HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
TRN TH LAN
chất lợng lao động của đội ngũ trí thức
giáo dục đại học ViệT NAM hiện nay
Chuyờn ngnh : Ch ngha xó hi khoa hc
Mó s : 62 22 85 01
LUN N TIN S TRIT HC
Ngời hớng dẫn khoa học: GS.TS hoàng chí bảo
H NI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa
học của riêng tôi. Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong
luận án là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng.
Tác giả luận án
Trần Thị Lan
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN
6
1.1. Những công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến luận án
6
1.2. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến luận án
17
1.3. Những giá trị, hạn chế của các công trình nghiên cứu liên quan
đến luận án và những vấn đề luận án tiếp tục làm sáng tỏ
20
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG CỦA TRÍ
THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
4.2. Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng lao động của đội
ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay
125
KẾT LUẬN
148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
149
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
151
PHỤ LỤC
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CBGD
: Cán bộ giảng dạy
CNH, HĐH
: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐH
: Đại học
GDĐH
: Giáo dục đại học
GS
: Giáo sư
NCKH
: Nghiên cứu khoa học
Nxb
: Nhà xuất bản
PGS
: Phó giáo sư
TB
: Trung bình
Ths
102
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức và
cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã không những xác định vị trí của con
người ở hàng đầu trong lực lượng sản xuất mà còn định hình ngày càng rõ
hơn vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn lực trí tuệ đối với việc phát triển
nội lực của mỗi quốc gia, dân tộc.
Việt Nam đang ở thời kỳ bước ngoặt của phát triển với việc đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bối cảnh của thế giới và thời đại đang mở ra
những triển vọng, điều kiện thuận lợi cho Việt Nam đồng thời cũng đặt nước
ta trước nhiều nguy cơ, thách thức nghiệt ngã trên tiến trình hội nhập, trong
đó, sự lạc hậu, tụt hậu về trí tuệ là điều đáng sợ nhất.
Với tư cách là cái nôi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, GDĐH
Việt Nam có trọng trách to lớn trong quá trình tạo lập, phát triển tiềm lực trí
tuệ cho dân tộc. Điều này lý giải tại sao giờ đây, khắc phục điểm nghẽn về
nguồn nhân lực trình độ cao thông qua việc cải biến chất lượng lao động của
đội ngũ trí thức GDĐH được đặt ra như một giải pháp chiến lược cho sự phát
triển, chấn hưng dân tộc mà Việt Nam phải hết sức quan tâm. Đó là kết quả
trực tiếp của sự gia tăng nguồn lực trí tuệ được Việt Nam cũng như các quốc
gia đặc biệt chú trọng trước tính cạnh tranh trong nền kinh tế dựa trên sức
mạnh của tri thức, khoa học và công nghệ.
Vấn đề hệ trọng này còn được cắt nghĩa từ chính những yếu kém kéo
dài, chậm được khắc phục trong chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của
GDĐH ở nước ta. Càng đi sâu vào hội nhập, chất lượng đào tạo nguồn nhân
lực ở Việt Nam càng bị chi phối bởi qui luật cạnh tranh và những tác động
tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường. Đáng lo ngại là tình trạng bất cập về
trình độ, năng lực và những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, lao
động hình thức, thiếu tận tâm, tận lực của không ít trí thức nhà giáo trước trọng
nghĩa lý luận mà còn góp phần thực hiện chủ trương kiểm định chất lượng các
3
trường đại học theo hệ tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm “đổi mới
căn bản, toàn diện nền giáo dục” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8
khóa XI của Đảng.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả chọn vấn đề “Chất lượng lao
động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay” làm đề tài
luận án tiến sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án
Xác định một quan niệm có tính hệ thống về chất lượng lao động của
trí thức GDĐH để xây dựng luận cứ khoa học đánh giá thực trạng vấn đề này
ở Việt Nam, qua đó đề ra những giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao chất
lượng hoạt động nghề nghiệp của đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam trong
những thập kỷ đầu thế kỷ XXI.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Để đạt được mục đích nêu trên, ngoài việc tổng quan tình hình nghiên cứu
có liên quan đến vấn đề trí thức, trí thức GDĐH, luận án tập trung giải quyết
những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về chất lượng lao động của trí thức GDĐH Việt
Nam từ quan niệm chung đến việc chỉ ra những đặc điểm lao động, tiêu chí
đánh giá và tính tất yếu nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ trí thức
GDĐH ở nước ta hiện nay.
