Đánh giá một số chỉ tiêu về khả năng sản xuất và chống chịu bệnh của gà sasso nuôi tại trại giống gia cầm thịnh đán thành phố thái nguyên - Pdf 33

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------------

LONG THỊ THANH THỦY
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CHỈ TIÊU VỀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ
CHỐNG CHỊU BỆNH CỦA GÀ SASSO NUÔI TẠI TRẠI GIỐNG GIA
CẦM THỊNH ĐÁN, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Khoa:Chăn nuôi Thú y
Khóa học:2011 - 2015

Thái Nguyên, năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------------

LONG THỊ THANH THỦY
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CHỈ TIÊU VỀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ
CHỐNG CHỊU BỆNH CỦA GÀ SASSO NUÔI TẠI TRẠI GIỐNG GIA
CẦM THỊNH ĐÁN, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Khoa Chăn nuôi-Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên, năm 2015


LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là khâu cuối cùng của quá trình đào tạo, đóng vai trò quan
trọng và không thể thiếu ở các trường Đại học nói chung và Trường Đại học Nông
Lâm nói riêng. Quá trình thực tập giúp cho sinh viên tiếp cận và nắm bắt thực tế,
củng cố kiến thức đã học, đồng thời áp dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất, từ đó
nâng cao kiến thức chuyên môn, nắm vững các phương pháp nghiên cứu khoa học.
Ngoài ra, thực tập tốt nghiệp cũng là thời gian giúp cho sinh viên rèn luyện,
học hỏi kinh nghiệm của người đi trước, nhằm trang bị những kiến thức chuyên
môn, nghiệp vụ và công tác quản lý để sau khi tốt nghiệp ra trường trở thành người
cán bộ khoa học có trình độ chuyên môn, tay nghề vững vàng, có thể đáp ứng yêu
cầu của sản xuất.
Xuất phát từ cơ sở trên, theo nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của
khoa Chăn nuôi Thú y - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự tiếp
nhận của Trại giống gia cầm Thịnh Đán thuộc Trung tâm Giống vật nuôi tỉnh Thái
Nguyên, cùng với sự hướng dẫn tận tình của cô Th.s. Đặng Thị Mai Lan, em đã tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá một số chỉ tiêu về khả năng sản xuất và chống
chịu bệnh của gà Sasso nuôi tại Trại giống gia cầm Thịnh Đán - Thành phố Thái
Nguyên”.
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, mặc dù bản thân đã đã hết sức nỗ lực
song do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên bài viết chắc chắn không tránh khỏi
những thiếu sót nhất định. Em rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô, của
bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn.
Thái Nguyên, Ngày

tháng

CS

Cộng sự

D/R

Dài/rộng

ĐVT

Đơn vị tính

Hu

Haugh

NST

Năng suất trứng



Thức ăn

TC

Tiêu chuẩn

TCVN


2.1.2. Sức sống và khả năng kháng bệnh ...........................................................4
2.1.3. Khả năng sinh sản của gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng ........................6
2.1.4. Đặc điểm sinh học của trứng gia cầm .................................................... 11
2.1.5. Khả năng thụ tinh ...................................................................................14
2.1.6. Tỷ lệ ấp nở và các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ ấp nở ..............................14
2.2. Nguồn gốc, đặc điểm, tính năng sản xuất của giống gà Sasso ..................16
2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ...............................................17
2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ...........................................................17
2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước...........................................................19
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......... 21
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................................21
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ................................................................21
3.3. Nội dung nghiên cứu .................................................................................21
3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi .....................................21
3.4.1. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................21
3.4.2. Các chỉ tiêu theo dõi ...............................................................................22
3.4.3. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi ....................................................22
3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu ......................................................................25


LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn
nuôi thú y, Cô giáo hướng dẫn và sự nhất trí của Trại giống gia cầm Thịnh Đán Thành phố Thái nguyên - tỉnh Thái Nguyên, em thực hiện nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá một số chỉ tiêu về khả năng sản xuất và chống chịu bệnh của gà Sasso nuôi
tại trại giống gia cầm Thịnh Đán - Thành phố Thái Nguyên”.
Em xin gửi lời trân trọng cảm ơn đến Ban giám hiệu Nhà trường, đến các
thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y, cán bộ, công nhân viên của Trại giống
gia cầm Thịnh Đán những người đã tận tình chỉ bảo, cung cấp những kiến thức quý
báu cho em, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Đặc biệt, em xin
bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo hướng dẫn Th.s. Đặng Thị Mai Lan đã

đặc biệt chú trọng tới công tác giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng.
Những năm vừa qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã nhập
nhiều tổ hợp gà nổi tiếng trên thế giới để nhân thuần hoặc lai với các giống gà khác,
nhằm cung cấp gà thương phẩm thịt cho thị trường như: gà Tam Hoàng, Lương
Phượng, Kabir, Sasso… Trong đó có gà Sasso nhập từ Pháp năm 2002 có nhiều đặc
tính quý như: có khả năng thích nghi cao với điều kiện nóng ẩm, sức kháng bệnh
tốt, chất lượng thịt thơm ngon, thích hợp với các phương thức nuôi nhốt, bán nuôi
nhốt và thả vườn rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi và thị hiếu của người tiêu
dùng Việt Nam.
Thái Nguyên là một trong những tỉnh có tiềm năng chăn nuôi gà rất lớn, khá
phát triển. Rất nhiều giống gà đã và đang được nuôi trên địa bàn, nhằm nuôi giữ
giống gốc và đánh giá khả năng sản xuất của các giống này trong điều kiện khí hậu
nóng ẩm của tỉnh. Trong đó có các giống gà như: gà Lương Phượng, Sasso, ISAJA57, gà Sao,…Để giúp người chăn nuôi có thêm cơ sở khoa học trong việc đánh
giá về khả năng sản xuất của gà mái Sasso nuôi tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá một số chỉ tiêu về khả năng sản xuất và
chống chịu bệnh của gà Sasso nuôi tại trại giống gia cầm Thịnh Đán - Thành
phố Thái Nguyên”


2

1.2. Mục đích nghiên cứu đề tài
- Xác định được khả năng sản xuất của gà Sasso và khả năng chống chịu
bệnh của chúng.
- Từ những số liệu thu thập được để có cơ sở khuyến cáo kỹ thuật cho người
chăn nuôi, góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.
- Bản thân được làm quen với công tác nghiên cứu khoa học.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Đóng góp số liệu khoa học về khả năng sản xuất và chống chịu bệnh của gà

có môi trường phù hợp mới được biểu hiện hoàn toàn.
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [15] thì giá trị đo lường của tính trạng số
lượng trên một cá thể được gọi là giá trị kiểu hình (Phenotypic value) của cá thể đó.
Các giá trị liên quan tới kiểu gen (Genotypic value) và giá trị có liên hệ với môi
trường là sự sai lệch môi trường (Environmental deviation).
Như vậy kiểu gen quy định một giá trị nào đó của kiểu hình và môi trường
gây ra một sự sai lệch với giá trị kiểu gen theo hướng này hoặc hướng khác.
Quan hệ đó được biểu thị như sau:
Trong đó:

P=G+E

P: Là giá trị kiểu hình
G: Là giá trị kiểu gen
E: Là sai lệch môi trường


4

Nói cách khác: Trong những điều hiện môi trường nhất định thì các kiểu gen
khác nhau sẽ cho những khả năng sản xuất khác nhau. Trái lại, cùng một kiểu gen
nhưng trong những điều kiện môi trường khác nhau sẽ cho năng lực sản xuất khác
nhau. Nghĩa là các điều kiện môi trường, chăm sóc nuôi dưỡng có thể phát huy hoặc
hạn chế các đặc tính di truyền của vật nuôi. Thông qua việc nắm các yếu tố di
truyền, môi trường ngoại cảnh tối thích, bằng các biện pháp khoa học kỹ thuật hợp
lý, con người sẽ không chỉ bồi dưỡng duy trì được các đặc tính của một phẩm chất
giống mà còn tạo ra các giống mới theo hướng sản xuất khác nhau.
Tốc độ sinh trưởng quyết định sức sản xuất thịt của một giống gà, nó có hệ số
di truyền tương đối cao thể hiện ở đặc điểm trao đổi chất, kiểu hình của dòng,
giống. Dòng, giống nào có tốc độ sinh trưởng lớn sẽ cho khả năng sản xuất thịt cao,

