Chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay - Pdf 41

Header Page 1 of 166.
HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

TRN TH LAN

chất lượng lao động của đội ngũ trí thức
giáo dục đại học ViệT NAM hiện nay
Chuyờn ngnh

: Ch ngha xó hi khoa hc

Mó s

: 62 22 85 01

LUN N TIN S TRIT HC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS hoàng chí bảo

H NI - 2014

Footer Page 1 of 166.


Header Page 2 of 166.

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa
học của riêng tôi. Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong
luận án là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng.

2.1. Quan niệm về trí thức, trí thức giáo dục đại học và lao động của
trí thức giáo dục đại học
2.2. Tính đặc thù của lao động trí thức giáo dục đại học Việt Nam
trong bối cảnh hiện nay
2.3. Quan niệm về chất lượng lao động và chất lượng lao động của đội
ngũ trí thức giáo dục đại học
2.4. Tính tất yếu nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ trí thức
giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

23
23
35
48
59

Chương 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG CỦA ĐỘI NGŨ
TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM HIỆN NAY
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3.1. Thực trạng chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học
Việt Nam hiện nay
3.2. Một số vấn đề đặt ra đối với chất lượng lao động của đội ngũ trí
thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay

69
69
94

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
LAO ĐỘNG CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

CNH, HĐH

:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ĐH

:

Đại học

GDĐH

:

Giáo dục đại học

GS

:

Giáo sư

NCKH

:

Nghiên cứu khoa học


Footer Page 4 of 166.


Header Page 5 of 166.

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
Trang
Bảng 3.1: Đánh giá của sinh viên về chất lượng một số hoạt động
kiêm nhiệm của đội ngũ trí thức GDĐH
Bảng 3.2: Mức độ hài lòng của trí thức GDĐH đối với kết quả lao
động của bản thân
Bảng 3.3: Mức độ hài lòng của sinh viên về một số lĩnh vực hoạt
động của đội ngũ trí thức GDĐH
Bảng 3.4: Các kỹ năng và phẩm chất cá nhân, phẩm chất chính trị,
đạo đức và năng lực sinh viên đạt được trong thời gian học
tập tại trường đại học

80
85
86

89

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Trang
Biểu đồ 3.1: Cơ cấu trình độ của đội ngũ trí thức giáo dục đại học
Việt Nam năm 2012 - 2013

71


Việt Nam có trọng trách to lớn trong quá trình tạo lập, phát triển tiềm lực trí
tuệ cho dân tộc. Điều này lý giải tại sao giờ đây, khắc phục điểm nghẽn về
nguồn nhân lực trình độ cao thông qua việc cải biến chất lượng lao động của
đội ngũ trí thức GDĐH được đặt ra như một giải pháp chiến lược cho sự phát
triển, chấn hưng dân tộc mà Việt Nam phải hết sức quan tâm. Đó là kết quả
trực tiếp của sự gia tăng nguồn lực trí tuệ được Việt Nam cũng như các quốc
gia đặc biệt chú trọng trước tính cạnh tranh trong nền kinh tế dựa trên sức
mạnh của tri thức, khoa học và công nghệ.
Vấn đề hệ trọng này còn được cắt nghĩa từ chính những yếu kém kéo
dài, chậm được khắc phục trong chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của
GDĐH ở nước ta. Càng đi sâu vào hội nhập, chất lượng đào tạo nguồn nhân
lực ở Việt Nam càng bị chi phối bởi qui luật cạnh tranh và những tác động
tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường. Đáng lo ngại là tình trạng bất cập về
trình độ, năng lực và những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, lao
động hình thức, thiếu tận tâm, tận lực của không ít trí thức nhà giáo trước trọng
trách vinh quang của sự nghiệp “trồng người”. Đặc biệt là những thách thức

Footer Page 6 of 166.


Header Page 7 of 166.
2
được đặt ra từ chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo đại học chưa đáp ứng tốt
yêu cầu thị trường lao động trong nước và quốc tế. Điều đó xa lạ với bản chất
lao động khoa học sư phạm sáng tạo và phẩm chất cao qúi của nhà giáo, nếu
không kịp thời khắc phục chắc chắn sẽ để lại “di chứng” cho nguồn lực con
người không chỉ hiện hữu ở thực tại mà còn trong tương lai.
Để vượt qua lực cản và thách thức này cần đến những giải pháp đồng
bộ, nhất là những giải pháp mang tính đột phá nhằm cải biến hiện trạng đã nêu.
Chính yêu cầu tìm kiếm chìa khoá cho sự phát triển nguồn nhân lực đã đưa vấn