- Đánh giá thực trạng chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH
Việt Nam và những vấn đề đặt ra.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng lao động
của đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, phát
triển kinh tế tri thức và đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
trí thức GDĐH trong hoạt động nghề nghiệp.
- Luận án đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng
lao động của đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam trong điều kiện của đổi mới,
5
của đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, trước tác động của xu thế hội nhập, toàn cầu
hóa và phát triển kinh tế tri thức.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần phát triển hướng nghiên cứu mới về lý luận và
thực tiễn đối với vấn đề chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH Việt
Nam từ sự kết hợp cách tiếp cận triết học - chính trị - xã hội và giáo dục.
- Luận án góp phần củng cố vững chắc luận cứ khoa học làm cơ sở cho
việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác trí
thức GDĐH trong điều kiện mới.
- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy
những chuyên đề liên quan đến trí thức, trí thức GDĐH.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận án gồm 4 chương, 11 tiết.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Trước xu thế hội nhập, toàn cầu hoá và những tác động sâu sắc của
kinh tế tri thức, vai trò của GDĐH trong xã hội ngày càng được nâng cao, mối
quan tâm đến chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH vì thế cũng trở
nên có sức hút mạnh mẽ đối với nhiều chủ thể. Liên quan đến vấn đề chất
lượng lao động của trí thức GDĐH ở những khía cạnh và góc độ tiếp cận khác
nhau, có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước.
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
1.1.1.Nhữngcông trình nghiên cứutiêu biểu bàn luận trực tiếpđếntrí thức
đội ngũ này góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
- GS, TS Nguyễn Văn Khánh - chủ biên của hai công trình: “Xây dựng
và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước”
[74]; “Nguồn lực trí tuệ Việt Nam - Lịch sử, hiện trạng và triển vọng” [75].
Giá trị của hai công trình nghiên cứu thể hiện tập trung ở những luận chứng
khoa học về vấn đề trí thức, nguồn lực trí tuệ với cách tiếp cận liên ngành. Đội
ngũ trí thức được tác giả quan niệm là tầng lớp tinh hoa của nguồn lực trí tuệ
Việt Nam. Trên cơ sở khảo sát, đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực này,
tác giả đã đưa ra hệ thống giải pháp có ý nghĩa thiết thực đối với việc xây dựng
và phát huy vai trò của nguồn lực trí tuệ đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của sự
nghiệp chấn hưng đất nước.
- PGS, TS Nguyễn Khánh Bật, Th.s Trần Thị Huyền (đồng chủ biên),
“Xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH theo tư tưởng Hồ Chí
Minh” [18]. Đây là công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu về trí thức
dưới góc độ tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác giả đã khái quát những nội dung cơ
bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức, làm rõ sự vận dụng sáng tạo của
Đảng và Nhà nước ta trong công tác xây dựng trí thức đồng thời đánh giá
8
những đóng góp, hạn chế của đội ngũ này trong cách mạng Việt Nam, trên có
sở đó, đi sâu phân tích những giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức ở nước ta
thời kỳ 2011- 2020 đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Hai là, các đề tài khoa học nghiên cứu về trí thức:
- GS, TS Phạm Tất Dong với Đề tài khoa học cấp nhà nước, mã số KX
04 - 06: "Luận cứ khoa học cho các chính sách nhằm phát huy năng lực sáng
tạo của giới trí thức và sinh viên” [40] đã chú trọng phân tích làm rõ cơ sở lý
luận, thực tiễn và pháp lý của việc hoạch định chính sách, giải pháp hướng
vào việc khơi dậy, khai thác, sử dụng năng lực sáng tạo của giới trí thức và
sinh viên trong hoạt động giáo dục và đào tạo.