như ảnh hưởng khác của dịch bệnh.
Robertson A and Lerder (1949) [38] xác định hệ số di truyền về tỷ lệ nuôi sống
và sức kháng bệnh thấp phụ thuộc vào dòng, giống, giới tính và phụ thuộc nhiều
nhất vào yếu tố nuôi dưỡng.
Theo Ngô Giản Luyện (1994) [12] mối liên quan giữa chỉ tiêu sinh lý, sinh
hóa máu đối với sức sống và sản lượng trứng được Kotris và cộng sự tại Viện thú y
Matxcơva (1988) khi nghiên cứu xác định số lượng bạch cầu trong máu gà Hybro:
cho thấy những gà mái có số lượng bạch cầu cao giai đoạn 60 - 110 ngày thì tương
ứng với sức sống và sản lượng trứng cao.
Tỷ lệ nuôi sống của gia cầm non trong điều kiện bình thường đạt khoảng 90%,
nhưng cũng có những dòng gà tỷ lệ nuôi sống có thể lên tới 98 - 99%. Theo kết quả
nghiên cứu của Bùi Quang Tiến và cs (2005) [20] cho biết tỷ lệ nuôi sống từ 0 - 140
ngày tuổi của các dòng gà chuyên thịt HE - Ross 208 đạt từ 95 - 98%.
Ngoài các yếu tố giống, thức ăn, kỹ thuật, chăm sóc… thì sức sống và khả
năng sinh trưởng phát triển của gia cầm chịu tác động trực tiếp của các yếu tố ngoại
cảnh như nhiệt độ, ẩm độ, độ thông thoáng và chiếu sáng. Những yếu tố này tác
động gây ảnh hưởng xấu tới sức đề kháng của cơ thể, dễ gây hiện tượng stress làm
giảm sức sống gia cầm. Gia cầm rất mẫn cảm với dịch bệnh, khi mắc bệnh thường
lây lan nhanh và dẫn đến tỷ lệ chết cao, dễ kế phát các bệnh khác, đặc biệt là bệnh
truyền nhiễm.


6

2.1.3. Khả năng sinh sản của gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng
* Khả năng sinh sản của gia cầm
Để duy trì sự phát triển của đàn gia cầm thì khả năng sinh sản là yếu tố cơ bản
quyết định đến quy mô, năng suất và hiệu quả sản xuất. Sản phẩm chủ yếu là thịt và
trứng, trong đó sản phẩm trứng được coi là hướng sản xuất chính của gà hướng
trứng. Còn gà hướng thịt (cũng như gà hướng trứng) khả năng sinh sản hay khả

tại đó đàn gà đạt tỷ lệ đẻ 5%. Tuổi đẻ quả trứng đầu rất quan trọng vì nó có thể
quyết định đến sản lượng trứng sau này của đàn gà. Theo Hays (dẫn theo
Brandsch và Bilchel, 1978) [39] thì những gà có tuổi đẻ quả trứng đầu lớn hơn
245 ngày cho sản lượng trứng thấp hơn những gà có tuổi đẻ quả trứng đầu nhỏ
hơn 215 ngày là 6,9 quả.
Khối lượng cơ thể và cấu trúc thành phần cơ thể là những nhân tố ảnh hưởng
đến tính thành thục của gà mái. Nhưng thực tế, gà nặng cân lại đẻ ít trứng. Hocking
và cs (dẫn theo Chambers, 1990 [31]) giải thích rằng nguyên nhân gây nên hiện
tượng đẻ trứng ít của gà nặng cân là do tồn tại nhiều bao noãn, chúng thường xuyên
lấn át buồng trứng.
- Sản lượng trứng: Là tổng số trứng đẻ ra trên một đơn vị thời gian. Đối với
gia cầm thì đây là chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng
hoạt động của hệ sinh dục. Sản lượng trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ
thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh. Sản lượng trứng được đánh giá qua cường độ
đẻ và thời gian kéo dài sự đẻ.
+ Tỷ lệ đẻ: đây là chỉ tiêu đánh giá sức đẻ trứng của đàn gia cầm. Đỉnh cao
của tỷ lệ đẻ có mối tương quan với năng suất trứng. Giống gia cầm nào có tỷ lệ đẻ
cao và kéo dài trong thời kỳ sinh sản, chứng tỏ là giống tốt, nếu chế độ dinh dưỡng
đảm bảo thì năng suất sinh sản sẽ cao.
+ Cường độ đẻ: là sức đẻ trong một thời gian nhất định. Cường độ này được
xác định theo khoảng thời gian 30 ngày hoặc 60 ngày hoặc 100 ngày trong giai
đoạn đẻ.
Theo Card L.E và Nesheim M.C (1977) [30] cho biết quần thể gà mái cao sản
đẻ theo quy luật. Cường độ đẻ trứng cao nhất vào các tháng thứ 2, thứ 3, sau đó
giảm dần cho đến hết năm đẻ. Theo Mack (1991) (dẫn theo Nguyễn Thị Thanh
Bình, 1998) [1]: Đối với gà cao sản, đồ thị đẻ trứng tăng nhanh từ khi bắt đầu đẻ


8



9

lượng trứng còn phụ thuộc vào giống, khối lượng cơ thể, tuổi đẻ và chế độ dinh
dưỡng. Nó là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng trứng giống, tỷ lệ nở,
chất lượng và sức sống của gà con.
Awang (1984) cho biết khối lượng trứng phụ thuộc trực tiếp vào chiều dài,
chiều rộng của quả trứng cũng như khối lượng lòng trắng, lòng đỏ và vỏ (dẫn theo
Trần Huê Viên, 2001) [27]: Khối lượng trứng tương quan rõ rệt với khối lượng lòng
trắng (r = 0,86), khối lượng lòng đỏ (r = 0,72) và khối lượng vỏ (r = 0,48).
Theo Lochus và Starstikov (1979) trứng gia cầm khi bắt đầu đẻ nhỏ hơn trứng
gia cầm lúc trưởng thành (dẫn theo Trần Huê Viên, 2001) [27]. Theo Nguyễn Duy
Hoan và cs (1998) [7] trong cùng một độ tuổi thì khối lượng trứng tăng lên chủ yếu
do khối lượng lòng trắng lớn hơn nên giá trị năng lượng giảm dần. Khối lượng gà
con khi nở thường bằng 62 - 78% khối lượng trứng ban đầu. Khối lượng trứng của
các loại giống khác nhau thì khác nhau.
Ranch (1971) (dẫn theo Nguyễn Thị Thanh Bình, 1998) [1] cho rằng: Khối
lượng trứng tăng dần đến cuối chu kỳ đẻ, khối lượng trứng và sản lượng trứng
thường có hệ số tương quan âm. Theo JanVa (1967) (dẫn theo Nguyễn Thị Thanh
Bình, 1998) [1] xác định hệ số này là (-0,11). Khối lượng trứng cũng ảnh hưởng đến
tỷ lệ ấp nở.
* Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia cầm
Sức sản xuất trứng là đặc điểm phức tạp và biến động , nó chịu ảnh hưởng bởi
tổng hợp yếu tố bên trong và bên ngoài.
- Ảnh hưởng của các yếu tố bên trong
+ Giống, dòng: Ảnh hưởng đến sức sản xuất một cách trực tiếp. Cụ thể giống
Leghorn trung bình có sản lượng 250 - 270 trứng/năm. Về sản lượng trứng, những
dòng chọn lọc kỹ thường đạt chỉ tiêu cao hơn những dòng chưa được chọn lọc kỹ
khoảng 15 - 30% về sản lượng (Nguyễn Duy Hoan và cs, 1998) [7].
+ Ảnh hưởng của tuổi gia cầm: Tuổi của gia cầm có liên quan chặt chẽ tới sự


năm 2015

Sinh viên

Long Thị Thanh Thủy


11

Trong tất cả các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến sản lượng trứng thì yếu tố về
thời gian chiếu sáng đóng một vai trò quan trọng. Nó được xác định qua thời gian
chiếu sáng và cường độ chiếu sáng. Yêu cầu của gà đẻ thời gian chiếu sáng 12 - 16
h/ngày, có thể sử dụng ánh sáng tự nhiên, ánh sáng nhân tạo để đảm bảo giờ chiếu
sáng và cường độ chiếu sáng 3 - 3,5 w/m2. Theo Letner T.M and Taylor. (1987) [35]
thời gian gà đẻ trứng thường từ 7 - 17 giờ, nhưng đa số đẻ vào buổi sáng. Cụ thể số
gà đẻ 7 - 9 giờ đạt 17,7% so với tổng gà đẻ trong ngày. Ở nước ta do khí hậu khác
với các nước, cho nên cường độ đẻ trứng ở gà cao nhất là khoảng từ 8 -12 giờ
chiếm 60% gần 70% so với gà đẻ trứng trong ngày.
+ Ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng đến sản lượng trứng: Theo Bùi Quang
Tiến (dẫn theo Bạch Thị Thanh Dân, 1997) [2] cho biết gà nội (gà Ri) đẻ 90 - 120
trứng/mái/năm. Đối với giống gà nội thì ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng là không
lớn nhưng đối với gà nuôi nhốt thì nhu cầu dinh dưỡng cần được chú ý. Nhu cầu
dinh dưỡng của gà nuôi nhốt phải tăng gấp đôi về protein, cacbonhydrate, lipit và
phải bổ sung thêm khoáng so với gà chăn thả. Tác giả cũng cho biết hàm lượng
protein, canxi, photpho và lipit trong máu gà đang đẻ trứng cao gấp 2, 3 thậm chí
đến 4 lần so với trong máu gà không đẻ trứng. Sự tăng lên về hàm lượng các chất
này trong máu chứng tỏ gà cần protein để tạo noãn hoàng. Khi gà ngừng đẻ thì hàm
lượng các chất này trong máu lại giảm đi. Tỷ lệ Ca/P thích hợp ở gà đẻ là: 5/1.
Ngoài các yếu tố ảnh hưởng trên thì phương thức chăn nuôi khác nhau cũng

âm đạo và trứng, tạo thuận lợi cho việc đẻ trứng, hạn chế sự bốc hơi nước của trứng
và ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn.
Vỏ trứng có hai lớp màng đàn hồi tách nhau tạo thành buồng khí có ý nghĩa
trong quá trình trao đổi khí với môi trường bên ngoài. Vỏ trứng được cấu tạo chủ
yếu từ Ca, trên bề mặt có nhiều lỗ khí. Số lượng lỗ khí phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [8], trên bề mặt vỏ trứng gà trung bình có
khoảng 10.000 lỗ khí, tính trên 1 cm2 có khoảng 150 lỗ, đường kính các lỗ khí dao
động 4 - 10 µm. Mật độ lỗ khí không đều, nhiều nhất ở đầu to giảm dần ở hai bên và
ít nhất ở đầu nhỏ.
Chất lượng vỏ trứng thể hiện ở độ dày và độ bền của vỏ trứng. Nó có ý nghĩa
trong vận chuyển và ấp trứng. Ngô Giản Luyện (1994) [17] cho biết vỏ trứng gà dày
từ 0,3 - 0,34 mm, độ chịu lực là 2,44 - 3 kg/cm2. Theo Nguyễn Duy Hoan và cs
(1998) [8] thì chất lượng vỏ trứng không những chịu ảnh hưởng của các yếu tố như


