1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA GIÁO DỤC BÀI LUẬN CHUYÊN ĐỀ
TÂM LÝ GIÁO DỤC HỌC ĐẠI HỌC
Tên đề tài:
Cuộc sống hiện nay dễ tạo áp lực cho con người, là giảng viên anh/chị cần đối
diện với cuộc sống như thế nào để duy trì trạng thái tâm lý lành mạnh nhằm giúp cho
sự thành công trong công việc và quan hệ con người? GVHD: Th.S Lê Tuyết Ánh
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
Khoá: 19 Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2013
DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN THỰC HIỆN
STT
Họ và tên
Số ĐT
Ghi chú
1
Dương Văn An
01684062217
Lê Thanh Huyền Thơ
0975963975
Nhóm trưởng
10
Nguyễn Xuân Quỳnh
01687806146
11
Doãn Thị Thanh Thuỷ
0905275582
12
Nguyễn Thị Bích Trâm
0982579007
13
Lê Thị Ngọc Tú
01686779968
14
Nguyễn Trần Kiều Vân
0988664426
3.5.2. Giải pháp: 21
3.6. Các mối quan hệ giao tiếp của giảng viên: 22
KẾT LUẬN 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
1
DẪN NHẬP
Karl Marx từng nói: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố
hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà
những quan hệ xã hội”. Thật vậy, con người không thể tồn tại đơn lẻ mà phải dựa vào
xã hội của mình. Chính trong xã hội ấy con người lại bị ràng buộc bởi nhiều vấn đề
như công việc, trách nhiệm, các mối quan hệ… tất cả những điều ấy khiến cho con
người có khi cảm thấy nặng nề, nhất là trong cuộc sống ngày càng hiện đại, luôn có
nhiều đổi thay. Áp lực từ cuộc sống xung quanh ngày càng tăng cùng với một xã hội có
nhiều chuyển biến.
Không riêng ai và không riêng một ngành nghề, công việc nào mà tất cả chúng
ta hiện đều đang chịu những áp lực nhất định từ cuộc sống xung quanh. Và nhất là đối
với công việc giảng dạy của một giảng viên thì việc đương đầu với các áp lực là điều
Ta vẫn thường nghe nói là cuộc sống càng hiện đại thì con người càng dễ chịu
áp lực và mức độ áp lực cũng nặng hơn. Điều này hoàn toàn đúng bởi cuộc sống phát
triển càng cao kéo theo công việc, những mối quan hệ cũng được nâng lên mức độ cao
hơn và điều này gây ra áp lực cho con người, đây là áp lực bên ngoài, không chỉ vậy,
chúng ta cũng tự tạo cho mình những áp lực bản thân, đều này là áp lực bản thân. Vậy
nhìn chung, con người ta luôn phải chịu hai loại áp lực là từ bên ngoài và bên trong
chính chúng ta.
3
1.3. Những nguyên nhân gây ra áp lực:
Trong bài viết “Áp lực công việc” đăng trên trang careerbuilder.vn tác giả bài
viết có đoạn ghi lại như sau:
Giáo sư Michael Marmot, người đã theo dõi sức khỏe của hơn 10.000 sĩ quan
Anh nhận xét: "Không khó khăn gì để tìm ra nguyên nhân vì sao lại có tình trạng tự tử
này. Do đòi hỏi khắt khe của lãnh đạo, các nhân viên phải vắt kiện sức mình để đáp
ứng cường độ làm việc.
Tình trạng làm việc quá giờ, làm việc trong những điều kiện kém an toàn xảy
ra rất phổ biến. Họ còn phải đối mặt với một chế độ sử dụng nhân sự hiện đại rất ghê
gớm, đó là sự thay thế. Ở những vị trí có sự năng động, nhiệt huyết và sức trẻ, tất cả
các nhân viên đều phải gồng lên để chứng tỏ mình, tránh bị so sánh với các nhân viên
mới về chế độ, tiền lương cũng như sức làm việc, sức sáng tạo
Ngoài ra, những áp lực cạnh tranh không lành mạnh từ các đồng nghiệp, áp lực
về cuộc sống bấp bênh nếu bị thất nghiệp cũng tạo ra những căng thẳng triền miên đối
với các nhân viên. Người lao động vì những điều này mà luôn có nguy cơ rơi vào tình
trạng thái trầm uất…”
Nhìn chung ta có thể thấy áp lực cuộc sống từ phía ngoài có thể kể đến chính là
từ công việc với những đòi hỏi, thách thức ngày càng lớn, cường độ làm việc cao, môi
trường làm việc không lành mạnh (do tính cạnh tranh gay gắt, mối quan hệ của con
người trong môi trường không tốt…), hoặc cũng có thể là do vấn đề kinh tế do tiền
lương công việc không đáp ứng được nhu cầu cùa bản thân, trình độ bản thân không
Áp lực công việc tạo nên những mâu thuẫn trong các mối quan hệ cá nhân, đặc
biệt là ở nam giới. 79% nam giới và 61% phụ nữ tiết lộ rằng căng thẳng trong công
việc khiến các mối quan hệ cá nhân của họ bị ảnh hưởng rất nhiều.
