HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
TRN TH LAN
chất l-ợng lao động của đội ngũ trí thức
giáo dục đại học ViệT NAM hiện nay
: Ch ngha xó hi khoa hc
: 62 22 85 01
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: GS.TS hoàng chí bảo
H NI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa
học của riêng tôi. Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong
luận án là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng.
Tác giả luận án
Trần Thị Lan
MỤC LỤC
Trang
1
MỞ ĐẦU
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
3.1. Thực trạng chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học
Việt Nam hiện nay
3.2. Một số vấn đề đặt ra đối với chất lượng lao động của đội ngũ trí
thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay
69
69
94
Chƣơng 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
LAO ĐỘNG CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
VIỆT NAM HIỆN NAY
4.1. Quan điểm cơ bản về nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ
trí thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay
4.2. Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng lao động của đội
ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
114
114
125
148
149
151
Giáo sư
NCKH
:
Nghiên cứu khoa học
Nxb
:
Nhà xuất bản
PGS
:
Phó giáo sư
TB
:
Trung bình
Ths
:
Biểu đồ 3.1: Cơ cấu trình độ của đội ngũ trí thức giáo dục đại học
Việt Nam năm 2012 - 2013
71
Biểu đồ 3.2: Cơ cấu chức danh phân theo ngành của trí thức giáo dục
đại học Việt Nam ở một số trường đại học tiêu biểu năm
2010 - 2011
101
Biểu đồ 3.3: Cơ cấu chức danh GS, PGS theo vùng, miền của trí thức
giáo dục đại học Việt Nam ở một số trường đại học tiêu
biểu năm 2010 - 2011
102
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức và
cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã không những xác định vị trí của con
người ở hàng đầu trong lực lượng sản xuất mà còn định hình ngày càng rõ
hơn vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn lực trí tuệ đối với việc phát triển
nội lực của mỗi quốc gia, dân tộc.
Việt Nam đang ở thời kỳ bước ngoặt của phát triển với việc đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bối cảnh của thế giới và thời đại đang mở ra
những triển vọng, điều kiện thuận lợi cho Việt Nam đồng thời cũng đặt nước
ta trước nhiều nguy cơ, thách thức nghiệt ngã trên tiến trình hội nhập, trong
thường trực, hàng đầu của các chủ thể lãnh đạo, quản lý cũng như toàn xã hội
trong quá trình thực hiện cuộc cách mạng về giáo dục. Mặt khác, đó cũng là điều
kiện đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển bền vững của cơ sở đào tạo đại học Việt
Nam trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập quốc tế, trước những kỳ vọng của xã
hội vào sự cách tân từ các chủ thể giáo dục, từ chương trình, phương pháp giáo
dục đại học mà mục đích cao nhất là cải biến chất lượng nguồn nhân lực được
đào tạo. Đây là đòi hỏi bức xúc của xã hội, là công việc khó khăn, phức tạp, tốn
kém nhiều công sức, thời gian, tâm lực, trí lực và tiền bạc.
Trên một bình diện cao hơn, thuộc về trách nhiệm, lương tâm xã hội,
quan tâm đến chất lượng lao động của trí thức GDĐH là chăm lo cho sự
nghiệp đào tạo nguồn lực trí tuệ của dân tộc. Để đảm bảo độ tin cậy cho chiến
lược phát triển, bền vững của quốc gia cần thiết phải tìm ra khâu đột phá từ
tiềm lực của con người trên cái giá đỡ vật chất của sự phát triển kinh tế. Cơ sở
để tạo nên nguồn lực trí tuệ không thể nằm ngoài GDĐH mà mấu chốt là ở
chất lượng lao động của đội ngũ trí thức nhà giáo.
Chỉ với cái nhìn biện chứng như vậy mới thấy hết tầm quan trọng và
tính bức thiết vì sao phải đổi mới GDĐH, bắt đầu từ những cải biến trong chất
lượng lao động của đội ngũ cán bộ quản lý cũng như các thế hệ giảng viên đại
học. Luận giải, khảo sát vấn đề này để tìm giải pháp phát triển không chỉ có ý
nghĩa lý luận mà còn góp phần thực hiện chủ trương kiểm định chất lượng các
3
trường đại học theo hệ tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm “đổi mới
căn bản, toàn diện nền giáo dục” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8
khóa XI của Đảng.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả chọn vấn đề “Chất lượng lao
động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay” làm đề tài
luận án tiến sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Tuy nhiên, luận án chỉ giới hạn nghiên cứu trên ba phương diện chủ yếu:
giảng dạy; NCKH; quản lý giáo dục của đội ngũ trí thức GDĐH ở các trường
Đại học công lập của Việt Nam.
