LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam là nước đang phát triển, tuy nhiên vẫn còn là nước nghèo,
sự phát triển giữa các vùng, các dân tộc còn có nhiều chênh lệch và không
đồng đều, các khu vực kém phát triển chủ yếu là các vùng có nhiều đồng
bào dân tộc sinh sống, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Mục
tiêu ổn định chính trị, phát triển kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo luôn là
ưu tiên hàng đầu trong đường lối chiến lược, chính sách của Đảng và nhà
nước ta nhằm dần đưa đất nước đi lên, hướng tới sự phát triển bền vững.
Huyện Sa Pa là một huyện vùng cao của tỉnh Lào Cai nằm trên dãy Hoàng
Liên Sơn. Trong những năm qua, nơi đây đã có những bước chuyển mình
mới trong phát triển kinh tế, đời sống đồng bào ngày càng được nâng cao và
đi vào ổn định. Với độ cao trung bình 1500 mét trên dãy Hoàng Liên Sơn,
nơi đây là một phần của Vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn. Có khí hậu ôn đới
mát mẻ quanh năm, tính đa dạng sinh học rất cao nên huyện Sa Pa có lợi thế
đặc biệt trong việc phát triển du lịch. Tuy nhiên, để tận dụng tối đa lợi thế đó
phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế, huyện Sa Pa cần phải làm nhiều
việc nữa.
Là sinh viên chuyên ngành Kinh tế Quản lý Môi trường và Đô thị -
Đại học Kinh tế Quốc dân, khi thực tập tại Sở Khoa học Công nghệ và Môi
trường Lào Cai, tôi đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực bảo tồn và phát triển bền
vững ở huyện Sa Pa. Với đề tài tốt nghiệp “Bước đầu đánh giá hiệu quả
kinh tế xã hội của việc bảo vệ đa dạng sinh học cây dược liệu ở huyện Sa
Pa tỉnh Lào Cai ”, tôi cố gắng thiết lập cho mình một cái nhìn tổng quan về
một lĩnh vực rộng lớn và khó khăn này. Đây cũng là lĩnh vực mà chính
quyền địa phương đang rất quan tâm.
Vì thời gian hạn hẹp, trình độ phân tích và kiến thức còn nhiều hạn
chế, đề tài này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Với tinh thần cầu thị, rất
mong nhận được góp ý, chỉ dạy của các thầy cô và các bạn để tôi có thể tiến
bộ hơn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là các cây dược liệu tự nhiên đang
được khai thác, được trồng với mục đích thương mại, mục đích bảo tồn ở
nóng bỏng trong xã hội, tác động trực tiếp đến từng cá nhân cũng như toàn
thể cộng đồng. Những vấn đề về đa dạng sinh học vừa mang tính nhà nước,
vừa mang tính xã hội. Việc giải quyết vấn đề này hiện nay cũng như trong
tương lai phụ thuộc vào trình độ nhận thức của các nhà hoạch định chính
sách, cũng như phụ thuộc vào trình độ dân trí, thái độ và hành vi của mọi
tầng lớp nhân dân trong xã hội. Vì vậy, mỗi người cần phải hiểu rõ về các
vấn đề liên quan đến đa dạng sinh học.
1. Khái niệm về đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học được hiểu là sự phong phú về sự sống trên trái đất
với hàng triệu loài thực vật, động vât, vi sinh vật cùng nguồn gen của chúng
và các hệ sinh thái mà chúng là thành viên. Từ đó, đa dạng sinh học được
định nghĩa là sự đa dạng của các sinh vật từ tất cả các nguồn, trong đó bao
gồm các hệ sinh thái trên cạn, dưới biển, các thuỷ vực khác và các phức hệ
sinh thái mà chúng cấu thành, đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng của loài
giữa các loài và các hệ sinh thái.
Các nhà sinh học thường xem xét đa dạng sinh học ở 3 góc độ: Đa
dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái.
Đa dạng di truyền được hiểu là sự phong phú về số lượng và sự đa
dạng về các gen, bộ gen trong mỗi quần thể và giữa các cá thể.