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả chọn vấn đề “Chất lượng lao
động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay” làm đề tài
luận án tiến sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án
Xác định một quan niệm có tính hệ thống về chất lượng lao động của
trí thức GDĐH để xây dựng luận cứ khoa học đánh giá thực trạng vấn đề này
ở Việt Nam, qua đó đề ra những giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao chất
lượng hoạt động nghề nghiệp của đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam trong
những thập kỷ đầu thế kỷ XXI.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Để đạt được mục đích nêu trên, ngoài việc tổng quan tình hình nghiên cứu
có liên quan đến vấn đề trí thức, trí thức GDĐH, luận án tập trung giải quyết
những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về chất lượng lao động của trí thức GDĐH Việt
Nam từ quan niệm chung đến việc chỉ ra những đặc điểm lao động, tiêu chí
đánh giá và tính tất yếu nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ trí thức
GDĐH ở nước ta hiện nay.
- Đánh giá thực trạng chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH
Việt Nam và những vấn đề đặt ra.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng lao động
của đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, phát
triển kinh tế tri thức và đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về chất lượng lao động của đội ngũ trí thức
GDĐH ở Việt Nam trong điều kiện của đổi mới, của đẩy mạnh CNH, HĐH

Footer Page 8 of 166.


trí thức GDĐH trong hoạt động nghề nghiệp.
- Luận án đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng
lao động của đội ngũ trí thức GDĐH Việt Nam trong điều kiện của đổi mới,

Footer Page 9 of 166.


Header Page 10 of 166.
5
của đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, trước tác động của xu thế hội nhập, toàn cầu
hóa và phát triển kinh tế tri thức.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần phát triển hướng nghiên cứu mới về lý luận và
thực tiễn đối với vấn đề chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH Việt
Nam từ sự kết hợp cách tiếp cận triết học - chính trị - xã hội và giáo dục.
- Luận án góp phần củng cố vững chắc luận cứ khoa học làm cơ sở cho
việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác trí
thức GDĐH trong điều kiện mới.
- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy
những chuyên đề liên quan đến trí thức, trí thức GDĐH.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận án gồm 4 chương, 11 tiết.

Footer Page 10 of 166.


Header Page 11 of 166.
6
Chương 1



Header Page 12 of 166.
7
yêu cầu của thời đại. Trên cơ sở khẳng định nội hàm rất rộng của khái niệm
trí thức, tác giả đã chỉ rõ: trí thức là những người không chỉ có trình độ học
vấn cao mà điều quan trọng nhất là họ thực sự lao động bằng trí tuệ có tính
sáng tạo, có những cống hiến nhất định hữu ích cho xã hội và phải được xã
hội kiểm định chất lượng thông qua hoạt động thực tiễn [72, tr.16-17]. Đây
là sự đổi mới tư duy về trí thức, từ chỗ coi trọng trình độ chuyên môn được
đào tạo đến chỗ thừa nhận và đòi hỏi năng lực lao động thực tế thông qua sự
kiểm định khách quan của xã hội.
- PGS, TS Nguyễn An Ninh: “Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học
xã hội và nhân văn trong công cuộc đổi mới đất nước” [109]. Từ những kiến
giải về tiềm năng của trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn hiện
nay, tác giả đã đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm phát huy tiềm năng của
đội ngũ này góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
- GS, TS Nguyễn Văn Khánh - chủ biên của hai công trình: “Xây dựng
và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước”
[74]; “Nguồn lực trí tuệ Việt Nam - Lịch sử, hiện trạng và triển vọng” [75].
Giá trị của hai công trình nghiên cứu thể hiện tập trung ở những luận chứng
khoa học về vấn đề trí thức, nguồn lực trí tuệ với cách tiếp cận liên ngành. Đội
ngũ trí thức được tác giả quan niệm là tầng lớp tinh hoa của nguồn lực trí tuệ
Việt Nam. Trên cơ sở khảo sát, đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực này,
tác giả đã đưa ra hệ thống giải pháp có ý nghĩa thiết thực đối với việc xây dựng
và phát huy vai trò của nguồn lực trí tuệ đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của sự
nghiệp chấn hưng đất nước.
- PGS, TS Nguyễn Khánh Bật, Th.s Trần Thị Huyền (đồng chủ biên),
“Xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH theo tư tưởng Hồ Chí
Minh” [18]. Đây là công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu về trí thức