- Về thời gian, luận án khảo sát thực trạng chất lượng lao động của đội
ngũ trí thức GDĐH Việt Nam giai đoạn 2000 - 2013 và xây dựng giải pháp
nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ đó cho những năm tới.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước về trí thức, trí thức giáo dục, trí thức GDĐH; về vấn đề lao động
và động lực lao động nói chung.
Luận án còn kế thừa hợp lý những kết quả nghiên cứu có liên quan đến
luận án của các tác giả trong và ngoài nước.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đồng thời chú trọng sử dụng
phương pháp logic - lịch sử cùng các phương pháp có tính liên ngành như phân
tích, tổng hợp, điều tra xã hội học, so sánh, khái quát hoá.
5. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Luận án nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề chất lượng lao động của
trí thức GDĐH dưới góc độ triết học - chính trị - xã hội - giáo dục.
- Luận án xây dựng tiêu chí đánh giá đối với chất lượng lao động của
trí thức GDĐH trong hoạt động nghề nghiệp.
- Luận án đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng
lao động của đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam trong điều kiện của đổi mới,
5
của đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, trước tác động của xu thế hội nhập, toàn cầu
thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [42]. Công trình đã có
những luận giải xác đáng về vai trò của trí thức trong phát triển lực lượng sản
xuất, trong sáng tạo văn hóa, phát huy bản sắc dân tộc, trong lãnh đạo, quản lý
và điều hành sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Với thái độ tôn trọng trí thức,
GS, TS Phạm Tất Dong khẳng định, trong nền kinh tế thị trường, “sản phẩm
lao động của trí thức là một loại hàng hóa đặc biệt, nó có thể mất đi hoặc bị
chiếm đoạt mà không ai biết, song nó cũng có thể được lưu thông và trả giá
xứng đáng như bao thứ hàng quý hiếm khác” [42, tr.330]. Đây chính là khởi
nguồn cho sự đổi mới tư duy khi xem tiền lương và các loại phụ cấp của trí
thức như những chính sách đầu tư có lợi nhất để mua lại “chất xám” - một
loại sản phẩm đặc biệt trong nền kinh tế thị trường.
- TS Nguyễn Đắc Hưng: “Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển
đất nước” [72] và “Trí thức Việt Nam tiến cùng thời đại” [73]. Hai cuốn
sách làm rõ quan niệm về trí thức; vị trí, vai trò của trí thức; những phương
hướng chủ yếu để xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức ở nước ta đáp ứng
7
yêu cầu của thời đại. Trên cơ sở khẳng định nội hàm rất rộng của khái niệm
trí thức, tác giả đã chỉ rõ: trí thức là những người không chỉ có trình độ học
vấn cao mà điều quan trọng nhất là họ thực sự lao động bằng trí tuệ có tính
sáng tạo, có những cống hiến nhất định hữu ích cho xã hội và phải được xã
hội kiểm định chất lượng thông qua hoạt động thực tiễn [72, tr.16-17]. Đây
là sự đổi mới tư duy về trí thức, từ chỗ coi trọng trình độ chuyên môn được
đào tạo đến chỗ thừa nhận và đòi hỏi năng lực lao động thực tế thông qua sự
kiểm định khách quan của xã hội.
- PGS, TS Nguyễn An Ninh: “Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học
xã hội và nhân văn trong công cuộc đổi mới đất nước” [109]. Từ những kiến
giải về tiềm năng của trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn hiện
nay, tác giả đã đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm phát huy tiềm năng của
- TS Nguyễn Công Trí: “Trí thức Việt Nam trong phát triển kinh tế tri
thức” [146]. Từ cách tiếp cận tổng hợp, luận án chỉ ra những đặc trưng, tiêu
chí cơ bản để xác định trí thức, vai trò của đội ngũ này trong điều kiện phát
triển kinh tế tri thức. Luận án xác định, trí thức là người lao động trí óc và
thường có trình độ học vấn cao, được đào tạo hoặc tự đào tạo. Tuy nhiên, “giá trị
quan trọng nhất của người trí thức chân chính đó là chân lý và lẽ phải; trí thức là
người tự tin và ngay thẳng, có lòng tự trọng, khả năng hành xử đúng mực và
thích ứng cao với các biến đổi của môi trường tự nhiên, xã hội” [146, tr.30].
