BÀI THU HOẠCH lớp cảm TÌNH ĐẢNG - Pdf 33

BÀI THU HOẠCH LỚP CẢM TÌNH ĐẢNG
Câu 5 : Cần làm gì và phấn đấu như thế nào để sớm trở thành
người đảng viên đảng cộng sản
Lúc sinh thời Bác Hồ đã dạy: “Vì sao chúng ta vào Đảng ? Phải chăng để thăng
quan, phát tài ? Không phải !... Chúng ta vào Đảng là để hết lòng, hết sức
phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, làm trọn nhiệm vụ của người đảng viên”.
Cũng trong Di chúc của mình, Người viết “... Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật
sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô
tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là
người đầy tớ thật trung thành của nhân dân...”. Những người muốn vào Đảng
phải xây dựng cho mình được động cơ đúng đắn bởi nó có ý nghĩa quyết định đối
với việc phấn đấu trở thành đảng viên, nó sẽ là động lực lớn thúc đẩy mọi hành
động, việc làm của chúng ta sau này. Để trở thành một đảng viên mỗi chúng ta cần
thực hiện tốt những nhiệm vụ cơ bản sau:
Một là, không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng.
Bản lĩnh chính trị được thể hiện ở tính kiên định mục tiêu, lý tưởng đã lựa chọn
trong bất kỳ tình huống khó khăn nào cũng không dao động, giảm sút niềm tin và ý
chí chiến đấu, trung thành với lợi ích của Đảng, với lợi ích của nhân dân lao động
và của dân tộc, suốt đời tận tâm trung thành phục vụ cho Tổ quốc, phục vụ nhân
dân, thấy sai phải biết phê phán... Trong bất kỳ tình huống khó khăn nào cũng
không dao động giảm sút niềm tin và ý chí chiến đấu. Khí tiết của người cách
mạng là “giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không
thể khuất phục”. Đây chính là nét nổi bật của người đảng viên.
Hai là, Không ngừng nâng cao năng lực, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao,
thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng. Là một người đảng viên chân chính,
mẫu mực không chỉ hoàn thành nhiệm vụ mà phải gương mẫu hoàn thành tốt, đảm
bảo chất lượng công việc cũng như đem lại hiệu quả cao. Để làm được điều đó đòi
hỏi người đảng viên không chỉ nâng cao về năng lực mà còn cả năng lực về trí tuệ
và năng lực thực tiễn, không ngừng học hỏi trau dồi để đủ kiến thức đáp ứng yêu
cầu của cuộc sống.
Ba là, người đảng viên phải gắn bó với tập thể, với nhân dân, tích cực tham gia

vững mạnh, tích cực làm công tác phát triển đảng viên mới.
Cái được lớn nhất khi vào Đảng là có cơ hội được phục vụ cách mạng, phục vụ
nhân dân trong cuộc đấu tranh cho thắng lợi của chủ nghĩa xã hội.
Động cơ vào Đảng đúng đắn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết quyết định. Bởi, chỉ
có động cơ đúng đắn mới có thể đáp ứng được những yêu cầu của Đảng và Đảng
cũng chỉ kết nạp những người giác ngộ về mục đích, lý tưởng cách mạng, quyết
không thu nhận vào hàng ngũ mình những người có động cơ thiếu trong sáng, lệch
lạc, càng không để cho các phần tử cơ hội lọt vào Đảng. Để có động cơ vào Đảng
đúng đắn chúng ta ta cần hiểu sâu sắc bản chất, mục đích của Đảng bằng chính
việc làm hàng ngày của mình, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân góp phần
thực hiện có hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ do Đảng đề ra, thường xuyên trau dồi
đạo đức cách mạng, đấu tranh khắc phục mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, kiêu