Áp lực công việc dễ gây trầm cảm. Theo nghiên cứu năm 2011 được đăng tải
trên tạp chí PLOS ONE, những ai làm việc 11 giờ hàng ngày dễ bị trầm cảm. Trầm
cảm có liên quan mật thiết đến các vấn đề tiêu cực về sức khỏe, bao gồm tăng nguy cơ
đột quỵ, đau tim, thiếu ngủ
Áp lực công việc tăng nguy cơ đau tim. Đây là một trong những tác động nguy
hiểm nhất của áp lực công việc đến sức khỏe. Một nghiên cứu năm 2012 của Trường
Đại học London đã chỉ ra rằng 23% những người phải chịu áp lực công việc thường
xuyên có thể tăng nguy cơ đau tim 23% so với những người có tinh thần thoải mái
trong công việc.
Nguy cơ tử vong cao do áp lực công việc ở mức độ cao. Rất nhiều người trong
số chúng ta phàn nàn rằng công việc đang dần giết chết họ. Nghiên cứu mới đây đã chỉ
ra rằng những người hay ngồi lâu mỗi ngày sẽ không tốt cho sức khỏe. Dù bạn có tập
thể dục thường xuyên nhưng nếu ngồi lâu một chỗ trong thời gian dài cũng sẽ mang lại
những hậu quả khôn lường. Bạn có thể mắc chứng bệnh béo phì, tim mạch và thậm chí
tử vong chỉ vì ngồi lâu.
1.5. Cách khắc phục các áp lực:
Trong cuộc sống có thể nói không ai là không gặp phải áp lực vậy nên cần có
những cách chuẩn bị về phía bản thân để tránh những hậu quả tiêu cực do áp lực gây ra,
phổ biến trong số những cách thường được áp dụng gồm có:
Thứ nhất, sắp xếp công việc một cách hợp lý. Những công việc khó và quan
trọng nên dành ưu tiên hoàn thành trước để có nhiều thời gian giải quyết chúng. Trước
6
khi xong việc, dành thời gian để dọn dẹp nơi làm việc cho gọn gàng và tạo ra một danh
sách các công việc phải làm cho ngày hôm sau.
Thứ hai, làm việc theo kế hoạch đã định ra. Cần phải tạo ra những kế hoạch
là người tiên tiến của xã hội, người giảng viên phải thường xuyên rèn luyện để nâng
cao trình độ nghiệp vụ và tham gia tích cực vào công tác nghiên cứu khoa học. Trên
thực tế, để có thể hình thành tay nghề sư phạm, người cán bộ giảng dạy bên cạnh việc
phải xây dựng nền tảng tri thức sâu sắc trong lĩnh vực chuyên môn còn phải rèn luyện
một hệ thống các kỹ năng, kỹ xảo nhất định, quan trọng là phải nắm vững phương pháp
khoa học về giảng dạy và giáo dục cũng như sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ
thuật trong giảng dạy.
Người giảng viên cũng phải đối mặt với những đánh giá khắt khe của xã hội về
mặt nhân cách bởi họ được kỳ vọng sở hữu nhân cách của người tri thức hoạt động
trong lĩnh vực giáo dục đại học. Nhân cách của người cán bộ giảng dạy bao gồm rất
nhiều những phẩm chất tư tưởng chính trị, đạo đức, năng lực và các phẩm chất tâm lý
khác, trong đó quan trọng nhất là xu hướng nghề nghiệp sư phạm và năng lực sư phạm.