Đa dạng loài là sự giàu có về số lượng và sự phong phú của các loài
trong hệ sinh thái.
Đa dạng hệ sinh thái là sự phong phú về trạng thái và loại hình của
các hệ sinh thái khác nhau.
Từ 3 góc độ này, ta có thể tiếp cận đa dạng sinh học ở 3 mức độ khác
nhau: Mức độ phân tử (gen), mức độ cơ thể và mức độ hệ sinh thái. Như
vậy, đa dạng sinh học bao gồm sự phong phú của tất cả thế giới sinh vật ở
tất cả các dạng, các bậc phân loại, các mức độ và sự tổ hợp của chúng. Đó
không chỉ là tổng số của các hệ sinh thái, các loài, các vật chất di truyền mà
còn bao gồm tất cả các mối quan hệ phức tạp bên trong và giữa chúng với
nhau, với thế giới vô sinh và với xã hội loài người. Vì vậy, cũng có thể nói
nền nông nghiệp, kinh tế bền vững.
2.2. Giá trị sinh thái và môi trường
Các hệ sinh thái có giá trị quan trọng trong quá trình điều hoà khí hậu,
làm trong sạch môi trường không khí, nước, đảm bảo chu trình chất dinh
dưỡng trong thiên nhiên, bảo vệ đất, cân bằng nguồn nước và ngăn chặn
dịch bệnh. Sự đa dạng loài càng cao trong các quần xã sinh vật càng làm cho
quần xã đó có tính ổn định cao, ít bị xáo trộn. Mỗi khi sự đa dạng này bị
thay đổi thì các khả năng của hệ sinh thái cũng thay đổi theo, ví dụ khả năng
điều hoà quá trình trao đổi vật chất trong hệ sinh thái, khả năng hấp thụ các
chất ô nhiễm...
2.3. Giá trị về đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ, văn hoá, lịch sử, tín ngưỡng
và giải trí của con người
Các loài sinh vật cũng như các hệ sinh thái khác nhau cho con người
những hình ảnh độc đáo, những cảnh quan đẹp đẽ có giá trị về thẩm mỹ, văn
hoá, lịch sử, tín ngưỡng. Khám phá thiên nhiên hoang dã luôn là nguồn yêu
thích của hàng triệu người trên khắp thế giới. Ngày nay, du lịch sinh thái
luôn là một trong những tiềm năng kinh tế và giải trí đang được khai thác
mạnh mẽ.
3. Nguyên nhân làm suy thoái đa dạng sinh học
Trong lịch sử cận đại và hiện đại, suy thoái đa dạng sinh học đã xẩy ra
với một tốc độ khủng khiếp, trước đây ở các nước công nghiệp phát triển và
hiện nay ở các nước đang phát triển và kém phát triển. Sự suy thoái đa dạng
sinh học được thể hiện chủ yếu ở các mặt:
- Hệ sinh thái bị biến đổi dẫn đến mất nơi ở của loài.
- Mất loài.
- Mất đa dạng di truyền.
- Sự di nhập, xâm lấn của các loài sinh vật lạ.
Sự mất mát của các loài, sự sói mòn nguồn gen, sự di nhập xâm lấn
của các loài sinh vật lạ, sự suy thoái các hệ sinh thái tự nhiên nhất là rừng
nhiệt đới diễn ra một cách nhanh chóng chưa từng có mà nguyên nhân chủ
đều có quyền như nhau. Điều kiện để phát triển bền vững là có sự chuyển
giao di sản tư bản. Điều này ngụ ý rằng thế hệ hiện tại phải đảm bảo để lại
cho thế hệ mai sau một trữ lượng tư bản không ít hơn những gì mà thế hệ
này đang có. Sự bền vững có hai dạng: sự bền vững thấp dựa trên giả thiết
cứng nhắc là có khả năng thay thế hoàn toàn các dạng tư bản; sự bền vững
cao thì không tin tưởng hoàn toàn vào khả năng đó vì có nhiều dạng tư bản,
ví dụ như tư bản tự nhiên là cái không dễ gì thay thế được.