căng, thực dụng, vụ lợi, xa lạ với bản chất của người chiến sĩ cách mạng. Lúc sinh
thời Bác Hồ đã căn dặn “... Nếu không phục vụ được nhân dân, phục vụ được
cách mạng thì đừng vào Đảng. Bởi Đảng là tổ chức cách mạng có sứ mệnh cao
cả đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh cho độc lập và chủ nghĩa xã hội
chứ không phải là nơi để tìm kiếm danh vọng, địa vị, thu hái lợi lộc...”. Độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội chính là niềm tin, lẽ sống, là động lực tinh thần to
lớn của mỗi chúng ta.
Tại Điều 1 Điều lệ Đảng quy địnhtiêu chuẩncủa đảng viên như sau:
1. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong
của giai cấp công nhân Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành
nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và
pháp luật của Nhà nước; có lao động, không bóc lột, hoàn thành tốt nhiệm vụ được
giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng
tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng.
2. Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên thừa nhận và tự nguyện: thực hiện

3. Phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp trong
phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu
được trả lời.
4. Trình bày ý kiến khi tổ chức đảng nhận xét, quyết định công tác hoặc thi hành
kỷ luật đối với mình.
Đảng viên dự bị có các quyền trên đây, trừ quyền biểu quyết, ứng cử và bầu cử cơ
quan lãnh đạo của Đảng.
Căn cứ vào tiêu chuẩn, nhiệm vụ của Đảng viên, để trở thành Đảng viên đối với
mỗi người cần phải xâydựng động cơ vào Đảng đúng đắn: phấn đấu vào Ðảng phải xuất
phát từ động cơ trong sáng, với thanh niên lạicàng mang ý nghĩa cống hiến, chứ không
phải lợi dụng vào Ðảng để làm "bình phong", "chỗ dựa" tiến thân.Vào Ðảng không
phải là để tranh giành quyền lợi, thỏa mãn tham vọng cá nhân. Tuy nhiên người
vào Ðảngkhông phải ai cũng hoàn hảo, không có khiếm khuyết mà quan trọng là
xác định được rõ vai trò, trách nhiệmcủa một người đảng viên để rèn luyện và trưởng
thành hơn. Chưa vào Ðảng không có nghĩa là chưa phấn đấu,chưa rèn luyện, chưa cống
hiến. Một đoàn viên, thanh niên muốn trở thành đảng viên phải có hai yếu tố
cơ bản: Một là, chính bản thân phải thật sự có quyết tâm phấn đấu, có tinh thần
giác ngộ cách mạng cao; hai là, tổchức đảng, đoàn thanh niên phải hướng dẫn đoàn viên,
thanh niên xây dựng động cơ phấn đấu vào Ðảng đúngđắn, quan tâm đánh giá đầy đủ sự
phấn đấu, cống hiến của quần chúng.Mỗi đoàn viên thanh niên cần học tập và làm việc
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong quá trình phấn đấu của đồng chí để trở
thành Đảng viên. Nội dung và ý nghĩa của việc học tập và làm theo tấm gươngđạo
đức Hồ Chí Minh: Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta, đã hiến dâng tất cả
tình cảm, trítuệ và cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.


Người đã để lại tài sản vô giá là tư tưởngvà tấm gương đạo đức trong sáng, mẫu
mực, cao đẹp, kết tinh những giá trị truyền thống của dân tộc, củanhân loại và thời
đại. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác là niềm vinh dự và tự hào đối
với mỗicán bộ, Đảng viên và mỗi người dân Việt Nam. Tư tưởng và phẩm chất đạo