Theo đó, người giảng viên phải có hứng thú với nghề và có khuynh hướng chiếm lĩnh
nó; sở hữu các phẩm chất trí tuệ như tính quan sát và sự sáng tạo, các phẩm chất ngôn
ngữ như tính thuyết phục, tính nghiêm túc, tính logic của ngôn ngữ, các phẩm chất
tưởng tượng như khả năng đặt mình vào vị trí sinh viên và hiểu họ. Những yêu cầu này
tạo áp lực nặng nề cho người giảng viên trong việc phải thường xuyên rèn luyện những
nét nhân cách, phẩm chất đặc trưng cho ngành sư phạm.
8
2.2. Áp lực từ những vấn đề phát sinh trong quá trình giao tiếp sư phạm trong
trường đại học:
Giao tiếp sư phạm là những nguyên tắc, những biện pháp và kĩ xảo tác động lẫn
nhau giữa nhà giáo dục với tập thể sinh viên mà nội dung của nó là trao đổi thông tin,
chỉ ra các tác động giáo dục – học tập, tổ chức mối quan hệ lẫn nhau và cũng là truyền
lại nhân cách nhà giáo dục cho người học. Giao tiếp sư phạm là hoạt động thường ngày
của người giảng viên, tuy nhiên quá trình giao tiếp thành công đòi hỏi người giảng viên
phải rèn luyện được những kỹ năng nhất định. Theo nhà giáo dục nổi tiếng V.A.
Xukholinxki: “Giảng dạy không phải là sự truyền đạt máy móc các tri thức. Đó là
những mối quan hệ phức tạp của con người.” Theo đó, trong quá trình giao tiếp, người
10
3. Thực trạng công việc và giải pháp cho những áp lực của giảng viên hiện nay:
3.1. Thu nhập thấp:
3.1.1. Thực trạng:
Việc phát triển khoa học và giáo dục đại học ở Việt Nam gặp không ít khó khăn,
và một trong những khó khăn đó chính là sự quá bất hợp lý trong hệ thống lương bổng
cho giảng viên đại học.
Để thấy thu nhập chính thức của các giảng viên đại học ở Việt Nam thấp đến
mức nào, có thể so sánh: Giữa thu nhập của giảng viên đại học ở VN với giảng viên ở
các nước đang phát triển khác. Giữa các giảng viên đại học ở VN và những người trình
độ tương đương nhưng làm những ngành khác như kỹ sư, bác sĩ, tài chính kế toán, v.v.
Theo cả hai so sánh đó, thì lương của giảng viên đại học công của Việt Nam đều
đang ở mức cực thấp. Ví dụ như giáo sư ở Việt Nam (tạm coi là tầng lớp trí thức cao
cấp nhất, có trình độ cao nhất của Việt Nam) được không quá 4-500 USD một tháng kể
cả phụ cấp, trong khi ở Senegal (là nước đang phát triển còn nghèo hơn Việt Nam) có
thể được trên 2000 USD một tháng, hay các cán bộ cao cấp ở các doanh nghiệp ở VN
có thể đạt thu nhập chính thức vài nghìn USD một tháng dễ dàng.
PGS. TS. Lê Trọng Thắng khẳng định: “Làm giảng viên lương khởi điểm chỉ từ
2 – 5 triệu/ tháng trong khi làm việc tại công ty hay doanh nghiệp được khoảng 10
triệu/tháng”.
Lương thấp cho giảng viên đại học dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như:
- Các tệ nạn tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa. Đấy là hậu quả tất yếu của hệ
thống “lương ít lậu nhiều”. Khi lương quá thấp và xã hội thiếu công bằng và kỷ cương,
thì người ta dễ bị cám dỗ bởi các cách kiếm tiền dễ dàng lợi dụng quyền lực trách
nhiệm trái với đạo lý nghề nghiệp, ví dụ như bán điểm cho sinh viên. Rất khó hình
11
dung một giảng viên ở một đại học tiên tiến trên thế giới lại đi bán điểm cho sinh viên
(ai làm như vậy mà bị phát hiện thì sẽ không còn mặt mũi nào nhìn đồng nghiệp),
3.1.2. Giải pháp:
Đối với giảng viên: Sau khi hoàn tất các nhiệm vụ được giao nơi công tác, giảng
viên có thể chủ động tìm kiếm các cơ hội giảng dạy và làm việc bên ngoài để cải thiện
thu nhập, nâng cao kỹ năng giảng dạy và tiếp thu thêm những kiến thức, kinh nghiệm
mới.