13

Ca (70% canxi cần cho vỏ trứng là lấy trực tiếp từ thức ăn), ngoài ra vỏ trứng hình
thành cần có P, vitamin VTM D3, VTM K, các nguyên tố vi lượng…, khi nhiệt độ
tăng từ 20 - 300C thì độ dày vỏ trứng giảm 6 - 10% khi đó gia cầm đẻ ra trứng
không có vỏ hoặc bị biến dạng.
Chất lượng lòng trắng: Là phần bao bọc bên ngoài lòng đỏ, nó là sản phẩm
của ống dẫn trứng. Lòng trắng chủ yếu là albumin giúp cho việc cung cấp khoáng
và muối khoáng, tham gia cấu tạo lông, da trong quá trình phát triển cơ thể ở giai
đoạn phôi. Chất lượng lòng trắng được xác định qua chỉ số lòng trắng và đơn vị
Haugh. Hệ số di truyền của tính trạng này khá cao.
Lòng trắng chiếm tỷ lệ cao nhất trong trứng gia cầm tới 56% gồm 4 lớp: Lớp
loãng ngoài, lớp đặc giữa, lớp loãng giữa, lớp đặc trong ... Đây là nguồn cung cấp
chất dinh dưỡng và nước cho phôi phát triển. Độ keo dính của lòng trắng phụ thuộc
vào các yếu tố như: Nuôi dưỡng, giống, tuổi, bảo quản trứng... Bảo quản trứng

2.1.5. Khả năng thụ tinh
Sự thụ tinh là một quá trình, trong đó tinh trùng và trứng hợp lại thành hợp tử
(Nguyễn Văn Thiện, 1996) [16]. Tỷ lệ thụ tinh là một chỉ tiêu đánh giá sức sinh sản
của đời bố mẹ. Khả năng thụ tinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Theo Pingel H và
Jeroch H. (1980) [37] thì tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào tỷ lệ trống mái trong đàn, chế
độ dinh dưỡng và sức khỏe của đàn giống. Giao phối cận huyết làm giảm tỷ lệ thụ
tinh, mật độ nuôi quá đông ảnh hưởng đến hoạt động giao phối của con trống.
Phương thức chăn nuôi cũng có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ thụ tinh.
Tỷ lệ trứng có phôi là một chỉ tiêu quyết định số gà con nở ra của gà mái.
Theo Nguyễn Thị Khanh và cs (2004) [9] thì tỷ lệ trứng có phôi ở gà Tam Hoàng
dòng 882 đạt 94,7% và dòng Jiangcun đạt 96,03%; tỷ lệ này ở gà Lương Phượng
Hoa dòng M1 đạt 94,59% và dòng M2 đạt 94,12% (Trần Công Xuân và cs, 2004)
[28]; gà Sasso ông bà nhập nội đạt 94,93% (Phùng Đức Tiến và cs, 2007) [22].
2.1.6. Tỷ lệ ấp nở và các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ ấp nở
Tỷ lệ ấp nở của trứng gà giống có ý nghĩa lớn trong chăn nuôi. Đây là một chỉ
tiêu quan trọng để đánh giá sức sinh sản, tái sản xuất của gà giống.
Tỷ lệ ấp nở của gia cầm được tính bằng tỷ lệ (%) số con nở ra còn sống so với
số trứng có phôi. Nó là chỉ tiêu để đánh giá sự phát triển phôi và sức sống của gia
cầm non.


DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Nhân tố thí nghiệm ................................................................................................. 21
Bảng 4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ....................................................................... 32
Bảng 4.2. Tỷ lệ nuôi sống ....................................................................................................... 33
Bảng 4.3. Khối lượng gà qua các tuần tuổi (gr) ................................................................... 35
Bảng 4.4. Tuổi thành thục sinh dục của gà Sasso................................................................. 36
Bảng 4.5. Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng ................................................................................... 38
Bảng 4.6. Khảo sát chất lượng trứng ..................................................................................... 39

2,1 - 2,3 kg (gà mái);
Khối lượng loại:

3,5 - 4,5 kg;

Tuổi đẻ đầu:

24 - 25 tuần tuổi;

Năng suất trứng khi gà đạt 66 tuần tuổi: 180 - 190 quả;
TTTĂ/gà hậu bị:

12 - 14 kg;

TTTĂ/ ngày đẻ:

132 - 160 g/mái; 125 g/ trống;



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status