Bốn là, những công trình nghiên cứu tiêu biểu về trí thức được công
bố trên các tạp chí trong những năm gần đây:
Bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, yêu cầu đổi mới tư
duy về vấn đề trí thức đã được đặt ra trong mối quan tâm của không ít nhà
khoa học. Tiếp tục làm rõ bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác Lênin và sự nhận thức đúng đắn của Đảng ta trong quan điểm về trí thức là
hướng nghiên cứu lý luận quan trọng. Một số bài báo đăng trên các tạp chí
trong thời gian qua đã đề cập tới vấn đề này, tiêu biểu như: “Đội ngũ trí thức
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”của PGS, TS Phan
Thanh Khôi [78]; “Những bài học từ quan điểm của Lênin về trí thức” của
PGS, TS Phan Thanh Khôi [79]; “Suy ngẫm và nhận thức về vấn đề trí thức”,
Tạp chí Lý luận chính trị, 2008, số 9 của PGS, TS Nguyễn Đức Bách [17].
Ngoài ra cần phải nhấn mạnh rằng, trong những năm gần đây, trên đà phát
triển cả về số lượng, chất lượng của trí thức Việt Nam, những khía cạnh mới
về chức năng, nhiệm vụ, chính sách tuyển dụng, đãi ngộ, giải pháp phát huy
10
vai trò của đội ngũ trí thức nhằm đáp ứng đòi hỏi, yêu cầu của quá trình CNH,
HĐH, hội nhập, phát triển kinh tế tri thức cũng đã được đặt ra và nghiên cứu
một cách nghiêm túc. Có thể kể đến một số bài viết có giá trị khoa học như:
“Mấy vấn đề cần đổi mới tạo động lực và điều kiện để trí thức nước ta phát
huy tài năng trí tuệ” của Nguyễn Đức Bách [16]; “Tổng quan về đội ngũ trí
nguồn nhân lực ở nước ta, tác giả đã đi sâu phân tích vai trò của trí thức
GDĐH, qua đó luận chứng một số giải pháp xây dựng, phát triển nguồn nhân
lực GDĐH trước yêu cầu hội nhập quốc tế.
- PGS, TS Nguyễn Văn Sơn: “Trí thức Giáo dục Đại học Việt Nam thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [126]. Theo tác giả, đội ngũ trí
thức GDĐH Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản: là lực lượng trực tiếp tham
gia vào quá trình đào tạo ở bậc cao nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân; đối
tượng tác động chủ yếu của người trí thức GDĐH là những sinh viên, học
viên cao học và nghiên cứu sinh; mục đích lao động nhằm đào tạo ra những
người lao động sáng tạo, có phẩm chất đạo đức tốt; trí thức GDĐH vừa là nhà
giáo vừa là nhà khoa học, nhà chính trị. Từ việc đánh giá thực trạng về cơ
cấu, chất lượng của trí thức GDĐH, tác giả đưa ra phương hướng, giải pháp
cơ bản để phát triển đội ngũ trí thức GDĐH đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân
lực phục vụ cho quá trình CNH, HĐH đất nước.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Đổi mới quản lý hệ thống GDĐH giai đoạn
2010 - 2012” [26]. Công trình nghiên cứu đã giới thiệu Nghị quyết của Ban
cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới quản lý GDĐH giai đoạn
2010 - 2012. Nghị quyết đã nghiêm túc chỉ ra hạn chế trong chất lượng
GDĐH và khẳng định sự cần thiết phải đẩy mạnh việc đánh giá và kiểm định
chất lượng GDĐH; hình thành ở các cơ sở GDĐH tổ chức chuyên trách về
hướng dẫn, bảo vệ và khai thác sở hữu trí tuệ của giảng viên; tôn vinh và tạo
điều kiện ngày càng tốt hơn để nhà giáo ở bậc đại học phát huy tính tích cực
trong NCKH. Có thể khẳng định, đây là cơ sở pháp lý quan trọng có ý nghĩa
định hướng cho tác giả luận án trong việc xây dựng giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng lao động của trí thức GDĐH Việt Nam hiện nay.
Xuất phát từ quan điểm coi trí thức GDĐH là nhân tố quyết định nhất
đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung
12
13
- Xác định tính chất lao động của trí thức GDĐH, PGS, TS Nguyễn Thị
Mỹ Lộc và TS Đặng Xuân Hải với chuyên đề “Người dạy ở bậc đại học và
giao tiếp sư phạm”, “Phương pháp dạy học ở bậc đại học” trong tài liệu bồi
dưỡng “Giáo dục học đại học” đã đưa ra quan niệm: “Ở đại học, sự sáng tạo
sư phạm đi liền với sự sáng tạo khoa học” [53, tr.217]. Do đó, hoạt động
giảng dạy đại học được thực hiện bởi những người gắn bó với NCKH. Ngoài
những phẩm chất và năng lực của các chuyên gia, họ phải có hai phẩm chất
năng lực có ý nghĩa nhất đối với lao động chuyên môn là năng lực sư phạm
và năng lực NCKH. Rèn luyện kỹ năng của một nhà khoa học và nhà sư phạm
tâm huyết là yêu cầu tất yếu để nâng cao chất lượng nghề nghiệp của đội ngũ
giảng viên đại học.