Về phía nhà trường:
- Tích cực tìm kiếm các cơ hội cho giảng viên tham gia nghiên cứu các đề
tài khoa học để tăng thêm thu nhập.
- Chăm lo đời sống của giảng viên và có những sự giúp đỡ kịp thời khi họ
gặp khó khăn về kinh tế.
- Chủ động gia tăng các chương trình đào tạo để giúp giảng viên có thêm
cơ hội giảng dạy. Giảng dạy chất lượng cao, đồng thời thu học phí cao tương xứng. Để
làm được việc này, các trường (đại học công) cần có quyền tự chủ cao về tài chính, và
có quyền trả thù lao cao cho các bài giảng. Hiện tại mức thu lao này do nhà nước qui
định, và quá thấp.
- Liên kết với doanh nghiệp, làm các nghiên cứu có ứng dụng hiệu quả
thực tế vào các mảng khác nhau của nền kinh tế, tạo nguồn thu nhập từ các ứng dụng
đó.
13
Về phía Nhà nước: nên có những chính sách hỗ trợ nhằm động viên và khích lệ
đội ngũ giáo viên – giảng viên như: tăng mặt bằng lương chung, nâng cao phúc lợi và
chính sách bảo hiểm…
3.2. Yêu cầu công việc quá nặng:
3.2.1. Thực trạng:
Khi bắt đầu sự nghiệp, giảng viên đại học cần phải mất một năm tập sự và áp
lực liên tục để nâng cao trình độ.
Nếu chỉ phải đứng lớp giảng dạy, công việc của giảng viên không đến nỗi quá
vất vả nhưng thường họ đều phải kiêm thêm công tác, số giáo viên chỉ đứng lớp giảng
trường khi tổ chức các hoạt động này rõ ràng là tốt và hợp lý. Đó là nhằm tạo môi
trường sinh hoạt lành mạnh, bồi dưỡng về tinh thần và sức khỏe cho đội ngũ giảng
viên, tạo cơ hội cho các cán bộ, giảng viên giao lưu trao đổi kinh nghiệm giảng dạy
cũng như để tăng cường hiểu biết, tình đoàn kết, gắn bó với nhau và với nhà trường.
Tuy vậy, ngoài thời gian giảng dạy trên lớp, soạn bài, chấm bài ở nhà và thực
hiện các đề tài nghiên cứu khoa học để hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn, người giảng
viên phải dành thêm một khoảng thời gian không nhỏ để tham gia các hoạt động phong
trào như có thể liệt kê sơ lược dưới đây:
- Các hoạt động thi đua về mặt chuyên môn như: thi giảng viên giỏi, bài
giảng điện tử, giáo án hay … Những cuộc thi này chiếm không ít thời gian của các
giảng viên để chuẩn bị về nội dung, hình thức và tham dự các vòng thi.
15
- Tham gia các câu lạc bộ nghiên cứu khoa học cùng với em sinh viên
trong vai trò định hướng, hướng dẫn sinh viên, đây là nhiệm vụ thường được giao cho
các giảng viên trẻ và các giảng viên có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu khoa học.
- Các buổi họp của đoàn thanh niên hoặc đảng bộ tại trường: ít nhất là một
buổi họp mỗi quý, chưa kể các buổi sinh hoạt chủ đề chính trị - xã hội.
- Các phong trào thể thao, văn nghệ, công tác xã hội mà trường phát động
cho giảng viên, đặc biệt là các giảng viên trẻ. Mỗi năm thường tổ chức khoảng hai đợt
hội thao, hội diễn văn nghệ nhân ngày Nhà giáo Việt Nam và ngày truyền thống thành
lập trường, một kỳ công tác xã hội tổ chức tại các vùng khó khăn kéo dài từ 1 tuần đến
1 tháng và các hoạt động công tác xã hội thường xuyên khác (thăm trại trẻ mồ côi,
người khuyết tật, người già, người nghèo, …). Đây mới chỉ là những hoạt động do
trường tổ chức, chưa kể các hoạt động do Thành Đoàn hay Ngành giáo dục tổ chức.