Loài người từ xưa đến nay vẫn luôn bị phụ thuộc vào thiên nhiên dù ít
hay nhiều. Tài nguyên sinh vật cho chúng ta lương thực thực phẩm, quần áo,
nhà ở, thuốc men và các món ăn tinh thần. Nguồn tài nguyên ấy được tìm
thấy trong các hệ sinh thái tự nhiên của rừng, các vùng Savan, đồng cỏ và
đất rừng, sông, hồ, biển. Nguồn tài nguyên này cũng tìm thấy ở trên các
cánh đồng, trong các vườn nhà, trong các ngân hàng gen, trong các vườn
thực vật và bách thú.
Loài người đã có trong tay một khối lượng tư bản khổng lồ để để lại
cho thế hệ mai sau như các công trình xây dựng, các trí tuệ và tri thức nhân
loại, nhưng loài người cũng đã và đang là nguyên nhân của sự tuyệt chủng
và suy giảm của rất nhiều loài động vật, thực vật, các hệ sinh thái giàu có.
Để đảm bảo một sự phát triển bền vững, loài người cần có một sự
đảm bảo về sự an toàn cho giới sinh học - bảo vệ đa dạng sinh học.
II. MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ ĐA DẠNG
NGUỒN GEN CÂY DƯỢC LIỆU
Cây dược liệu giữ một vị trí quan trọng trong việc xây dựng nền y học
Việt Nam. Từ lâu việc nghiên cứu, sử dụng và phát triển cây dược liệu đã
được khẳng định trong đường lối xây dựng nền y học dân tộc. Chỉ thị
210/TTg ngày 06/12/1966 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định vị trí và
giá trị của dược liệu: “Dược liệu ở nước ta rất nhiều, gồm các loài cây thuốc
và một số động vật có ở nước ta. Chẳng những là cơ sở của nền y học dân
tộc mà còn có vị trí trong nền y học hiện đại, Chẳng những là nguồn tự cung
tự cấp về thuốc Nam, thuốc Bắc và thuốc tây mà còn là loại hàng hoá xuất
nhu cầu sử dụng dược liệu để chữa bệnh và bồi bổ sức khoẻ trong nhân dân
vẫn có xu thế gia tăng.
Hiện nay, trên thế giới các bệnh ung thư, AIDS ... hoặc các triệu
chứng về cảm xúc vẫn còn tồn tại và các bệnh gây nguy hiểm cho cộng đồng
vẫn là nguy cơ tiềm ẩn, do đó việc duy trì các cây dược liệu là rất cần thiết
và cần tiếp tục được ưu tiên, đầu tư nghiên cứu. Việc tìm kiếm các loại
thuốc mới không những từ trong phòng thí nghiệm mà chính là từ cây cỏ
trong tự nhiên đang được nhiều quốc gia, nhiều tập đoàn dược phẩm quan
tâm.
Việt Nam ta, trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ cộng đồng của
ngành y tế đã đề ra mục tiêu phấn đấu từng bước để tự túc được khoảng
40% thuốc chữa bệnh vào khoảng những năm đầu của thế kỷ 21. Để thực
hiện mục tiêu này, bên cạnh sự quan tâm phát triển công nghiệp dược và
kháng sinh, một vấn đề vô cùng quan trọng là phải dựa vào thế mạnh về sự
đa dạng cây dược liệu trong nước. Hơn nữa, dược liệu là nguồn thuốc gần
như duy trì trong y học cổ truyền, là nguyên liệu trong công nghiệp dược và
xuất khẩu nhằm bù đắp một phần cho nhập khẩu.
III. TÀI NGUYÊN CÂY DƯỢC LIỆU VÀ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
ĐẾN TRI THỨC CỔ TRUYỀN
Cây dược liệu = Cây cỏ (đơn thuần như là một nguồn gen: một yếu tố
mang tính vật thể) + Cách dùng chúng để chữa bệnh (là tri thức: một yếu tố
phi vật thể).