Bốn là, những công trình nghiên cứu tiêu biểu về trí thức được công
bố trên các tạp chí trong những năm gần đây:
Bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, yêu cầu đổi mới tư
duy về vấn đề trí thức đã được đặt ra trong mối quan tâm của không ít nhà
khoa học. Tiếp tục làm rõ bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác Lênin và sự nhận thức đúng đắn của Đảng ta trong quan điểm về trí thức là
hướng nghiên cứu lý luận quan trọng. Một số bài báo đăng trên các tạp chí
trong thời gian qua đã đề cập tới vấn đề này, tiêu biểu như: “Đội ngũ trí thức
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”của PGS, TS Phan
Thanh Khôi [78]; “Những bài học từ quan điểm của Lênin về trí thức” của
PGS, TS Phan Thanh Khôi [79]; “Suy ngẫm và nhận thức về vấn đề trí thức”,
Tạp chí Lý luận chính trị, 2008, số 9 của PGS, TS Nguyễn Đức Bách [17].
Ngoài ra cần phải nhấn mạnh rằng, trong những năm gần đây, trên đà phát
triển cả về số lượng, chất lượng của trí thức Việt Nam, những khía cạnh mới
về chức năng, nhiệm vụ, chính sách tuyển dụng, đãi ngộ, giải pháp phát huy

Footer Page 14 of 166.


Header Page 15 of 166.
10
vai trò của đội ngũ trí thức nhằm đáp ứng đòi hỏi, yêu cầu của quá trình CNH,
HĐH, hội nhập, phát triển kinh tế tri thức cũng đã được đặt ra và nghiên cứu
một cách nghiêm túc. Có thể kể đến một số bài viết có giá trị khoa học như:
“Mấy vấn đề cần đổi mới tạo động lực và điều kiện để trí thức nước ta phát
huy tài năng trí tuệ” của Nguyễn Đức Bách [16]; “Tổng quan về đội ngũ trí
thức nước ta hiện nay” [81] và “Nhà khoa học và sự sáng tạo trong khoa học
xã hội” [82] của PGS, TS Phan Thanh Khôi.
Những công trình nghiên cứu nêu trên đã cung cấp cơ sở lý luận, thực
tiễn quan trọng để tác giả luận chứng về trí thức, về vai trò của đội ngũ trí
thức trong điều kiện đổi mới, hội nhập, phát triển kinh tế tri thức và CNH,

lực GDĐH trước yêu cầu hội nhập quốc tế.
- PGS, TS Nguyễn Văn Sơn: “Trí thức Giáo dục Đại học Việt Nam thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [126]. Theo tác giả, đội ngũ trí
thức GDĐH Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản: là lực lượng trực tiếp tham
gia vào quá trình đào tạo ở bậc cao nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân; đối
tượng tác động chủ yếu của người trí thức GDĐH là những sinh viên, học
viên cao học và nghiên cứu sinh; mục đích lao động nhằm đào tạo ra những
người lao động sáng tạo, có phẩm chất đạo đức tốt; trí thức GDĐH vừa là nhà
giáo vừa là nhà khoa học, nhà chính trị. Từ việc đánh giá thực trạng về cơ
cấu, chất lượng của trí thức GDĐH, tác giả đưa ra phương hướng, giải pháp
cơ bản để phát triển đội ngũ trí thức GDĐH đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân
lực phục vụ cho quá trình CNH, HĐH đất nước.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Đổi mới quản lý hệ thống GDĐH giai đoạn
2010 - 2012” [26]. Công trình nghiên cứu đã giới thiệu Nghị quyết của Ban
cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới quản lý GDĐH giai đoạn
2010 - 2012. Nghị quyết đã nghiêm túc chỉ ra hạn chế trong chất lượng
GDĐH và khẳng định sự cần thiết phải đẩy mạnh việc đánh giá và kiểm định
chất lượng GDĐH; hình thành ở các cơ sở GDĐH tổ chức chuyên trách về
hướng dẫn, bảo vệ và khai thác sở hữu trí tuệ của giảng viên; tôn vinh và tạo
điều kiện ngày càng tốt hơn để nhà giáo ở bậc đại học phát huy tính tích cực
trong NCKH. Có thể khẳng định, đây là cơ sở pháp lý quan trọng có ý nghĩa
định hướng cho tác giả luận án trong việc xây dựng giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng lao động của trí thức GDĐH Việt Nam hiện nay.
Xuất phát từ quan điểm coi trí thức GDĐH là nhân tố quyết định nhất
đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung

Footer Page 16 of 166.


Header Page 17 of 166.

óc, có cả một số yếu tố độc hại và những căng thẳng đặc thù.

Footer Page 17 of 166.