Nếu giảng viên tham gia đầy đủ các hoạt động trên thì sẽ không còn thời gian để
nghiên cứu bài giảng trước khi lên lớp hoặc tập trung suy nghĩ cho những ý tưởng khoa
học, càng không đủ thời gian dành cho gia đình. Mặc dù đây không phải những hoạt
động bắt buộc đối với giảng viên, nhưng nếu giảng viên không tham gia bất kỳ hoạt
động nào mà chỉ tập trung vào công việc chuyên môn vốn đã nặng thì sẽ bị đánh giá là
động viên, thưởng phạt. Ngược lại, mỗi năm chỉ nên tổ chức khoảng hai hoạt động lớn
để giảng viên có thể sắp xếp tham gia một cách tốt nhất. Ban Lãnh đạo trường cũng
như Ban chấp hành Công đoàn, Đoàn thanh niên cần chọn lọc các chương trình hoạt
động có nội dung chất lượng, phát huy được hiệu quả trong nâng cao kỹ năng giảng
17
viên hoặc thực sự tạo được cho giảng viên không khí vui vẻ, thân thiện sau những
khoảng thời gian làm việc căng thẳng.
3.4. Thanh kiểm tra quá nhiều:
3.4.1. Thực trạng
Thanh kiểm tra là một trong những vấn đề gây áp lực khá lớn đến người lao
động nói chung và giảng viên nói riêng vì lo lắng nếu không thể hiện tốt thì công việc
trong nhiều năm có thể sẽ bị đánh giá sai lệch từ kết quả một lần thanh kiểm tra. Các
hình thức kiểm tra, giám sát phổ biến ở trường cao đẳng, đại học là:
- Kiểm tra giờ giấc giảng dạy, gồm giờ vào lớp, giờ tan lớp. Giảng viên
không được cho lớp vào học trễ hay về sớm, phải đảm bảo một cách cứng nhắc thời
lượng học mỗi buổi. Trong khi đó, nội dung mỗi bài học có thể dài ngắn khác nhau,
việc kiểm soát giờ học khiến giảng viên khó điều khiển lớp theo mạch bài giảng.
Chẳng hạn, nếu được tự do quyết định giờ học, giảng viên có thể cho lớp về trễ khi nội
dung bài học khá dài mà nếu ngừng hôm nay thì hôm sau sẽ phải mất thêm thời gian ôn
lại thì mới giảng tiếp bài học đó được. Và bù lại, lớp học có thể về sớm khi bài ngắn để
giảng trọn vẹn bài giảng trong một buổi học, tránh việc phải chắp nối bài giảng từ buổi
này sang buổi khác, làm giảm sự tập trung học tập của sinh viên.
- Kiểm tra chất lượng giảng dạy bằng việc dự giờ trực tiếp trên lớp. Hầu
hết các giảng viên đều luôn tự ý thức được trách nhiệm nghề nghiệp cơ bản của mình là
phải truyền đạt đầy đủ và chính xác nội dung kiến thức của môn học đến sinh viên,
đảm bảo mục tiêu đặt ra trong chương trình học của trường. Tuy nhiên, việc có mặt của
Lãnh đạo và đồng nghiệp để nghe giảng và tìm kiếm những sai sót chi tiết của giảng
viên khiến không ít các giảng viên cảm thấy rất áp lực, giống như đang phải trình diễn
chứ không thể tập trung toàn tâm vào giảng bài cho sinh viên. Vì vậy, nhiều khi các tiết
không cần thiết, để người giảng viên thực hiện công việc chuyên môn của mình bằng
tinh thần nhà giáo chứ không để đối phó với sự giám sát của nhà trường. Hơn nữa,
những đợt thanh kiểm tra đột xuất hay thường xuyên cũng không thể đảm bảo chất
lượng giảng dạy và học tập tốt nếu giảng viên thực sự muốn đối phó để giữ được công
việc của mình mà không có ý thức trách nhiệm về nhiệm vụ người thầy. Nếu cần thiết,
thỉnh thoảng có thể tổ chức cho những giảng viên trong cùng một khoa đến dự giờ của
đồng nghiệp mình trên tinh thần các giảng viên cùng giúp nhau cải thiện kỹ năng giảng
dạy nhằm thực hiện tốt hơn công việc chuyên môn.
