tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc - Pdf 33

MỤC LỤC
MỤC LỤC.......................................................................................................................................1

1


A. ĐẶT VẤN ĐỀ

Hồ Chí Minh sau gần 10 năm nghiên cứu, khảo sát các cuộc cách mạng thế
giới và thâm nhập vào cuộc sống của nhân dân các dân tộc bị áp bức ở các nước
thuộc địa để từ đó vạch ra con đường giải phóng dân tộc Việt Nam. Theo Hồ Chí
Minh, cách mạng giải phóng dân tộc là sự kết hợp của tinh hoa dân tộc và sức
mạnh thời đại, vừa thể hiện tinh thần độc lập, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác –
Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Từ đó, có thể khẳng định
rằng cách mạng giải phóng dân tộc là một nội dung xuyên suốt trong tư tưởng cũng
như hoạt động thực tiễn của người. Qua bài viết này, em sẽ đi vào tìm hiểu trọng
tâm vấn đề “tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc”.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I.Khái niệm của tư tưởng hồ Chí minh về cách mạng giải phóng dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc là hệ thống các quan
điểm về con đường cứu nước, về tổ chức lực lượng, chiến lược, sách lược và
những nhân tố đảm bảo thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam
và các dân tộc thuộc địa khỏi chủ nghĩa thực dân đế quốc, xây dựng một nước Việt
Nam hòa bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh,… Đây là đóng góp xuất
sắc nhất của Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Vì
vậy, người được suy tôn là anh hùng giải phóng dân tộc.
II. Vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người
trong chủ nghĩa Mác – Lênin
Chủ nghĩa Mác – Lênin có sứ mệnh lịch sử và vạch rõ con đường và phương
pháp đấu tranh để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Ở

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 cũng như những thắng lợi trong 30
năm chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 trước hết là thắng lợi của đường
lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn và tư tưởng độc lập, tự do của Hồ Chí
Minh.
2. Cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường cách mạng vô sản
Thất bại của các phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX ở nước
ta chính là do sự bế tắc đường lối; không nhận thức được xu thế của thời đại; chưa
xác định rõ nhiệm vụ của cuộc đấu tranh là giải quyết những mâu thuẫn cơ bản
nào; không có khả năng tập hợp được lực lượng toàn dân tộc. Trước yêu cầu bức
xúc của vấn đề giải phóng dân tộc, từ chủ nghĩa yêu nước, Nguyễn Tất Thành đã
quyết định ra đi tìm đường cứu nước. Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước,
qua nghiên cứu các cuộc cách mạng dân chủ tư sản Mỹ (1776); Pháp (1789),
3


Nguyễn Ái Quốc đưa ra kết luận ngay cả các nước Pháp, Mỹ đã thiết lập nề cộng
hòa, dân chủ nhưng trong nước thì bóc lột công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc
địa. Người cho rằng đó là cách mạng chưa triệt để. Cách mạng Tháng Mười Nga
bùng nổ và thắng lợi làm chấn động thế giới. Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở chủ nghĩa
Lênin, ở cách mạng Tháng Mười Nga con đường cứu nước: giải phóng dân tộc
bằng con đường cách mạng vô sản. Người khẳng đinh: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội,
chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được dân tộc bị áp bức và những người lao
động trên thế giới khỏi ách nô lệ”; rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc
không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Kết luận trên đây
của Nguyễn Ái Quốc là sự khẳng định một hướng đi mới, mục tiêu và giải pháp
hoàn toàn mới, khác về căn bản so với các lãnh tụ của các phong trào yêu nước
trước đó ở Việt Nam; đưa cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của cách
mạng vô sản, tức là sự nghiệp cách mạng ấy phải do Đảng của giai cấp công nhân
lãnh đạo, lấy hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng. Vì vậy, con
đường phát triển tất yếu của cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành

với giai cấp công nhân, gắn bó với nhân dân lao động và cả dân tộc một trong
nhưng nhân tố tạo nên sức mạnh của Đảng, bảo đảm địa vị lãnh đạo của Đảng đối
với cách mạng Việt Nam. Đảng cộng sản quy tụ sức mạnh giai cấp và sức mạnh
dân tộc bảo đảm cho cách mạng thắng lợi.
4. Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết của toàn dân, trên
cơ sở liên minh công – nông.
Cách mạng là việc của quần chúng nhân dân. Cách mạng phải tiến hành bằng
bạo lực cách mạng. Tiếp thu những nguyên lý đó của chủ nghĩa Mác – Lênin, từ
những năm 1924 Hồ Chí Minh đã nghĩ tới một cuộc khởi nghĩa vũ trang để giải
phóng dân tộc. “Để có thắng lợi một cuộc khơi nghĩa vũ trang ở Đông Dương phải
có tích chất một cuộc cách mạng khởi nghĩa quần chúng chứ khôn phải một cuộc
nổi loạn. Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng”. “Cách mạng là
việc làm chung chứ không phải việc của một hai người”.
Xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam - một dân tộc thuộc địa nửa phong
kiến với hơn 95% dân số là nông dân. Đời sống của nhân dân dưới chế độ cai trị hà
khắc của chủ nghĩa thực dân đã bần cùng hóa, ý thức phản kháng, sẵn sàng tham
gia đấu tranh cách mạng được nung nấu từ thực tiễn đó. Ở khía cạnh khác, dưới
công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, cơ cấu giai cấp Việt Nam có sự
thay đổi, xã hội Việt Nam phân hóa rõ rệt, giai cấp công nhân mới ra đời, vừa yếu
lại vừa thiếu, lực lượng cách mạng chủ yếu chỉ có thể là nông dân. Vì vậy, khi xác
5


định động lực của cách mạng, Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở của sự nghiên cứu lý
luận và thực tiễn để đi đến kết luận rằng: bộ phận trung tâm trong lực lượng cách
mạng giải phóng dân tộc là công nhân, nông dân và khối liên minh công nông do
giai cấp công nhân lãnh đạo.
Trong một xã hội thuộc địa bị ngoại bang thống trị, không chỉ công nhân,
nông dân mà cả tư sản dân tộc, tiểu tư sản, một bộ phận địa chủ nhỏ và vừa đều là
những người Việt Nam mất nước. Họ tham gia vào phong trào giải phóng dân tộc.

rằng hình như các đồng chí chưa thấm nhuần tư tưởng cho rằng vận mệnh của giai
cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm
lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa...nọc
độc và sức sống của bọn rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các nước thuộc
địa hơn là chính quốc”. Người chỉ trích, đã có nhiều người “...lại xem thường các
thuộc địa trong lúc chủ nghĩa tư bản lại dựa vào nó để tự bảo vệ và chống lại các
đồng chí”. Người đã phát hiện ra “thuộc địa là mắt xích yếu trong hệ thống của chủ
nghĩa đế quốc”; “tất cả sinh lực của chủ nghĩa đế quốc lấy ở xứ thuộc địa”. Trong
khi đó, nhân dân thuộc địa luôn chứa đựng tinh thần yêu nước, căm thù bọn xâm
lược và sẽ vùng dậy khi có thời cơ. Vì vậy, ngay từ năm 1924, Người đã sớm cho
rằng: “Cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản
ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước”, và “trong khi thủ tiêu một trong
những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp
đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn
toàn”. Như vậy, Hồ Chí Minh cho rằng cách mạng vô sản ở chính quốc và cách
mạng thuộc địa có quan hệ khăng khít với nhau vì cả hai đều cùng một kể thù
chung là chủ nghĩa đế quốc. Mối quan hệ này không phải mối quan hệ phụ thuộc.
Hồ Chí Minh đánh giá cao sức mạnh của một dân tộc trong cuộc đấu tranh
chống chủ nghĩa thực dân. Các dân tộc thuộc địa phải chủ động sáng tạo, tránh tư
tưởng bị động, ngồi chờ sự giúp đỡ bên ngoài. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh,
trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 Hồ Chí Minh đã ra sức xây dựng lực lượng
chính trị và quân sự, khi thời cơ đến Người đã kêu gọi: “Toàn quốc đồng bào hãy
đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Trong kháng chiến chống Pháp xâm
lược, Hồ Chí Minh đã kêu gọi: “Kháng chiến trường kỳ gian khổ đồng thời tự lực
cánh sinh – dù sự giúp đỡ bên ngoài là quan trọng. Một dân tộc không tự lực cánh
sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác thì không xứng được độc lập dân tộc”. Thắng lợi
của cuộc Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam là một minh chứng khẳng định luận
điểm của Hồ Chí Minh hoàn toàn đúng đắn. Và nó trở thành một lý luận cách
7


chính trị. “thắng lợi quân sự đem lại thắng lợi chính trị, thắng lợi chính trị làm cho
8


thắng lợi quân sự to lớn hơn”. Mặt trận ngoại giao phối hợp với mặt trận quân sự
để tranh thủ sự ủng hộ quốc tế. Hồ Chí Minh chủ trương vừa đánh vừa đàm, đánh
là chủ yếu, đàm là hỗ trợ. Để tạo sức mạnh tổng hợp Hồ Chí Minh không chỉ thực
hiện chiến tranh nhân dân mà còn thực hiện chiến tranh toàn diện, chiến tranh trên
lĩnh vực kinh tế, văn hóa. Tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế nhưng đề cao tự lực cánh
sinh. Đó là quan điểm trước sau như một của Hồ Chí Minh.
Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về cách mạng bạo lực, kết hợp lực
lượng chính trị của quần chúng với lực lượng vũ trang nhân dân là một quan điểm
sáng tạo mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến vào sự phát triển lý luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa.
C. KẾT LUẬN

Lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh là một đóng góp to lớn
vào kho tàng lý luận cách mạng của thời đại, soi đường thắng lợi cho cách mạng
giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Đem lại những kết quả trước mắt là sự độc lập: cả
đời Hồ Chí Minh đã dành trọn cho nhân dân, cho đất nước, cho sự nghiệp đấu
tranh giải phóng con người, giải phóng nhân loại cần lao, thoát khỏi áp bức, bóc
lột, vươn tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách
mạng giải phóng dân tộc sẽ ngày càng phát triển, hoàn thiện với thực tiễn đang
biến đổi của đất nước. Tư tưởng ấy sẽ là ngọn nguồn tạo nên sức mạnh vô địch của
dân tộc ta để đi tới xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội đích thực.

9


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status