- PGS, TS Phạm Hồng Quang - tác giả cuốn sách “Môi trường giáo dục”
[119] đưa ra quan niệm về đặc điểm lao động của trí thức GDĐH. Tác giả
khẳng định, đối tượng lao động sư phạm là nhân cách học sinh đang phát
triển; để tác động đến đối tượng này, người giảng viên cần dùng công cụ là
chính nhân cách của mình; chức năng lao động sư phạm là tái sản xuất sức lao
động xã hội; lao động của người giảng viên là lao động trí óc chuyên nghiệp;
nó đòi hỏi ở người giảng viên tính khoa học, nghệ thuật và sự sáng tạo. Tác
giả cho rằng, đặc điểm lao động sư phạm cũng qui định những yêu cầu cơ bản
về nhân cách người giảng viên nên nhà giáo dục phải có năng lực sư phạm và
tổ hợp các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp như: thế giới quan khoa học, lý
tưởng đào tạo thế hệ trẻ và lòng yêu người, yêu nghề.
- Khi luận giải “Bản chất của hoạt động sáng tạo trong nghiên cứu
khoa học” [9], GS, TS Hoàng Chí Bảo nhấn mạnh: GDĐH gắn liền giảng dạy
với NCKH và phục vụ sản xuất. Đội ngũ nhà giáo và các nhà khoa học có
quan hệ hợp tác, gắn bó với nhau thường xuyên, lâu dài. Hình thức lao động
của họ có nhiều nét tương đồng về bản chất. Đó là sự phát hiện, sự sinh thành
động giảng dạy đại học và NCKH của giảng viên trong Đại học Quốc gia”
[37]. Giá trị thực tiễn của đề tài thể hiện ở những khuyến nghị đổi mới các
tiêu chí đánh giá hoạt động giảng dạy và NCKH của giảng viên có tính đến xu
thế hội nhập toàn cầu trong GDĐH. Đây là nghiên cứu về lĩnh vực đo lường
và đánh giá hiệu quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ nhà giáo do
các chuyên gia, cán bộ quản lý giáo dục thực hiện nên kết quả nghiên cứu có
15
ý nghĩa quan trọng trong việc gợi mở cách tiếp cận theo hướng đánh giá tổng
thể chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH cho tác giả luận án.
- Năm 2008, Phòng Phát triển con người Khu vực Đông Á và Thái Bình
Dương của Ngân hàng thế giới đã công bố Báo cáo“GDĐH và kỹ năng cho
tăng trưởng” [113]. Báo cáo tập trung nghiên cứu lĩnh vực GDĐH trong mối
liên hệ với trị trường lao động ở Việt Nam. Nhiều nội dung quan trọng về chất
lượng của GDĐH đã được luận giải, khảo sát và chứng minh. Đáng chú ý là
vấn đề hiệu quả đào tạo; chương trình học, phương pháp sư phạm; chất lượng
đội ngũ giảng dạy; năng lực nghiên cứu của giảng viên; sự hài lòng của sinh
viên; khả năng, mức độ cung cấp thỏa đáng các kỹ năng cần thiết của GDĐH
Việt Nam cho nguồn nhân lực, cho gia tăng năng suất lao động và thúc đẩy
năng lực sáng tạo của người lao động trước những yêu cầu, đòi hỏi ngày càng
cao từ thị trường trong nước, khu vực và quốc tế. Kết quả nghiên cứu của Báo
cáo có ý nghĩa quan trọng đối với tác giả luận án trong việc kế thừa những số
liệu minh chứng về hiệu quả giảng dạy, NCKH của đội ngũ trí thức GDĐH.
- Năm 2010, Luận án tiến sĩ: “Đánh giá giảng viên đại học theo hướng
chuẩn hoá trong giai đoạn hiện nay” của Trần Xuân Bách [15] được bảo vệ
thành công. Ở góc độ quản lý giáo dục, tác giả có thể kế thừa, tiếp thu kết quả
của công trình nghiên cứu trên một số bình diện như quan niệm về giảng viên
đại học, cơ sở lý luận về các phương thức đánh giá giảng viên. Tác giả đã xác
định, đánh giá giảng viên là quá trình mô tả, thu thập, xử lí, phân tích một