Tuy nhiên, nếu nhà trường không chấp nhận được đề xuất nêu trên thì người
giảng viên cũng cần tự rèn luyện cho mình phong cách giảng dạy chuyên nghiệp, tự
trau dồi kiến thức và thực hiện các hồ sơ giảng dạy khoa học, thể hiện rõ được cơ sở
cho mỗi nội dung giảng dạy cũng như chấm điểm sinh viên của mình. Có như vậy thì
người giảng viên có thể tự tin vượt qua các đợt thanh kiểm tra mà không phải rơi vào
sự căng thẳng mỗi khi bị kiểm tra đột xuất hay đến đợt thanh tra thường xuyên. Ngoài
ra, việc giữ mối quan hệ tốt với Lãnh đạo và các phòng thanh tra, khảo thí - kiểm định
chất lượng sẽ giúp tạo ra không khí thoải mái hơn trong mỗi đợt thanh kiểm tra. Khi
đó, giảng viên có thể coi đây là một cơ hội để tìm kiếm những điểm chưa tốt để hoàn
thiện hơn nghiệp vụ sư phạm của bản thân.
3.5. Thái độ xã hội đối với công việc giảng viên:
3.5.1. Thực trạng:
“Người cán bộ giảng dạy là một cán bộ khoa học, nắm vững các phương pháp
khoa học về giảng dạy và giáo dục, biết sử dụng thành thạo các phương tiện kĩ thuật
trong giảng dạy, thường xuyên rèn luyện để nâng cao trình độ nghiệp vụ của mình,
20
tham gia tích cực vào công tác nghiên cứu khoa học và đời sống khoa học. Đó là người
tiên tiến của xã hội”.
(
1
)
Nguyễn Thạc (chủ biên) (2009), Tâm lí học sư phạm đai học, NXB. Đại học Sư phạm, tr. 173
21
nhu cầu mới, đòi hỏi phải có kinh tế vững chắc thì mới đáp ứng được, và trong trườg
hợp này thì nếu những ngành nghề khác việc đòi hỏi về nâng lương hay cải thiện mức
sống được xem là phù hợp thì đối với việc dạy học đó lại là việc không đúng đắn,
chính. Đây là một trong những ví dụ điển hình cho quan niệm, thái độ không còn phù
hợp với công việc của giảng viên trong giai đoạn hiện nay.
Nhận định công việc dạy học là tách biệt với những đòi hỏi về vật chất như vậy
nhưng đối với quan hệ với sinh viên xã hội luôn mặc định cho họ những chuẩn mực
cao mà người giảng viên cần có, chẳng hạn luôn phải theo sát, hỗ trợ, động viên,
khuyến khích và thấu hiểu sinh viên của mình. Nhưng thực tế hiện nay tình trạng lớp
học với quá nhiều sinh viên, thời gian tiếp xúc giữa giảng viên và sinh viên bị rút ngắn
do chương trình học thay đổi nên việc buộc giảng viên phải chú ý đến từng sinh viên
trong lớp là điều khó có thể thực hiện. Dù công việc phải tiếp xúc với nhiều sinh viên
với nhiều tính cách, trình độ khác nhau nhưng xã hội luôn nhìn nhận giảng viên luôn
phải giữ thái độ bình tĩnh và có cách cư xử đúng mực trong mọi tình huống gặp phải.
Quan hệ giữa giảng viên và sinh viên thực chất cũng là quan hệ giữa người với người
nên những sai sót mắc phải trong mối quan hệ là điều không thể tránh khỏi nhưng
giảng viên luôn phải cố gắng sao cho những sai phạm này ở mức tói thiểu, đồng thời
còn phải điều chỉnh, uốn nắn hành vi của cả sinh viên, đây là một công việc rất khó
khăn đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của cả giảng viên và sinh viên nhưng giảng viên luôn
được cho là phải chủ động, luôn phải có tác động tích cực đối với sinh viên.
3.5.2. Giải pháp:
Trên đây chỉ là hai trong số rất nhiều những quan niệm xã hội nhìn nhận một
người giảng viên, tuy cũng có quan niệm đúng đắn, giúp giảng viên có thể điều chỉnh
hành vi của mình để xứng đáng với công việc giảng dạy nhưng cũng tồn tại nhưng thái
độ bảo thủ của xã hội khiến người giảng viên chịu không ít áp lực thế nên cần phải có
những giải pháp cho vấn đề này từ nhiều phía: