LỜI CAM ĐOAN
Xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Lê Thị Thu hà
1
LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến
PGS.TS Võ Văn Phú-Trường Đại học Khoa học Huế. Người đã trực tiếp hướng dẫn
tận tình và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn.
Xin chân thành cám ơn quý thầy, cô cùng tập thể cán bộ Khoa Sinh Trường Đại
học Sư phạm Huế. Phòng đào tạo sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Huế. Tập thể
cán bộ tổ bộ môn Tài nguyên Môi trường trường Đại học Khoa học Huế, đã quan tâm
giúp đỡ tận tình trong quá trình thực hiện đề tài.
Xin tỏ lòng biết ơn đến những cơ quan, đơn vị cùng bà con ngư dân tỉnh Khánh
Hòa đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá tình thu mẫu, phân tích
mẫu để phục vụ cho bản luận văn.
Xin trân trọng cám ơn.
Tác giả
Lê Thị Thu Hà
2
MỞ ĐẦU
3
tài nguyên về cá nói chung và về bộ cá lớn như cá Vược nói riêng cho các mục tiêu
kinh tế, xã hội ở tỉnh Khánh Hòa.
Vì những lí do trên nên chúng tôi chọn đề tài" Nghiên cứu thành phần loài Bộ
Cá Vược (Perciformes ) ở các thủy vực nội địa tỉnh Khánh Hoà” trong luận văn thạc
sĩ khoa học của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
1. Xác định được danh lục thành phần loài thuộc Bộ Cá vược (Perciformes) ở các
thuỷ vực nội địa thuộc tỉnh Khánh Hoà.
2. Đánh giá được tính đa dạng về thành phần loài của Bộ Cá vược (Perciformes).
3. Bước đầu xây bựng bộ mẫu về cá Vược tỉnh Khánh Hòa.
4. Đề xuất đưa ra các giải pháp bảo vệ khả thi nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lợi
cá ở vùng này.
3. Nội dung nghiên cứu
1. Lập danh lục thành phần loài thuộc bộ cá Vược.
2. Nghiên cứu số lượng và phân bố của các loài tại một số con sông chính ở
Khánh Hòa.
3. Nghiên cứu tính chất địa động vật về cá Vược tỉnh Khánh Hòa, so sánh với yếu
tố địa động vật trên thế giới, trong khu vực và ở vùng nghiên cứu.
4. Xây dựng bộ mẫu về các loài trong bộ cá Vược ở tỉnh Khánh Hòa.
5. Nghiên cứu thực trạng khai thác và bảo vệ nguồn lợi cá Vược từ đó đề xuất
việc sử dụng hợp lý và các biện pháp bảo vệ.
4
Chương 1
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ Ở CÁC VÙNG NƯỚC NỘI ĐỊA
(Anguilla japonica) ở sông Hồng [56]. Năm 1937, một công trình tổng hợp về cá nước
ngọt miền Bắc Việt Nam của P. Chevey và J. Lemasson - “Góp phần nghiên cứu về
các loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam” đã giới thiệu 17 họ, 98 loài. Đây được xem
là công trình nghiên cứu tổng hợp đầy đủ nhất về cá lúc bấy giờ [49]. Ở vùng nước
ngọt miền Trung, công trình đầu tiên được biết đến là của G. Tirant (1929) về khu hệ
cá sông Hương – Huế công bố 70 loài trong đó có 5 loài mới [8].
Việc nghiên cứu về cá ở trong thời gian này chỉ mới dừng lại ở mức độ mô tả,
thống kê thành phần loài còn về nguồn lợi, phương pháp khai thác, phát triển và bảo
vệ chưa được thực hiện nghiên cứu.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), công tác nghiên
cứu về sinh vật nói chung và nghiên cứu cá nói riêng bị gián đoạn.
Trong giai đoạn 1955 - 1975, khi hòa bình lập lại, miền Bắc được hoàn toàn giải
phóng, công tác nghiên cứu lại được tiếp tục và tập trung chủ yếu ở miền Bắc do chính
các nhà khoa học Việt Nam tiến hành. Ở giai đoạn này công tác điều tra cơ bản sinh
vật nước ngọt do các cơ quan như Trạm nghiên cứu Thủy sản nước ngọt Đình Bảng
thuộc Tổng cục Thủy sản (nay là Bộ Thủy sản), khoa Sinh vật trường Đại học Tổng
hợp Hà Nội và trường Đại học Thủy sản Hải Phòng thực hiện [8]. Các cơ quan này đã
tiến hành điều tra ở hầu hết các vùng sinh thái Đông bắc, Tây bắc và Khu IV cũ thuộc
các loại hình thủy vực khác nhau như sông, suối, hồ chứa, đầm, ao, ruộng…Các thủy
vực sông Đà, sông Cầu, sông Chảy, sông Lô, sông Gấm, sông Châu Giang, sông Ninh
Cơ, sông Cần Thao, sông Bắc Hưng Hải…được điều tra kĩ hơn. Tiếp đến là các đầm,
hồ chứa như Thác Bà, Ba Bể, hồ Tây, Cấm Sơn, Suối Hai, Đại Lãi, Vân Trục…; còn
các hồ nhỏ, ruộng lúa được điều tra ít hơn [5]. Một số vùng còn có các điểm trắng
chưa điều tra như Lai Châu, Móng Cái, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế…
Ở thời kỳ này, các công trình nghiên cứu tiêu biểu về khu hệ ở miền Bắc gồm các
tác giả: Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1959): “Dẫn liệu sơ bộ ngư giới sông Bôi”;
“Dẫn liệu sơ bộ ngư giới Ngòi Thia” (1960); Đào Văn Tiến, Đặng Ngọc Thanh, Mai
Đình Yên (1961): “Điều tra nguồn lợi sinh vật hồ Tây”; Mai Đình Yên (1962): “Sơ bộ
điều tra thành phần, nguồn gốc và phân bố của chủng quần cá sông Hồng”; Nguyễn
[21]. Trong đó bộ cá Vược có thành phần loài phong phú nhất với 86 loài chiếm
52,76% tổng số loài. Đây được xem là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về khu hệ cá
đầm phá vào thời gian này; Nguyễn Thị Thu Hè (1999): “Thành phần loài cá ở sông
suối Tây Nguyên” (138 loài) [11]; Vũ Trung Tạng (1999): “Thành phần loài cá Đầm
Trà Ô” (67 loài) [46]; Nguyễn Thái Tự (1999): “Khu hệ cá Phong Nha” (72 loài);
Từ năm 2000 đến nay rất nhiều công trình khoa học đã được công bố đã góp phần
bổ sung để hoàn thiện về các khu hệ cá trên cả nước, tiêu biểu như: Võ Văn Phú, Trần
7
Hồng Đĩnh (2001): “Khu hệ cá Đầm Lăng Cô” (151 loài); Nguyễn Xuân Huấn,
Nguyễn Việt Cường, Thạch Mai Hoàng (2003): “Cá khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà –
Núi Chúa” (78 loài); Võ Văn Phú, Trương Thị Thu Hà (2003): “Cấu trúc thành phần
loài cá ở sông Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình” (169 loài); Võ Văn Phú, Nguyễn Thị Thu
Hà (2003): “Đa dạng sinh học về thành phần loài cá hồ thủy điện Yaly (Gia Lai – Kom
Tum)” với 98 loài; Võ Văn Phú, Hồ Thị Hồng (2003): “Khu hệ cá ở vùng cửa sông
ven biển tỉnh Hà Tĩnh” (131 loài); Võ Văn Phú (2004): “Khu hệ cá vườn Quốc gia
Bạch Mã” đã thống kê được 57 loài cá nước ngọt thuộc 48 giống, 17 họ và 6 bộ cá
khác nhau. Danh lục này đối chiếu với kết quả nghiên cứu năm 1998 của Võ Văn Phú