- PGS, TS Đàm Đức Vượng, PGS, TS Nguyễn Viết Thông: “Xây dựng
đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011- 2020” [161]. Đây là công trình
thường có trình độ học vấn cao, được đào tạo hoặc tự đào tạo. Tuy nhiên, “giá trị
quan trọng nhất của người trí thức chân chính đó là chân lý và lẽ phải; trí thức là
người tự tin và ngay thẳng, có lòng tự trọng, khả năng hành xử đúng mực và
thích ứng cao với các biến đổi của môi trường tự nhiên, xã hội” [146, tr.30].
Bốn là, những công trình nghiên cứu tiêu biểu về trí thức được công
bố trên các tạp chí trong những năm gần đây:
Bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, yêu cầu đổi mới tư
duy về vấn đề trí thức đã được đặt ra trong mối quan tâm của không ít nhà
khoa học. Tiếp tục làm rõ bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác -
Lênin và sự nhận thức đúng đắn của Đảng ta trong quan điểm về trí thức là
hướng nghiên cứu lý luận quan trọng. Một số bài báo đăng trên các tạp chí
trong thời gian qua đã đề cập tới vấn đề này, tiêu biểu như: “Đội ngũ trí thức
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”của PGS, TS Phan
Thanh Khôi [78]; “Những bài học từ quan điểm của Lênin về trí thức” của
PGS, TS Phan Thanh Khôi [79]; “Suy ngẫm và nhận thức về vấn đề trí thức”,
Tạp chí Lý luận chính trị, 2008, số 9 của PGS, TS Nguyễn Đức Bách [17].
Ngoài ra cần phải nhấn mạnh rằng, trong những năm gần đây, trên đà phát
triển cả về số lượng, chất lượng của trí thức Việt Nam, những khía cạnh mới
về chức năng, nhiệm vụ, chính sách tuyển dụng, đãi ngộ, giải pháp phát huy
10
vai trò của đội ngũ trí thức nhằm đáp ứng đòi hỏi, yêu cầu của quá trình CNH,
HĐH, hội nhập, phát triển kinh tế tri thức cũng đã được đặt ra và nghiên cứu
một cách nghiêm túc. Có thể kể đến một số bài viết có giá trị khoa học như:
“Mấy vấn đề cần đổi mới tạo động lực và điều kiện để trí thức nước ta phát
huy tài năng trí tuệ” của Nguyễn Đức Bách [16]; “Tổng quan về đội ngũ trí
thức nước ta hiện nay” [81] và “Nhà khoa học và sự sáng tạo trong khoa học
xã hội” [82] của PGS, TS Phan Thanh Khôi.
Những công trình nghiên cứu nêu trên đã cung cấp cơ sở lý luận, thực
tiễn quan trọng để tác giả luận chứng về trí thức, về vai trò của đội ngũ trí
thức trong điều kiện đổi mới, hội nhập, phát triển kinh tế tri thức và CNH,
gia vào quá trình đào tạo ở bậc cao nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân; đối
tượng tác động chủ yếu của người trí thức GDĐH là những sinh viên, học
viên cao học và nghiên cứu sinh; mục đích lao động nhằm đào tạo ra những
người lao động sáng tạo, có phẩm chất đạo đức tốt; trí thức GDĐH vừa là nhà
giáo vừa là nhà khoa học, nhà chính trị. Từ việc đánh giá thực trạng về cơ
cấu, chất lượng của trí thức GDĐH, tác giả đưa ra phương hướng, giải pháp
cơ bản để phát triển đội ngũ trí thức GDĐH đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân
lực phục vụ cho quá trình CNH, HĐH đất nước.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Đổi mới quản lý hệ thống GDĐH giai đoạn
2010 - 2012” [26]. Công trình nghiên cứu đã giới thiệu Nghị quyết của Ban
cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới quản lý GDĐH giai đoạn
2010 - 2012. Nghị quyết đã nghiêm túc chỉ ra hạn chế trong chất lượng
GDĐH và khẳng định sự cần thiết phải đẩy mạnh việc đánh giá và kiểm định
chất lượng GDĐH; hình thành ở các cơ sở GDĐH tổ chức chuyên trách về
hướng dẫn, bảo vệ và khai thác sở hữu trí tuệ của giảng viên; tôn vinh và tạo
điều kiện ngày càng tốt hơn để nhà giáo ở bậc đại học phát huy tính tích cực
trong NCKH. Có thể khẳng định, đây là cơ sở pháp lý quan trọng có ý nghĩa
định hướng cho tác giả luận án trong việc xây dựng giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng lao động của trí thức GDĐH Việt Nam hiện nay.