Hồ Chí Minh, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, vữngvàng, không dao động trước bất
kỳ khó khăn, thử thách nào. Cùng với việc thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu, người
đảng viên lúc này cần ủng hộ nhân tố mới, tích cực tham gia đấu tranh chống tham nhũng,
chống các tiêu cực xã hội và tệ nạn xã hội, phê phán những biểu hiện mơ hồ, cực đoan hay tư
tưởng sai lệch.- Đảng viên cần có kiến thức, có trình độ nhất định về các mặt văn hóa, khoa


học kỹ thuật, quản lý kinh tế, pháp luật…Thời đại chúng ta là thời đại cách mạng khoa
học kỹ thuật phát triển như vũ bão, thời đại tin họcđạt nhiều thành tựu kỳ diệu,
hằng ngày lượng thông tin ồ ạt dồn đến rất nhanh và rất nhiều, đòi hỏi phải cótrình
độ thu nhận, phân tích và xử lý đúng đắn. Rõ ràng, trong tình hình đó, nếu cán bộ
đảng viên không có kiến thức, không có trình độ nhất định về các mặt văn hóa, khoa học
kỹ thuật, quản lý kinh tế, pháp luật… thì không thể có đủ năng lực để thực hiện tốt
nhiệm vụ được giao, thậm chí còn phạm những sai lầm. Vừa qua,không ít trường hợp
đảng viên không phát huy được tác dụng, rơi vào tình trạng “trung bình”, mất uy tín
trướcquần chúng, là do thiếu hiểu biết, thiếu kiến thức. Đã qua rồi cái thời hễ cứ là
đảng viên, là cán bộ thì dường như có thể làm được mọi việc. Ngày nay, mỗi người cộng
sản chỉ có thể khẳng định vai trò lãnh đạo và uy tín của mình trong quần chúng bằng sự kiên
định, trí thông minh, sự hiểu biết và năng lực hoàn thành nhiệm vụ.-Đối với người đảng
viên, chí phấn đấu cho cá nhân trở nên lương thiện, giữ gìn phẩm chất cá nhân
chotrong sạch là chưa đủ và chưa thể hiện tính tiên phong gương mẫu. Người đảng
viên không thể là người đứng ngoài cuộc đấu tranh loại trừ cái ác, thờ ơ và lảng
tránh trước sự hoành hành của cái ác trong đời sống. Đạo đức hành động đòi hỏi ở
họ dũng khí trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, độc đoán, chuyên quyền, ức
hiếp quần chúng; bảo vệ sự thật, chân lý, lẽ công bằng và các giá trị dân chủ xã hội
vì lợi ích công dân và vìlợi ích chung của xã hội. Dũng khí đó phải biểu hiện trong
đấu tranh bảo vệ sự trong sạch, vững vàng của Đảng, uy tín của Đảng đối với xã
hội; đồng thời, còn biểu hiện trong đời sống chính trị- xã hội, gắn liền mật thiết với
các sinh hoạt của nhân dân, của xã hội, tích cực bảo vệ pháp luật, kỷ cương, an
ninh trật tự, luân lý đạo đức, văn hóa tinh thần và lối sống lành mạnh của từng gia đình,

thực hiện, nhất là quyền thảo luận các vấn đề về đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “ Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân
lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra
quyền tự do phục tùng chân lý
”. Những quy định về quyền của đảng viên tạo điều kiện cho đảng viên và tổ chức đảng thực
hiện đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ.
“Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, những việc khó khăn, gian khổ, Đảng
viên phải gương mẫu đi đầu, lo trước nỗi lo thiên hạ, vui sau cái vui thiên hạ. Tất nhiên, đi
đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ Đảng viên thìcũng có cả quyền lợi. Nhưng vượt lên trên
tất cả cái gọi là quyền lợi ấy phải là đạo đức cách mạng, là phẩmchất của người
Đảng viên tận tụy vì dân. Nếu Đảng viên mà đặt lợi ích cá nhân, gia đình mình lên
trên hết thìngười Đảng viên đó không được lòng tin của nhân dân. Mất lòng tin của
dân và xa dời quần chúng nhân dânthì mọi việc đều thất bại. “Dễ trăm lần không dân
cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.
Qua quá trình nghiên cứu và học tập về Đảng tôi nhận thấy rằng chỉ có Đảng Cộng
sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi.
Trong thời đại ngày nay, với mục tiêu và lý tưởng cao đẹp mà Đảng Cộng sản Việt
Nam đã lựa chọn và xây dựng. Tôi tha thiết và mong muốn được đứng trong hàng
ngũ của Đảng để góp sức nhỏ bé của mình cho sự nghiệp chung của dân tộc và xây
dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu của thời đại mới.
Tuyệt đối trung thành với Đảng, với lý tưởng cách mạng, nguyện đi theo con
đường mà Đảng, Bác cùng toàn thể nhân dân đã lựa chọn. Mong rằng, Chi uỷ,
Đảng uỷ giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi được đứng trong hàng ngũ của Đảng