thì đã bổ sung thêm 22 loài mới chiếm 38,59% tổng số loài. Trong đó cá Vược có 13
loài chiếm 22,81% tổng số loài, 12 giống và 5 họ. Qua đây cho thấy tính chất ngọt hóa
do nằm sâu trong lục địa của khu hệ [24]; Võ Văn Phú (2005): “Đa dạng sinh học cá
sông Hương, tỉnh Thừa Thiên Huế” (121 loài) [29]; Võ Văn Phú, Vũ Thị Phương Anh,
Nguyễn Ngọc Hoàng Tân (2005): “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá ở sông
Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam” [30]; Võ Văn Phú, Nguyễn Minh Ty (2005): “Thành phần
loài khu hệ cá Sông Ba, Phú Yên” thống kê được 71 loài cá thuộc 54 giống, 37 họ và
11 bộ trong đó cá Vược có 22 loài chiếm 30,99% [27]; Võ Văn Phú, Hoàng Trọng Tú,
Hoàng Đình Trung, Văn Ngọc Cương (2006): “Đa dạng Sinh học thành phần loài cá ở
khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông, tỉnh Quảng Trị” đã ngiên cứu được 100 loài thuộc
Vu Gia – Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam” (197 loài) [36]; Võ Văn Phú, Lê Văn Quảng,
Dương Tuấn Hiệp, Nguyễn Duy Thuận (2011) “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài
cá rạn san hô ven bờ đảo Cồn cỏ tỉnh Quảng Trị” xác định được 103 loài nằm trong 62
giống thuộc 35 họ và 10 bộ; Võ Văn Phú và cộng sự 2011:”Nghiên cứu đánh giá hiện
trạng môi trường các hệ sinh thái thuỷ sinh đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, những tác
động các công trình trên dòng chính sau thực hiện quy hoạch đến điều kiện tự nhiên
môi trường vùng đầm phá và đề xuất biện pháp giảm thiểu” nghiên cứu được 199 loài
thuộc 106 giống nằm trong 17 họ. Trong đó cá Vược chiếm ưu thế nhất với 35 họ 59
giống và 116 loài chiếm lần lượt 54,69%, 55,66%, 58,29%; Võ Văn Phú và Trần Đại
Nghĩa (2011), “Nghiên cứu khu hệ cá sông Roòn, tỉnh Quảng Bình” thống kê được
135 loài trong đó cá Vược có 64 loài chiếm 47,41%; Võ Văn Phú và Nguyễn Giang
Nam (2011), “Nghiên cứu thành phần loài cá ở sông Long Đại, tỉnh Quảng Bình”
thống kê được 101 loài thuộc 69 giống trong 32 họ và 10 bộ. Trong đó cá Vược gồm
16 họ chiếm 50.00% tổng số họ, 23 giống chiếm 33,33% tổng số giống và 35 loài
chiếm 34,65% [18]; Võ Văn Phú, Nguyễn Tuấn (2011) “Nghiên cứu thành phần loài
và đặc điểm phân bố của cá ở hệ thống sông Hội An, tỉnh Quảng Nam” đã xác định
141 loài nằm trong 99 giống thuộc 58 họ và 18 bộ. Trong đó cá Vược với 72 loài
9
chiếm 51,06% tổng số loài, 46 giống chiếm 46,47% tổng số giống và 30 họ chiếm
51,72% tổng số họ. Qua đây cho thấy tính chất mặn hóa của hệ thống sông Hội An
tỉnh Quảng Nam là rất cao. Tạ Thị Thủy, Đỗ Văn Nhượng, Trần Đức Hậu và Nguyễn
Xuân Tuấn (2011) “Thành phần và phân bố các loài các sông Ba Chẽ thuộc địa phận
tỉnh Quảng Ninh” đã thống kê được 123 loài thuộc 102 giông, 58 họ và 13 bộ. Trong
đó cá Vược có 29 họ, 40 giống và 52 loài chiếm lần lượt 50,00%, 39,20%, 43,20%
[53]; Nguyễn Hữu Dực và Tống Xuân Tám (2012) “ Nghiên cứu về thành phần loài,
đặc điểm phân bố và tình hình nguồn lợi cá ở lưu vực sông Sài Gòn” thống kê được
264 loài thuộc 155 giống nằm trong 68 họ của 16 bộ [44]; Võ Văn Phú, Phạm Thanh
Hoan (1999), “ Biện pháp giải quyết giống cá nuôi tại các xã của huyện miền núi
Khánh Sơn - Khánh Hòa”; Nguyễn Phi Uy Vũ, Hồ Bá Đỉnh, Lê Thị Thu Thảo, Trần
Thị Hồng Hoa, Võ Văn Quang (2007), “Thành phần loài cá thường gặp của một số
nghề khai thác cá đáy và gần đáy ở vùng biển ven bờ tỉnh Khánh Hòa”, Báo cáo khoa
học, Hội nghị khoa học quốc gia “Biển Dông 2007” đã thống kê được 263 loài thuộc
161 giống, 92 họ và 19 bộ. Trong đó bộ cá Vược chiếm ưu thế nhất với 44 họ chiếm
47,83% tổng số họ, 82 giống chiếm 50,93% tổng số giống, 158 loài chiếm 60,08%
tổng số loài [55]; Cao Xuân Dũng (2010) “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của
cá Nghạnh” và “ Nghiên cứu các thông số kỹ thuật, xây dựng quy trình kỹ thuật sản
xuất giống nhân tạo cá Dìa ( Siganus guttatus) tại Khánh Hòa (2011 - 2013); Trần Văn
Phước (2011) “ Hiện trạng nguồn lợi thủy sản khai thác bằng nò sáo tại thôn Tân Đảo đầm Nha Phu - tỉnh Khánh Hòa đã thống kê được 55 loài cá trong đó bộ cá Vược gồm
có 33 loài chiếm 52,38%. Thể hiện tính chất mặn hóa trong đầm là rất cao.....
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về cá ở tỉnh Khánh Hoà vẫn còn ít, đặc
biệt do tiềm năng về cá biển rất lớn nên các công trình nghiên cứu gần đây chú trọng
nhiều hơn về cá biển. Do vậy chưa đánh giá đúng mức về tiềm năng về nguồn lợi cá ở
sông ngòi và các thủy vực nội địa khác. Tuy nhiên nguồn lợi về cá ở Khánh Hoà vẫn
đang được đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển trên nhiều lĩnh vực khác nhau .
Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trước ta thấy rằng cá Vược là một
bộ cá rất lớn, rất đa dạng về thành phần loài, giống cũng như về bậc họ. Ngoài ra đây
cũng là một bộ cá có sự phân bố rất rộng từ sâu trong thủy vực đến ra ngoài biển khơi.
Ngay cả những khu hệ sâu trong đất liền hay nằm trên núi cao thì cá Vược vẫn là một
bộ cá chính với số lượng lớn và sự đa dạng về loài rất cao. Nhất là ở Khánh Hòa với
những đặc trưng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác biệt hơn những tỉnh khác
thì nguồn lợi về cá Vược nổi bậc hơn hẳn những bộ cá còn lại. Vì vậy việc nghiên cứu
riêng về bộ cá này là rất cần thiết.
11
Chương 2
12
Khánh Hòa là tỉnh có đường bờ biển đẹp, dài và khá khúc khuỷu kéo dài khoảng
385km tính theo mép nước với nhiều cửa lạch, đầm, vịnh cùng hơn 200 hòn đảo lớn
nhỏ ven bờ.
Với những thuận lợi về địa hình và khí hậu nên hệ sinh vật Khánh Hòa rất phát
triển nhất là thủy sinh vật. Ở đây có sự phát triển đầy đủ của hệ thủy sinh nước ngọt,
nước lợ cũng như nược mặn. Ngoài ra còn có rất nhiều nguồn tài nguyên và khí hậu
thuận lợi trong việc khai thac và nuôi trồng thủy hải sản.
2.2. Điều kiện khí hậu
Điều kiện khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống mọi sinh vật. Mặc dù cá là
một loài sống ở môi trường nước nhưng cũng không thể không chịu ảnh hưởng mạnh
mẽ của điều kiện khí hậu ảnh hưởng lên chính cơ thể và sự sống hằng ngày. Là một
trong tỉnh nằm ở khu vực cực nam của Nam Trung Bộ thuộc khí hậu savan nhiệt đới
nhưng do địa hình phân bố tương đối phức tạp nên khí hậu ở Khánh Hòa có những nét
biến dạng độc đáo với các đặc điểm riêng biệt. So với các tỉnh thành phía bắc từ đèo
Cả trở ra và phía nam từ Ghềnh Đá Bạc trở vào thì khí hậu ở Khánh Hòa tương đối ôn
hòa hơn do ảnh hưởng của khí hậu hải dương từ biển thổi vào.
2.2.1. Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống mọi sinh vật. Khánh Hòa là
tỉnh sâu trong khu vực nội chí tuyến nên có nền nhiệt tương đối cao trung bình ở năm
2011 là 26,7oC . Nhiệt độ có sự dao động không lớn, các tháng không có sự biến động
nhiều về nhiệt độ. Tuy nhiên lại có sự chênh lệch nhiêt độ do phân hóa về độ cao nên
hai huyện Khánh Sơn và Khánh Vĩnh lúc nào cũng có nền nhiệt thấp hơn những
huyện, thành phố và thị xã còn lại. Dựa vào nền nhiệt có thể chia khí hậu Khánh Hòa
ra làm hai mùa rõ rệt. Từ tháng 1 đến tháng 8, có thể coi là mùa khô, thời tiết thay đổi
dần. Những tháng đầu mùa, trời mát, nhiệt độ từ 17-25 °C, nhưng từ tháng 5 đến tháng
8 trời nóng nực, nhiệt độ có thể lên tới 34 °C (Nha Trang) và 37-38 °C (Cam Ranh).
Tháng 9 đến tháng 12, được xem như mùa mưa, nhưng nền nhiệt không xuống quá
11
12
Năm
24,1
24,7
25,0
26,5
28,5
28,9
28,1
28,6
28,7
26,9
26,4
24,4
270
7
274
8
293
9
192
10
192
11
154
12
45
năm
2573
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Khánh Hòa, 2012
Mặc dù có nền nhiệt trung bình tương đối cao và số giờ nắng nhiều nhưng khí hậu
ở Khánh Hòa lại dàn trải vì thế thời tiết không quá gay gắt, phân bố tương đối đều và
khá dễ chịu nên rất thuận lợi cho sinh vật phát triển.
14
3
75,9
4
5
6
7
8
9
10
11
12
4,5
187,8
17,0
110,3
2
3
4
83 81
79
78
5
6
7
8
9
10
11
12
năm
Khánh Hòa được đánh giá là một tỉnh có nhiều tài nguyên khoáng sản như than
bùn, cao lanh, sét, sét chịu lửa, vàng sa khoáng, cát thuỷ tinh, san hô, đá granit, quặng
ilmênit, nước khoáng, phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng và công nghiệp khai thác.
Ngoài ra còn có nhiều tài nguyên biển, bao gồm các nguồn rong, tảo thực vật, trữ
lượng hải sản lớn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến hải sản; các điều
kiện thuận lợi để khai thác sinh vật biển và nuôi trồng thuỷ sản. Theo đánh giá nguồn
lợi, vùng biển Khánh Hòa có tổng trữ lượng hải sản khoảng 150.000 tấn, cho phép
khai thác ở mức 70.000 tấn/năm. Nhưng do những năm gần đây sản lượng hải sản
đánh bắt được ngày càng giảm sút nên cần có những biện pháp khắc phục và hiện tại
cần có những biện pháp phát triển nuôi trồng thủy hải sản.
17
2.3. Tình hình kinh tế - xã hội
2.3.1. Dân số và lao động
Theo kết quả điều tra đến cuối năm 2011 tổng dân số trên toàn tỉnh là 1.174.136
người trong đó nữ là 593.681 người chiếm 50,56%. Số người lao động trong lĩnh vực
nông - lâm nghiệp và thủy sản là 633.580 người chiếm 53,96% Mật độ dân số không
phân bố đồng đều ở trong tỉnh có sự chênh lệch mật độ giữa thành phố và huyện miền
núi là rất lớn. Mật độ cao nhất ở thành phố Nha Trang với 1.568 người/km 2 thấp nhất ở
huyện Khánh Vĩnh chỉ có 30 người/km 2. Nhìn chung lượng lao động khá đồi dào nhất
là lao động phụ vụ trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản. Nhưng hầu hết là lao động
phổ thông , chưa qua trường lớp đào tạo nên khó khăn trong việc vân dụng các tiến bộ
khoa học vào sản xuất để phát triển nền kinh tế tỉnh Khánh Hòa.
2.3.2. Tình hình kinh tế
Dưới chính sách lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà Nước tình hình kinh tế tỉnh
Khánh Hòa ngày càng ổn định và đang đần được nâng cao. Tỷ lệ thất nghiệp trong
năm 2011 là 3,54% , thu nhập bình quân trên đầu người được nâng cao . Ở thành thị từ
mức thu nhập bình quân năm 2010 là 1.375,2 nghìn đồng lên 1.450,4 nghìn đồng năm
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các loài cá thuộc bộ cá Vược (Perciformes) ở một số sông chính thuộc tỉnh
Khánh Hòa.
Tình hình hoạt động, khai thác nuôi thả cá Vược trong các thủy vực.
3.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 9 năm 2012 đến cuối tháng 9 năm 2013.
- Tháng 9 đến tháng 10 năm 2012 thu thập số liệu, khảo sát vùng nghiên cứu.
- Từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 9 năm 2013:
+ Nghiên cứu thực đia: Tiến hành thư mẫu theo định kỳ 2 tháng 1 lân.
+ Phân tích số liệu và xử lý mẫu.
+ Làm bộ mẫu.
Những mẫu đã định loại được lưu giữ tại phòng Tài nguyên - Môi trường, khoa
Sinh học, trường đại học Khoa học Huế.
3.3. Địa điểm nghiên cứu
- Tiến hành thu mẫu cá trên các con sông: Sông Dinh, sông Chò, sông Giang,
sông Cái, sông tô hạp và các thủy vực nội địa khác.
- Trên mỗi sông sẽ tiến hành 4 - 6 vùng thu mẫu như đã xác định trên sơ đồ.
+ Sông Dinh sẽ thu mẫu trên các vùng thuộc các xã: Ninh Xuân, Ninh Bình, Ninh
Giang, Ninh Hồ, Ninh Quang thuộc Huyện Ninh Hòa.
+ Sông Cái sẽ tiến hành thu mẫu ở các vùng: thị trấn Khánh Hiêp Huyện Khánh
Vĩnh và các xã Diên Xuân, Diên Thọ, Diên Phước, Diên Lạc, Diên Phú huyện Diên
Khánh. Xã Khánh Tây, Khánh Nam huyện Khánh Vĩnh. Xã Vĩnh Thạnh, Vĩnh Ngọc
thành phố Nha Trang.
+ Sông Tô Hạp sẽ tiên hành thu trên các xã Sơn Lâm, Sơn Hiệp, Ba Cụm Bắc, Ba
Cụm Nam huyện Khánh Sơn.
20
Quan sát, chụp ảnh các cảnh quan xung quanh vùng nghiên cứu, ghi chép các sự
việc, hiên tượng có liên quan đến nội dung nghiên cứu trong quá trình đi thu mẫu.
Thu thập thông tin và tổng hợp tất cả các tài liệu có liên quan đến đề tài ở Sở Tài
nguyên Môi trường, Cục Thống Kê, viện Hải Dương Học tỉnh Khánh Hòa...
22
3.5. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
3.5.1. Phương pháp phân loại cá
- Định loại cá bằng phương pháp so sánh hình thái, chủ yếu theo các khoá định
loại của Vương Dĩ Khang (1963) [13]; Nguyễn Khắc Hường, Nguyễn Nhật Thi
(1992); Mai Đình Yên (1978, 1992) [47], [48]; W.J.Rainboth (1996) [58] Nguyễn Văn
Hảo (2001, 2005) [8], [9], [10] và FAO (1998) [53],[54], Eschermeyer (1998, 2005)
[52].
- Mỗi loại cá được nêu tên khoa học và tên Việt Nam. Trình tự các bộ, họ, giống,
loài được sắp xếp theo hệ thống phân loại của T.R.Rass, G.U.Lindberg (1971) [57],
FAO (1998) [53], Eschermeyer (1998, 2005) [52],...
* Đo các chỉ tiêu hình thái:
- Đo kích thước các chỉ số đo hình thái (mm) của cơ thể và trọng lượng (g) cơ thể
cá (hình 3.2).
Hình 3.2. Sơ đồ chỉ dẫn các số đo hình thái ở cá Vược của W.J.Rainboth(1996)
Các chỉ số đo hình thái (mm): Chiều dài cá tính từ mút mõm đến hết vây đuôi (L),
Chiều dài thân (L0), Chiều dài đầu (T), Chiều dài gốc lưng, Chiều dài cuống đuôi,
Chiều cao lớn nhất của thân (H), Chiều cao cuống đuôi, Đường kính mắt (O), Khoảng
cách giữa 2 ổ mắt (OO).
Đếm một số chỉ tiêu số lượng tia, vây, gai ở các loại vây chẵn, vây lẻ của cơ thể
cá (hình 3.3).
23
- Xử lý ảnh bằng phần mềm Photoshop.
24
- Xử lý bản đồ bằng phần mềm Map - info.
Chương 4
THÀNH PHẦN LOÀI THUỘC BỘ CÁ VƯỢC (PERCIFORMES) Ở
CÁC SÔNG THUỘC TỈNH KHÁNH HÒA
4.1. Danh lục thành phần loài thuộc bộ cá Vược (Perciformes) ở các sông thuộc
tỉnh Khánh Hòa.
Qua quá trình thu thập, phân tích và định loại thành phần loài bộ cá Vược
(Perciformes) ở các sông thuộc tỉnh Khánh Hòa. Chúng tôi đã xác định được 62 loài cá
thuộc 38 giống nằm trong 21 họ khác nhau.
Ở bảng 4.1 thể hiện thành phần các loài cá thuộc bộ cá Vược (Perciformes) phân
bố trên những con sông chính thuộc tỉnh Khánh Hòa. Danh lục thành phần loài cá
được sắp xếp theo hệ thống phân loại của W.N Eschemayer (2005), chuẩn tên loài theo
Fao (1998, 2001).
Các con sông chính ở Khánh Hòa có sự đa dạng về thành phần loài trong bộ cá
Vược khá cao.
Sông Cái ở Nha Trang là con sông lớn nhất tỉnh Khánh Hòa, nó nhận nước từ hai
phụ lưu lớn là sông Chò và sông Giang ở thị trấn Khánh Vĩnh. Thành phần loài cá ở hệ
thống sông Cái khá đa dạng, hầu hết các loài trong bộ cá Vược đã được tìm thấy ở
trong tỉnh đều có mặt ở hệ thống sông Cái. Theo chúng tôi nghiên cứu thành phần loài
sông Cái gồm có 61 loài trong 37 giống thuộc 21 họ cá khác nhau chiếm 98,38% tổng
số loài trên toàn tỉnh.
Sông Dinh ở Ninh Hòa là côn sông lớn thứ hai trong toàn tỉnh. Thành phần loài
trong bộ cá vược ở con sông này cũng khá phong phú. Chúng tôi đã xác định được 58
loài nằm trong 35 giống thuộc 21 họ trong bộ cá Vược ở tỉnh Khánh Hòa, chiếm