Xuất phát từ quan điểm coi trí thức GDĐH là nhân tố quyết định nhất
đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung
12
luận giải vị trí, vai trò của trí thức GDĐH đồng thời tìm ra hệ thống giải pháp cơ
bản tạo động lực lao động cho đội ngũ nhà giáo ở bậc đại học. Liên quan đến
vấn đề đó, những năm gần đây, có một số công trình khoa học, đáng chú ý là:
- PGS, TS Bùi Khắc Việt (chủ nhiệm): “Trí thức trẻ và sinh viên”
[160]. Tác giả đã trực tiếp khẳng định vai trò của đội ngũ trí thức trẻ và sinh
viên ở các trường đại học, cao đẳng. Trên cơ sở đánh giá thành tựu, hạn chế,
bất cập, nhất là về chất lượng của lực lượng đó trước yêu cầu, đòi hỏi của thực
tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tác giả đi đến khẳng định việc phát triển đội ngũ
năng lực có ý nghĩa nhất đối với lao động chuyên môn là năng lực sư phạm
và năng lực NCKH. Rèn luyện kỹ năng của một nhà khoa học và nhà sư phạm
tâm huyết là yêu cầu tất yếu để nâng cao chất lượng nghề nghiệp của đội ngũ
giảng viên đại học.
- PGS, TS Phạm Hồng Quang - tác giả cuốn sách “Môi trường giáo dục”
[119] đưa ra quan niệm về đặc điểm lao động của trí thức GDĐH. Tác giả
khẳng định, đối tượng lao động sư phạm là nhân cách học sinh đang phát
triển; để tác động đến đối tượng này, người giảng viên cần dùng công cụ là
chính nhân cách của mình; chức năng lao động sư phạm là tái sản xuất sức lao
động xã hội; lao động của người giảng viên là lao động trí óc chuyên nghiệp;
nó đòi hỏi ở người giảng viên tính khoa học, nghệ thuật và sự sáng tạo. Tác
giả cho rằng, đặc điểm lao động sư phạm cũng qui định những yêu cầu cơ bản
về nhân cách người giảng viên nên nhà giáo dục phải có năng lực sư phạm và
tổ hợp các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp như: thế giới quan khoa học, lý
tưởng đào tạo thế hệ trẻ và lòng yêu người, yêu nghề.
- Khi luận giải “Bản chất của hoạt động sáng tạo trong nghiên cứu
khoa học” [9], GS, TS Hoàng Chí Bảo nhấn mạnh: GDĐH gắn liền giảng dạy
với NCKH và phục vụ sản xuất. Đội ngũ nhà giáo và các nhà khoa học có
quan hệ hợp tác, gắn bó với nhau thường xuyên, lâu dài. Hình thức lao động
của họ có nhiều nét tương đồng về bản chất. Đó là sự phát hiện, sự sinh thành
giá trị mới thông qua những cách tân, tìm tòi hướng tiếp cận và phương pháp
giảng dạy, nghiên cứu mới. Vì vậy, lao động của trí thức GDĐH thể hiện rõ tính
sáng tạo với những sắc thái biểu hiện phong phú, đa dạng và phức tạp của nó.
14
- TS Nguyễn Bá Cần: “Hoàn thiện chính sách phát triển Giáo dục đại
học Việt Nam hiện nay” [31]. Tiếp cận đặc điểm của GDĐH trong điều kiện
kinh tế thị trường, tác giả đã cho rằng, là một loại sản phẩm dịch vụ, GDĐH
có đầy đủ tính chất kinh tế giống như các loại sản phẩm hàng hoá và dịch vụ
khác, nhưng nó không thích hợp với việc mua - bán hàng hóa. Khi so sánh với
các loại dịch vụ khác thì “sản phẩm dịch vụ GDĐH còn có tính đặc thù - đó là
liên hệ với trị trường lao động ở Việt Nam. Nhiều nội dung quan trọng về chất
lượng của GDĐH đã được luận giải, khảo sát và chứng minh. Đáng chú ý là
vấn đề hiệu quả đào tạo; chương trình học, phương pháp sư phạm; chất lượng
đội ngũ giảng dạy; năng lực nghiên cứu của giảng viên; sự hài lòng của sinh
viên; khả năng, mức độ cung cấp thỏa đáng các kỹ năng cần thiết của GDĐH
Việt Nam cho nguồn nhân lực, cho gia tăng năng suất lao động và thúc đẩy
năng lực sáng tạo của người lao động trước những yêu cầu, đòi hỏi ngày càng
cao từ thị trường trong nước, khu vực và quốc tế. Kết quả nghiên cứu của Báo
cáo có ý nghĩa quan trọng đối với tác giả luận án trong việc kế thừa những số
liệu minh chứng về hiệu quả giảng dạy, NCKH của đội ngũ trí thức GDĐH.
- Năm 2010, Luận án tiến sĩ: “Đánh giá giảng viên đại học theo hướng
chuẩn hoá trong giai đoạn hiện nay” của Trần Xuân Bách [15] được bảo vệ
thành công. Ở góc độ quản lý giáo dục, tác giả có thể kế thừa, tiếp thu kết quả
của công trình nghiên cứu trên một số bình diện như quan niệm về giảng viên
đại học, cơ sở lý luận về các phương thức đánh giá giảng viên. Tác giả đã xác
định, đánh giá giảng viên là quá trình mô tả, thu thập, xử lí, phân tích một
cách toàn diện hệ thống những thông tin về người giảng viên, để rồi phán
đoán giá trị lao động thực thụ của họ.
- PGS, TS Trần Quốc Toản (chủ biên): “Phát triển giáo dục trong điều
kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” [145]. Giá trị nổi bật của công
trình nghiên cứu là những luận cứ khoa học về mối quan hệ giữa giáo dục -
đào tạo với thị trường trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn, đặc biệt là
những khảo sát, đánh giá, luận giải về chất lượng nguồn nhân lực, sự đáp ứng
của giáo dục đào tạo nói chung, GDĐH nói riêng đối với nhu cầu xã hội trước
tác động của kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế.
16
Ngoài ra còn nhiều bài viết độc lập của các nhà khoa học nghiên cứu
về chất lượng GDĐH nói chung, chất lượng lao động của đội ngũ giảng viên
nói riêng, tiêu biểu như:
- Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Phương Nga: “Nghiên cứu xây dựng bộ
ở nước ta hiện nay, đó là đội ngũ nhà giáo, người học, cơ sở vật chất kỹ thuật
và công tác quản lý.
1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
Xưa nay, vấn đề trí thức vốn dĩ đã trở thành đối tượng nghiên cứu quan
trọng của nhiều nhà khoa học. Những phương diện khác nhau của vấn đề này
như: khái niệm trí thức; vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của trí thức; thực
trạng về số lượng, cơ cấu, chất lượng cùng hàng loạt các vấn đề về phương
hướng, giải pháp phát triển đội ngũ trí thức đã được luận giải ở nhiều giác độ,
tiêu biểu là:
- Thẩm Vinh Hoa - Ngô Quốc Diệu (chủ biên): “Tôn trọng trí thức, tôn
trọng nhân tài kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước” do Nguyễn Như Diệm
dịch [71]. Công trình này đã đề cập đến nhiều nội dung quan trọng trong tư
tưởng của Đặng Tiểu Bình về trí thức. Những quan điểm có ý nghĩa chỉ dẫn
của Đặng Tiểu Bình đối với vấn đề nhân tài, đường lối tổ chức, xây dựng,
phát triển đội ngũ trí thức, nhất là những tư tưởng về công tác bồi dưỡng, đào
tạo, sử dụng, đãi ngộ nhân tài được tác giả Thẩm Vinh Hoa và Ngô Quốc
Diệu luận giải kỹ lưỡng. Từ đó, cuốn sách cũng bước đầu làm rõ sự vận dụng
tư tưởng Đặng Tiểu Bình trong chiến lược xây dựng nhân tài, phát triển đội
ngũ trí thức ở Trung quốc những năm qua.