Câu 4 : Sự cần thiết phải học tập và làm việc theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay?


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc ta một di sản vô giá, đó là tư tưởng của

cách mạng vẻ vang”.
- Với mỗi người, Hồ Chí Minh ví đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển
con người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối. Người viết: “Cũng
như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có
gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo
đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng giúp cho con người vững vàng trong
mọi thử thách. Người viết : “có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất


bại không rụt rè, lùi bước”; “khi gặp thuận lợi, thành công vẫn giữ vững tinh thần
gian khổ, chất phác, khiêm tốn”, mới “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; “lo hoàn
thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần,
không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa”.
- Với yêu cầu đó, Hồ Chí Minh nêu ra năm điểm đạo đức mà người đảng
viên phải giữ gìn cho đúng, đó là:
+ Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân.
+ Ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng.
+ Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng quyết tâm chống mọi kẻ địch, luôn luôn
cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu.
+ Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết.
+ Hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần
chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng.
- Đối với Đảng, tổ chức tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân, nhân
dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh yêu cầu phải xây dựng
Đảng ta thật trong sạch, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Người thường nhắc
lại ý của V. I. Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm
của dân tộc và thời đại.
- Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đề cập một cách toàn diện. Người nêu
yêu cầu đạo đức đối với các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội, trên mọi lĩnh

không dựa dẫm. Phải thấy rõ “lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống,
nguồn hạnh phúc của mỗi chúng ta”.


+ Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của dân, của
nước, của bản thân mình, tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ; “không xa xỉ, không
hoang phí, không bừa bãi, không phô trương, hình thức...”.
Cần, kiệm là phẩm chất của mọi người lao động trong đời sống, trong công tác.
+ Liêm là trong sạch, là “luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân”, “không
xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân”; “không tham địa
vị, không tham tiền tài..., không tham tâng bốc mình...”.
+ Chính là ngay thẳng, không tà, là đúng đắn, chính trực. Đối với mình không tự
cao, tự đại; đối với người không nịnh trên, khinh dưới, không dối trá, lừa lọc, luôn
giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết. Đối với việc thì để việc công lên trên,
lên trước việc tư, việc nhà. Được giao nhiệm vụ gì quyết làm cho kỳ được, “việc
thiện dù nhỏ mấy cũng làm; việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh”.
Liêm, chính là phẩm chất của người cán bộ khi thi hành công vụ.
- Chí công là rất mực công bằng, công tâm; vô tư là không được có lòng riêng,
thiên tư, thiên vị "tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán", đem lòng chí công, vô tư đối
với người, với việc. “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi
hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Muốn "chí
công, vô tư" phải chiến thắng được chủ nghĩa cá nhân.
Đây là chuẩn mực của người lãnh đạo, người "giữ cán cân công lý", không được
vì lòng riêng mà chà đạp lên pháp luật.
- Cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau và với chí công, vô tư. Cần,
kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công, vô tư. Ngược lại, đã chí công vô tư, một
lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm,
chính.
d. Tinh thần quốc tế trong sáng
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là sự mở rộng những quan

Phân tích :
Bạn có tin tưởng vào con đường đi lên XHCN ở VN thành công hay không?
Ở nước ta, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được bắt đầu từ năm1954 ở miền
bắc và từ năm 1975 trên phạm vi cả nước, sau khi cuộccách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân đã hoàn thành thắng lợi, đất nước đã hòan thành thắng lợi, đất nước đã
hòa bình thống nhất quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan đối với mọi quốc gia
xây dựng chủ nghĩa xã hội, dù điểm xuất phát ở trình độ pháttriển cao hay thấp.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một tất yếu lịch sử. Bởi vì:
Một là, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa là phù hợp với quyluật khách
quan của lịch sử. Loài người đã phát triển qua các hình tháikinh tế
-xã hội: công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa. Sự
biến đổi của các hình thái kinh tế
-xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên và hình tháikinh tế
-xã hội sau cao hơn, tiến bộ hơnhình thái kinh tế
-xã hội trước nó. Sự biến đổi của các hình thái kinh tế
-xã hội nói trên đều tuân theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất
và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Cho dù ngày nay, chủ nghĩa tư bản đang nắm nhiều ưu thế về vốn, khoahọc, công
nghệ và thị trường, đang cố gắng điều chỉnh trong chừng mựcnhất định quan hệ
sản xuất để thích nghi với tình hình mới, nhưng khôngvượt ra khỏi những mâu
thuẫn vốn có của nó, đặc biệt là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao


của lực lượng sản xuất với chế độc hiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu
sản xuất. Mâu thuẫn này không những không dịu đi mà ngày càng phát triển gay
gắt và sâu sắc.Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và xã hội hóa lao
động làm cho các tiền đề vật chất, kinh tế, xã hội ngày càng chín muồi cho sự phủ
định chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của xã hội mới -chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tư
bản không phải là tương lai của loài người. Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài

đã nói rõ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là “bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của
quan hệ sảnxuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế
thừanhững thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa,đặc


biệt về khoa học công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất,xây dựng nền
kinh tế hiện đại”.
Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa thực chất là phát triển theo con đường“rút ngắn”
quá trình lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng “rút ngắn” không phải là đốt cháy giai đoạn,
duy ý chí, coi thường quy luật, như muốn xóa bỏ nhanh sở hữu tư nhân và các
thành phần kinh tế “phi chủ nghĩa xã hội”hoặc coi nhẹ sản xuất hàng hóa,... Trái
lại, phải tôn trọng quy luật khách quan và biết vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ
thể của đất nước, tậndụng thời cơ và khả năng thuận lợi để tìm ra con đường, hình
thúc, bướcđi thích hợp. Phát triển theo con đường “rút ngắn” là phải biết kế
thừanhững thành tựu mà nhân loại đã đạt được ở chủ nghĩa tư bản không chỉvề lực
lượng sản xuất mà cả về quan hệ sản xuất, cơ sở kinh tế và kiếntrúc thượng tầng,
như Lênin đã nói về chủ nghĩa xã hội ở nước Nga vớikỹ thuật hiện đại trong các
tơrớt của Mỹ và nghệ thuật quản lý trongngành đường sắt ở Đức
Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa nhưng không thể thực hiện quá độ trựctiếp lên chủ
nghĩa xã hội mà phải qua con đường gián tiếp, qua việc thực hiện hàng loạt các
hình thức quá độ. Sự cần thiết khách quan và vai trò tác dụng của hình thức kinh tế
quá độ được Lênin phân tích sâu sắctrong lý luận về chủ nghĩa tư bản nhà nước.
Thực hiện các hình thứckinh tế quá độ, các khâu trung gian... vừa có tác dụng phát
triển nhanh chóng lực lượng sản xuất, vừa cần thiết để chuyển từ các quan hệ tiền
tư bản lên chủ nghĩa xã hội, nó là hình thúc vận dụng các quy luật kinh tế phù hợp
với điều kiện cụ thể.
Tóm lại, xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta tạo
ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là quá trình rất khó khăn,
phức tạp, tất yếu “phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường,
nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”

xã hội mới đáp ứng được.Quyết tâm của nhân dân sẽ trở thành lực lượng vật chất
để vượt qua khókhăn, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, một
Đảng giàu tinh thần cách mạng và sáng tạo, có đường lối đúng đắn và gắn bó với
nhân dân, có Nhà nước xã hội Chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ngày càng được
củng cố vững mạnh và khối đại đoànkết toàn dân, đó là những nhân tố chủ quan vô
cùng quan trọng bảo đảm thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
3-Nhiệm vụ kinh tế cơ bản trong thời kì qúa độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam :
Thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kì cải biến cách mạng sâusắc, triệt để,
toàn diện xã hội cũ thành xã hội mới. Về kinh tế, những nhiệm vụ cơ bản là :
a-Phát triển lực lượng sản xuất, coi công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là
nhiệm vụ trung tâm của cả thời kì quá độ nhằm xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật
của chủ nghĩa xã hội:


Cơ sở vật chất-kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội theo V.I.Lênin, là nền sảnxuất đại cơ
khí ở trình độ hiện đại được áp dụng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, kể cả
trong nông nghiệp.
Ngày nay, cơ sở vật chất-kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội phải thể hiện được những
thành tựu tiên tiến nhất của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin
và công nghệ sinh học. Chỉ khi lực lượng sảnxuất phát triển đến trình độ cao mới
tạo ra được năng suất lao động caotrong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nhờ đó
những mục tiêu và tính ưuviệt của chủ nghĩa xã hội mới được thực hiện ngày càng
tốt hơn trênthực tế.
Qúa độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, khi đấtnước ta chưa
có tiền đề về cơ sở vật chất -kĩ thuật của chủ nghĩa xã hộido chủ nghĩa tư bản tạo
ra; do đó phát triển lực lượng sản xuất nóichung, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói
riêng trở thành nhiệm vụ trung tâm của suốt thời kì quá độ. Nó có tính chất quyết
định đối với thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội.
Trong thời kì quá độ ở nước ta, tất yếu còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu, hình
thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh
đa dạng, đan xen, hỗn hợp. Do đó, xây dựng quanhệ sản xuất định hướng xã hội
chủ nghĩa đồng thời phải tôn trọng và sửdụng lâu dài và hợp lí cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần.
c-Mở rộng và nâng cao hiệu quả của quan hệ kinh tế quốc tế ;
Trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế và sự tác động mạnh mẽ của cuộccách mạng
khoa học và công nghệ hiện đại, xu hướng mở rộng quan hệkinh tế quốc tế trở
thành tất yếu đối với các quốc gia. Nền kinh tế nướcta không thể khép kín mà phải
tích cực mở rộng và ngày càng nâng caohiệu quả của quan hệ kinh tế quốc tế. Toàn
cầu hoá kinh tế và cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại tạo ranhững thách thức
và nguy cơ cần phải đề phòng, khắc phục; mặt khác,tạo ra cho nước ta những cơ
hội, thuận lợi cho quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước theo con đường
“ rút ngắn”. Đó là thu hút cácnguồn vốn từ bên ngoài, nhập được các loại công
nghệ hiện đại vànhững kinh nghiệm quản lí tiên tiến ... nhờ đó, khai thác có hiệu
quả cácnguồn lực trong nước, đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế, thu hẹpkhoảng
cách lạc hậu so với các nước khác. Đó là sự kết hợp sức mạnhdân tộc với sức mạnh
thời đại.
Để mở rộng và nâng cao hiệu quả quan hệ kinh tế quốc tế, phải nâng caosức cạnh
tranh quốc tế, khai thác thị trường thế giới, tối ưu hoá cơ cấu xuất-nhập khẩu, đa
dạng hoá quan hệ kinh tế với các tổ chức và cácquốc gia trong khu vực và quốc tế.
Tuy nhiên, phải xử lí đúng mối quan hệ giữa mở rộng kinh tế quốc tế với độc lập
tự chủ, bảo vệ an ninh kinhtế quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc với kế thừa,
tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status