Đây là công thức cơ bản phân biệt cây gọi là cây dược liệu với các
loại cây khác. Một loại cây chỉ được coi là cây dược liệu nếu nó hội tụ cả hai
yếu tố trên. Vậy để bảo vệ cây thuốc trước nguy cơ tuyệt chủng thì chúng ta
vừa phải bảo tồn mặt vật thể, vừa phải gìn giữ yếu tố phi vật thể.
Tri thức cổ truyền được hiểu là những thành tựu, những kết quả, kinh
nghiệm có được của cộng đồng, đã, đang đóng góp và có ích cho cuộc sống
của cộng đồng dân bản địa. Đó là những giống cây con, những phương pháp
thụ tinh, phương pháp nuôi trồng, cách chế biến, bảo quản, những kinh
nông dân, trong khi mà kiến thức truyền thống thì được sử dụng một cách
thông thường và một phần nào đó được thương mại hoá.
Các Viện nghiên cứu và Trường Đại học chuyên ngành thường có vai
trò chủ đạo trong việc hợp tác với các địa phương để thu thập các giống cây
trồng nhằm làm thích nghi các giống mới.
Những thí dụ đó cho thấy rõ rằng, chúng ta cần phải tạo lập mối quan
hệ đối tác giữa các cơ quan KHKT và nông dân. Việc nghiên cứu và phát
triển các giống mới hoặc giống lai, việc nhập nội và làm thích nghi các
giống từ bên ngoài, thường được tiến hành bởi các cơ quan này, cùng với sự
cộng tác chặt trẽ của các cộng đồng địa phương, họ sẽ là những người khảo
nghiệm, đánh giá và sử dụng. Quan hệ đối tác đó cũng cần thiết cho việc cải
tiến và phát triển kiến thức cổ truyền trên cơ sở phân tích khoa học.
Mặt khác, các cơ quan KHKT/Trường Đại học cũng thường được
hưởng thụ những kinh nghiệm và sự khéo léo của người dân bản địa trong
việc bảo tồn và sử dụng tài nguyên di truyền mà không cần phải trả lệ phí
hoặc đền bù gì rõ rệt cho các cộng đồng địa phương cả.
Cũng có vài quy định về việc chia sẻ lợi ích giữa những người có liên
quan, nhưng các quy định này thường có lợi cho người tạo giống, nhiều hơn
là cho các cộng đồng địa phương là người nắm giữ kiến thức cổ truyền.
Nói riêng về lĩnh vực tri thức cổ truyền, thì sử dụng và thương mại
hoá được thực hiện theo ba cách (kể cả trường hợp cây trồng, cây dược liệu
và các phương pháp thực tiễn):
a. Tri thức cổ truyền đã trở thành phổ biến và được sử dụng rộng rãi.
Thí dụ, đa số các phương pháp canh tác là phổ biến, vì các tri thức bản địa
thường được phát triển tăng tiến dần dần và do tập thể, cho nên thường khó
xác định rõ cá nhân nào hoặc nhóm người nào là tác giả sáng chế của một
bài thuốc cổ truyền hoặc một giống cây trồng có ích tuy rằng trong nhiều
trường hợp, cuối cùng chính các cộng đồng địa phương là người bảo vệ và
chăm sóc đa dạng sinh học.
Một nét có tính chất dân gian, nhất là ở các vùng nông thôn, nhiều
quá mức. Một bà lang người Mường ở Hoà Bình buồn rầu nhận xét rằng
“những cánh rừng mất đi thì cũng làm mất luôn nhiều loài cây thuốc không
thể tìm thấy tại những vùng trồng trọt lớn, nơi người ta trồng các loại cây
mọc nhanh”. Tri thức cổ truyền của bà cũng không thể truyền lại cho con
cháu được, vì chẳng còn cây thuốc mà dùng nữa . Sự việc này cũng cho
thấy, khiếm khuyết trong chính sách và luật pháp đã gây tổn thất cho tất cả
đa dạng sinh học và kiến thức cổ truyền.