Ở hầu hết các quốc gia, trí thức GDĐH được nhà nước rất coi trọng. Do
vậy, nhiều chủ thể nghiên cứu thường nhận thấy sự cần thiết phải quan tâm
đến trí thức nhà giáo, nhất là đội ngũ giảng viên.
- J.Vial - nhà giáo dục Pháp, trong cuốn “Lịch sử và Thời sự về các
phương pháp sư phạm” [156] đã kiến tạo một quan điểm mới về đặc điểm lao
động của trí thức nhà giáo ở bậc đại học. J.Vial khẳng định: Người dạy không
chỉ làm tốt chức năng kép của mình là biết cách truyền đạt cái người học cần
18
mà còn biết tổ chức quá trình nhận thức cho người học có thể tích cực, chủ
động chiếm lĩnh nội dung học. Để thực hiện vai trò “trọng tài, cố vấn” trong
khiển và hỗ trợ các học sinh theo mục tiêu” [163, tr.537]. Thông qua tác
phẩm của mình, Franz Emanuel Weinert cũng đề cập đến hiệu quả và chất
lượng giảng dạy - một phương diện quan trọng cấu thành lao động của trí
thức GDĐH.
- UNESCO đã tổ chức những hoạt động tập trung trí tuệ nhân loại suy
nghĩ về một nền giáo dục cho thế kỷ XXI mà đỉnh cao là “Higher Education
in the Twenty - First Century - vision and Action” [178]. Hội nghị đã thông
qua Tuyên ngôn về GDĐH với việc xác định sứ mạng cốt lõi của hệ thống
GDĐH và chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ giảng viên trong thế kỷ XXI.
Tuyên ngôn xác định, chất lượng trong GDĐH là một khái niệm đa chiều, bao
trùm mọi chức năng và hoạt động của nó: giảng dạy, chương trình đào tạo,
NCKH, đội ngũ giảng viên và sinh viên, cấu trúc hạ tầng và môi trường học
thuật, trong đó, nhân tố người dạy giữ vai trò quyết định nhất. Tuyên ngôn
cũng chỉ rõ cần có một chính sách mạnh mẽ về phát triển đội ngũ sao cho có
thể nâng cao kỹ năng của họ, khuyến khích khả năng sáng tạo, phát huy tính
tích cực, chủ động trong nghiên cứu và giảng dạy.
- J.M.Denomme và Medeleine Roy với cuốn sách “Tiến tới một phương
pháp sư phạm tương tác” [39]. Hai tác giả cho rằng, trong quá trình dạy học,
phương pháp sư phạm tích cực được coi như toàn bộ các can thiệp của người
dạy với mục đích giúp người học thực hiện quá trình chiếm lĩnh tri thức hay
kỹ năng, từ đó học cách tìm kiếm và xử lí thông tin, tạo cho mình năng lực
tương ứng. Điều khẳng định này cho thấy người học vừa là đối tượng, vừa là
mục đích lao động của nhà giáo; kết quả lao động của trí thức GDĐH trong
hoạt động giảng dạy phải được biểu hiện ở việc hình thành phương pháp tự
học, tự nghiên cứu của sinh viên dưới vai trò hướng dẫn của trí thức nhà giáo.
Tổng hợp những công trình nghiên cứu nêu trên đã xác định một quan
điểm mới về lao động của trí thức nhà giáo bậc đại học. Theo đó, chất lượng
GDĐH cũng được hình dung là một khái niệm đa chiều bao trùm mọi chức
năng và hoạt động của nhà trường.
20