lý giáo dục là một bộ phận của
quản lý xã hội và là một loại hình quản lý đặc biệt phong phú, quản lý giáo
dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ
thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục

với nhau là truyền thụ và điều khiển.
- Hoạt động học: Hoạt động học với vai trò chủ động của trò là sự tự
điều khiển tối ưu quá trình tiếp thu (lĩnh hội) một cách tự giác, tích cực, độc
lập và sáng tạo hệ thống tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo mà hoạt động dạy
đã truyền thụ nhằm hình thành năng lực, thái độ, giá trị làm phát triển nhân
cách cho học sinh. Hoạt động học do học sinh làm chủ thể và tác động vào
đối tượng là nội dung kiến thức mới chứa đựng trong tài liệu học tập. Hoạt
động học gồm hai chức năng thống nhất với nhau là lĩnh hội và tự điều khiển.
Hai hoạt động này có mối quan hệ biện chứng với nhau, luôn gắn bó
mật thiết trong nhau. Trong thực tế, hai hoạt động dạy – học luôn tồn tại như
là một hoạt động chung thống nhất.
Quản lý dạy học là hệ thống các tác động có mục đích của chủ thể quản lý
quá trình dạy học, và quản lý đơn vị nhằm hoàn thành được các mục tiêu đào
tạo của đơn vị đã đặt ra.
Đối tượng của quản lý dạy học là quá trình dạy học. Quản lý dạy học là
một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố cùng vận động trong các mối quan hệ qua 16
lại mật thiết với nhau. Như vậy “đối tượng của quản lý dạy học là trong nhà
trường, là sự hoạt động của người dạy và người học và các tổ chức sư phạm
trong nhà trường trong việc thực hiện các kế hoạch và chương trình đào tạo
nhằm đạt được mục tiêu đào tạo đã quy định”.
Mục tiêu của quản lý dạy học là đảm bảo thực hiện đầy đủ các mục tiêu,
kế hoạch dạy học và nội dung chương trình dạy học theo đúng tiến độ thời
gian quy định, bảo đảm cho quá trình đạt chất lượng cao.
1.2.5. Chất lượng
Cho đến ngày nay thì vấn đề chất lượng càng được coi trọng và trở thành
mối quan tâm hàng đầu của các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ nếu họ
muốn tồn tại và phát triển. Đảm bảo chất lượng là vấn đề sống còn của mỗi

đã thoả mãn được càng nhiều những chuẩn mực ấy thì sản phẩm đó càng
được xếp ở nấc thang cao hơn của chất lượng, và theo đó, giá trị của sản
phẩm cũng cao tương ứng.
Quan niệm “chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng” [25, tr
34] thực chất là việc nhìn nhận vấn đề chất lượng từ góc độ của người sử
dụng sản phẩm hoặc dịch vụ. Quan niệm này căn cứ vào yêu cầu, mong
muốn của người sử dụng đối với sản phẩm hoặc dịch vụ để đánh giá chất
lượng, vì vậy mà nó mang tính động, biến thiên theo thời gian và yêu cầu
thực tiễn của người sử dụng trong thời điểm cụ thể, theo tổng mục đích sử
dụng nhất định. Cho nên người quyết định sản phẩm hoặc dịch vụ có chất
lượng hoặc không đạt chất lượng ở mức nào chính là khách hàng, tại thời
điểm sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ, có thể theo người sản xuất thì sản
phẩm đã đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn để đánh giá là sản phẩm có chất
lượng, nhưng thực tế sản phẩm không phù hợp với yêu cầu của người sử
dụng thì vẫn bị coi là sản phẩm không có chất lượng. Có nghĩa là cách đánh
giá, xác định chất lượng sản phẩm này chịu tác động nhiều của nhân tố chủ
quan.
“Chất lượng là sự phù hợp với mục đích” [18,tr 7] là quan niệm được
nhiều người tán đồng hơn cả. Theo đó, “chất lượng được đánh giá bởi mức
độ mà sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng được mục đích đã tuyên bố của nó” 18
[18, tr 7], hoặc “chất lượng là sự phù hợp với những tuyên bố sứ mệnh và kết
quả đạt được của mục tiêu trong phạm vi và các chuẩn mực được chấp nhận
công khai” [25,tr 45]. Có nghĩa là để xác định được chất lượng của một sản
phẩm hoặc dịch vụ thì điều quan trọng đầu tiên là phải xác định được bộ tiêu
chí mà sản phẩm hoặc dịch vụ này cần phải đáp ứng. Bộ tiêu chí này không
mang tính hằng số mà số lượng các tiêu chí, mức độ yêu cầu đối với từng tiêu
chí sẽ thay đổi theo thời gian, theo điều kiện lịch sử cụ thể, theo đặc thù của

nhà trường đều góp phần vào quá trình hình thành, duy trì, đảm bảo và nâng
cao chất lượng đào tạo, tuy vai trò và sự đóng góp của mỗi nhân tố trong hệ
này có khác nhau. Cụ thể là 8 lĩnh vực với 26 tiêu chí được tập hợp lại để
đánh giá chất lượng và điều kiện đảm bảo chất lượng của một trường đại học.
Lĩnh vực 1: Tổ chức và quản lý của trường
Tổ chức và quản lý xét đến cùng là việc lập kế hoạch, tổ chức phân bổ, chỉ
đạo việc sử dụng nhân lực, tài lực, vật lực và nguồn lực khác của nhà trường,
kiểm tra và có những tác động phù hợp để điều chỉnh sao cho các nguồn lực
phát huy tối đa hiệu quả sử dụng nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Cùng có
những nguồn lực như nhau, điều kiện hoạt động như nhau… nhưng sự phát
triển của mỗi trường ra sao lại phụ thuộc vào việc trường đó được tổ chức và
quản lý như thế nào. Đây là lĩnh vực quan trọng hàng đầu bởi những hoạt
động này có thể nhân lên hoặc làm tiêu hao đi nguồn lực cho sự phát triển,
cho duy trì và đảm bảo chất lượng các hoạt động của nhà trường. lĩnh vực
này gồm các tiêu chí cơ bản sau:
Tiêu chí 1: “Việc xác định sứ mạng, nhiệm vụ chiến lược và mục tiêu
của một trường đại học là kim chỉ nam chi phối mọi hoạt động có kế
hoạch, có chất lượng của trường đó. Xác định sứ mạng rõ ràng, đề ra
nhiệm vụ chiến lược với các mục tiêu cụ thể là bằng chứng quan trọng về
đảm bảo chất lượng”[18,tr 44]. Đây chính là cái đích để mọi hoạt động
trong nhà trường nhằm vào đó mà tiến tới. Và như đã nói ở trên, sản phẩm
đào tạo của nhà trường có đạt được chất lượng hay không trước hết phụ
thuộc vào việc trường có thực hiện đúng sứ mạng đã tuyên bố của mình
hay không, có xác định đúng mục tiêu có đào tạo theo sứ mạng và những 20
yêu cầu cụ thể của kinh tế – xã hội đất nước đặt ra hay không. Nói tóm lại,
đây là khâu định hướng đầu tiên cho mọi hoạt động của một nhà trường,
phác thảo nên con đường để nhà trường đi tới đích.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status