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DƯỢC LIỆU
Ở HUYỆN SA PA TRONG THỜI GIAN QUA
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH HUYỆN SA PA
Sa Pa tên gọi này là từ tiếng Quan Thoại. Theo tiếng Quan Thoại,
”Sa” là cát, ”Pả” là bãi. Địa danh của “bãi cát” này ở bên phải cầu Km32 từ
thị xã Lào Cai vào Sa Pa. Ngày xưa chưa có thị trấn Sa Pa, cư dân của vùng
đất này đều họp chợ ở “bãi cát“ đó, do vậy, dân địa phương ai cũng nói là
”đi chợ Sa Pả”.
Từ hai chữ “Sa Pả”, người phương Tây phát âm không có dấu, nên
thành Sa Pa, họ đã viết bằng chữ Pháp hai chữ đó là “Cha Pa” và một thời
gian rất lâu người ta thường gọi là “Cha Pa” theo nghĩa của từ tiếng Việt.
Còn thị trấn Sa Pa ngày nay, trước kia có một mạch nước đùn lên đục
đỏ, nên dân địa phương gọi là “Hùng Hồ”, ”Hùng” là đỏ, ”Hồ” là hà, là suối
đỏ.
Huyện Sa Pa ngày nay có 37.816 người gồm 6 dân tộc cư trú là
Mông, Dao, Tày, Giáy, Xa Phó và Kinh ngoài ra còn có hai hộ người Hoa
cư trú ở thị trấn. Chạy dọc theo chân núi Hoàng Liên Sơn, từ phía Bắc dưới
chân Ngũ Chỉ Sơn giáp Mường Hum (Bát Xát) đến phía Nam giáp với xã
Nậm Chày, Nậm Mả (Văn Bàn)... với diện tích là 678 km
2
. Huyện Sa Pa có
17 xã và 1 thị trấn.
Vĩ độ Bắc: 22
o
00
’
00
’’
đến 22
o
10
’
00
’’
Kinh độ Đông : 102
o
51
’
105
’’
đến 103
o
92
’
00
’’
Huyện Sa Pa là huyện miền núi, có khu du lịch nghỉ mát nổi tiếng. Và
trên trục kinh tế trọng điểm Sa Pa - Cam đường – Lào Cai nối liền Việt Nam
với Vân Nam, Trung quốc.
Có thể thấy đây là lợi thế rất quan trọng để giao lưu hàng hoá, phát
triển kinh tế, văn hoá, dịch vụ …Nền kinh tế Sa Pa có cơ cấu: Dịch vụ (du
lịch và dịch vụ), Nông nghiệp (cả lâm nghiệp) và Công nghiệp (chủ yếu là
chồng sếp các bản đồ đơn tính để xây dựng bản đồ lập địa.
* Địa hình, khí hậu.
Đặc điểm nổi bật đất đai huyện SaPa là địa hình chia cắt phức tạp, chi
phối mạnh mẽ chế độ khí hậu, không chỉ theo quy luật đai cao mà còn đưa
đến sự phân hoá cục bộ chế độ nhiệt, ẩm do sườn có hướng phơi chắn hay
khuất gió.
BẢNG 1: DIỆN TÍCH CÁC KIỂU ĐỊA HÌNH, KHÍ HẬU HUYỆN SAPA
TT Kiểu địa hình - Khí hậu Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Tổng 67.905,00 100
1 Núi cao - Á nhiệt đới ẩm 16.009,00 23,60
2 Núi trung bình - Á nhiệt đới ẩm 28.192,00 41,50
3 Núi thấp - Á nhiệt đới ẩm 12.103,00 17,8
4 Đồi – Nhiệt đới ẩm 3.581,00 5,30
5 Phù sa suối - Đất dốc tụ nhiệt đới ẩm 1.381,00 2,00
6 Núi đá - Đất khác 6.639,00 9,80
* Núi cao - Á nhiệt đới ẩm
Kiểu địa hình, khí hậu này phân bố hầu hết các xã miền Tây của
huyện. Địa hình chia cắt phức tạp, thảm thực vật phát triển, còn nhiều rừng
thực vật nguyên sinh trong khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Sơn, còn
tiềm chứa nguồn đa dạng sinh học phong phú, dân cư phân bố thưa thớt, chủ
yếu là người H’Mông. Là địa hình chỉ nên phát triển thuần tuý Lâm nghiệp
bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn.
* Núi thấp - Á nhiệt đới ẩm
Phân bố hầu hết các xã trong huyện. Ở đây, trước kia rừng còn tốt,
hiện đã bị tác động của tự nhiên và con nguời một số nơi chỉ còn lại rừng
nghèo và đồi núi trọc. Dân cư tập trung chủ yếu là người H’Mông, Dao là
địa hình cần được khoanh nuôi, tái sinh và bảo vệ rừng song song với phát
triển kinh tế để cải thiện đời sống cho nhân dân thông qua các mô hình
Nông - Lâm kết hợp.
* Đồi – Nhiệt đới ẩm
tôi chưa có điều kiện để nghiên cứu chi tiết.
4. Tài nguyên rừng.
• Diện tích các loại rừng
Tổng diện tích tự nhiên huyện Sa Pa là 67.905 ha, trong đó;
- Diện tích có rừng là 22.618 ha chiếm 33,3%.
- Rừng tự nhiên là 20.543 ha, chiếm 30,3% diện tích tự nhiên của
huyện và chiếm 90,8% diện tích có rừng, trong đó:
- Rừng gỗ: 19.679 ha chiếm 95,8% diện tích rừng tự nhiên.
+ Rừng giàu: 1.482 ha, trữ lượng bình quân 197 m
3
/ha.
+ Rừng trung bình: 3.607 ha, trữ lượng bình quân 147 m
3
/ha.
+ Rừng nghèo: 5.068 ha trữ lượng bình quân 77 m
3
/ha.
+ Rừng phục hồi: 9522 ha, trữ lượng bình quân 44 m
3
/ha.
Rừng che lứa, vầu chiếm 4,2% diện tích rừng tự nhiên.
Rừng trồng: 2075 ha chiếm 3% diện tích toàn huyện, tổng trữ lượng
57.828 m
3
. Bao gồm các loại cây Sa mộc, tống quán sủi, bồ đề, trẩu....
Ngoài ra, dưới tán rừng hiện nay có khoảng 1.400 ha thảo quả và các
loại dược liệu khác.
Như vậy, độ che phủ của rừng Sa Pa thấp, 33,3% . Trong đó rừng giàu
chỉ còn 7,2% diện tích rừng tự nhiên, còn lại rừng đã bị tác động, đặc biệt là
diện tích rừng nghèo, rừng phục hồi, chiếm 71% diện tích rừng tự nhiên.
5,7%. Tỷ lệ trong đó các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mèo - Dao chiếm
97,9% Mường - Kinh chiếm 12,8%, các nhóm khác 8,2%.
Thực tế cho thấy mỗi dân tộc thường cư trú trên từng địa bàn nhất
định với phong tục tập quán riêng biệt thể hiện bản sắc văn hoá của dân tộc
mình. Căn cứ vào địa bàn cư trú, phong tục tập quán của từng dân tộc có thể
chia làm 2 nhóm:
Nhóm người Tày, Thái, Kinh sống ở vùng thấp, gần nguồn nước có
điều kiện giao thông thuân lợi, sản xuất lúa nước là chủ yếu, kết hợp làm
nương rẫy cố định, và phát triển chăn nuôi, một bộ phân đồng bào người
Kinh kết hợp buôn bán, kinh doanh nghề phụ, dịch vụ du lịch. Nhìn chung
nhóm đồng bào này có tổ chức buôn làng và gia đình khá chặt chẽ, đồng bào
có cuộc sống ổn định, trình độ dân trí khá.
Nhóm ngưòi H’Mông, Sa Phó, Dao, Dáy; họ thường sinh sống ở vùng
cao, vùng sâu, nơi gần rừng có nguồn nước, giao thông đi lại khó khăn. Kinh
tế nương rẫy là nguồn sống chính, ngoài ra, còn kết hợp chăn nuôi, thu lượm
sản phẩm có trong rừng, sản xuất và đời sống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên
nên mùa màng bấp bênh, đồng bào thường xuyên thiếu đói và phải nhận sự
trợ giúp từ phía Nhà nước.
Tổng số lao động của huyện Sa Pa (1999) là 14.466 người chiếm
42,2% dân số, trong đó: Lao động nông nghiệp chiếm 95%, còn lại 5% là
khối cán bộ CNV Nhà nước, dịch vụ, sản xuất, buôn bán. Trong 95% lao
động nông nghiệp thì trồng trọt là chủ yếu với một vụ sản xuất. Do đó thời
gian dành cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 1/3 – 1/2 trong năm thời gian
còn lại không có việc làm. Nguồn lao động này nếu được tổ chức và biết
khai thác sử dụng hợp lý sẽ phát triển thêm nhiều ngành nghề khác tạo thêm
nhiều sản phẩm cho xã hội. Ngoài lực lượng lao động trong độ tuổi của
huyện còn có nguồn lao động phụ có khả năng tham gia lao động với
khoảng 3.000 người.
Như vậy, nếu tính cả lao động phụ thì tổng số lao động có thể chiếm
tới 50% dân số đây là nguồn lao động lớn, ngoài sản xuất nông nghiệp, có
dụng làm thuốc. Đặc biệt là sự hiện diện phong phú của nhiều loài cây thuốc
quý á nhiệt đới và ôn đới như Hoàng Liên chân gà, Tam thất, Sâm trúc tiết,
Hoàng Liên ô rô, Hoàng Liên gai, Kim tuyến, Bảy lá một hoa, Đồng thời do
có khí hậu á nhiệt đới núi cao, lại là huyện nằm trong tỉnh có đường biên
giới với Trung Quốc nên có khả năng trồng được một số loài cây thuốc bắc
đầu vị di thực từ Trung Quốc có giá trị như: Đương quy, Bạch truật, Mộc
hương, Xuyên khung, Bạch chỉ, Đẳng sâm, Đỗ trọng, Hoàng Bá. Đại diện
cho sự phong phú về cây thuốc của Lào Cai chính là Sa Pa.
Từ những năm 1960 đến nay, nguồn cây dược liệu mọc tự nhiên cũng
như cây dược liệu trồng ở Sa Pa thường xuyên được khai thác, thu mua,
cung cấp một số lượng lớn các dược liệu quý phục vụ cho nhu cầu làm thuốc
trong nước và xuất khẩu. Song bên cạnh đó, do khai thác dược liệu nhiều
năm liên tục, cộng với sự suy giảm nơi cư trú truyền thống, dẫn đến tình
trạng cạn kiệt nguồn nhiên liệu thiên nhiên, nhiều loài cây thuốc quý hiện
nay trữ lượng bị giảm sút nghiêm trọng và có nguy cơ tuyệt chủng. Mặt
khác, rừng thường xuyên bị chặt phá do nhiều nguyên nhân: khai thác gỗ,
lấy củi làm chất đốt, phá rừng làm nương dẫy làm cho môi trường sống của
cây dược liệu bị thu hẹp. Thêm vào đó, một nguyên nhân hết sức quan trọng
là do cơ chế thị trường (tính bất ổn), công tác dược liệu ở Sa Pa có nhiều sự
thay đổi không ổn định có lúc thừa, có lúc thiếu, sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm dược liệu mang tính tự phát không có kế hoạch làm cho cây dược liệu
nói chung và cây dược liệu được trồng nói riêng chưa phát huy được thực sự
trong lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội, vai trò xoá đói giảm nghèo ở Sa Pa.
Hiện nay, việc quy hoạch bảo tồn và phát triển cây dược liệu là nhiệm
vụ chiến lược đã được xác định trong chính sách quốc gia về cây thuốc của
Việt Nam. Nghị định số 37/CP ngày 20/6/96 của Chính phủ cũng nêu rõ:
”Chọn lọc, bảo tồn, phát triển nguồn gen và giống cây thuốc. Kế hoạch hóa