Header Page 18 of 166.
13
- Xác định tính chất lao động của trí thức GDĐH, PGS, TS Nguyễn Thị
Mỹ Lộc và TS Đặng Xuân Hải với chuyên đề “Người dạy ở bậc đại học và
giao tiếp sư phạm”, “Phương pháp dạy học ở bậc đại học” trong tài liệu bồi
dưỡng “Giáo dục học đại học” đã đưa ra quan niệm: “Ở đại học, sự sáng tạo
sư phạm đi liền với sự sáng tạo khoa học” [53, tr.217]. Do đó, hoạt động
giảng dạy đại học được thực hiện bởi những người gắn bó với NCKH. Ngoài
những phẩm chất và năng lực của các chuyên gia, họ phải có hai phẩm chất
năng lực có ý nghĩa nhất đối với lao động chuyên môn là năng lực sư phạm
và năng lực NCKH. Rèn luyện kỹ năng của một nhà khoa học và nhà sư phạm
tâm huyết là yêu cầu tất yếu để nâng cao chất lượng nghề nghiệp của đội ngũ
giảng viên đại học.
- PGS, TS Phạm Hồng Quang - tác giả cuốn sách “Môi trường giáo dục”
[119] đưa ra quan niệm về đặc điểm lao động của trí thức GDĐH. Tác giả
khẳng định, đối tượng lao động sư phạm là nhân cách học sinh đang phát
triển; để tác động đến đối tượng này, người giảng viên cần dùng công cụ là
chính nhân cách của mình; chức năng lao động sư phạm là tái sản xuất sức lao
động xã hội; lao động của người giảng viên là lao động trí óc chuyên nghiệp;
nó đòi hỏi ở người giảng viên tính khoa học, nghệ thuật và sự sáng tạo. Tác
giả cho rằng, đặc điểm lao động sư phạm cũng qui định những yêu cầu cơ bản
về nhân cách người giảng viên nên nhà giáo dục phải có năng lực sư phạm và
tổ hợp các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp như: thế giới quan khoa học, lý
tưởng đào tạo thế hệ trẻ và lòng yêu người, yêu nghề.
- Khi luận giải “Bản chất của hoạt động sáng tạo trong nghiên cứu

xuất kinh doanh” [66, tr.158]. Đạo đức cách mạng của người giảng viên là sự
say mê với công việc giảng dạy, nghiên cứu, trung thực trong khoa học, tìm
tòi sáng tạo, có khát vọng chinh phục đỉnh cao của tri thức.
Ba là, những công trình nghiên cứu bước đầu đề cập đến chất lượng
lao động của trí thức GDĐH:
- Năm 2006, GS, TS Nguyễn Đức Chính và PGS, TS Nguyễn Phương
Nga đã nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt
động giảng dạy đại học và NCKH của giảng viên trong Đại học Quốc gia”
[37]. Giá trị thực tiễn của đề tài thể hiện ở những khuyến nghị đổi mới các
tiêu chí đánh giá hoạt động giảng dạy và NCKH của giảng viên có tính đến xu
thế hội nhập toàn cầu trong GDĐH. Đây là nghiên cứu về lĩnh vực đo lường
và đánh giá hiệu quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ nhà giáo do
các chuyên gia, cán bộ quản lý giáo dục thực hiện nên kết quả nghiên cứu có

Footer Page 19 of 166.


Header Page 20 of 166.
15
ý nghĩa quan trọng trong việc gợi mở cách tiếp cận theo hướng đánh giá tổng
thể chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH cho tác giả luận án.
- Năm 2008, Phòng Phát triển con người Khu vực Đông Á và Thái Bình
Dương của Ngân hàng thế giới đã công bố Báo cáo“GDĐH và kỹ năng cho
tăng trưởng” [113]. Báo cáo tập trung nghiên cứu lĩnh vực GDĐH trong mối
liên hệ với trị trường lao động ở Việt Nam. Nhiều nội dung quan trọng về chất
lượng của GDĐH đã được luận giải, khảo sát và chứng minh. Đáng chú ý là
vấn đề hiệu quả đào tạo; chương trình học, phương pháp sư phạm; chất lượng
đội ngũ giảng dạy; năng lực nghiên cứu của giảng viên; sự hài lòng của sinh
viên; khả năng, mức độ cung cấp thỏa đáng các kỹ năng cần thiết của GDĐH
Việt Nam cho nguồn nhân lực, cho gia tăng năng suất lao động và thúc đẩy

GDĐH, trong đó đặc biệt chú ý tới dấu hiệu về khả năng và mức độ thỏa mãn,
đáp ứng yêu cầu công việc của trí thức nhà giáo.
- Phan Văn Kha: “Ứng dụng mô hình quản lý chất lượng ISO 9000
trong quản lý đào tạo sau đại học ở Việt Nam”. Bài viết được trình bày trong
cuốn sách “Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI - kinh nghiệm của
các quốc gia” [76]. Thông qua việc nghiên cứu những quan niệm khác nhau
về chất lượng trong các lĩnh vực, tác giả đã đưa ra quan niệm về chất lượng
GDĐH là sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và được đánh giá qua mức độ
trùng khớp với mục tiêu định sẵn.
- Tiếp cận và phản ánh vấn đề chất lượng GDĐH còn có thể kể đến bài
viết “Hệ thống đảm bảo chất lượng trong trường đại học theo quan điểm của
mạng lưới các trường đại học khu vực Đông Nam Á” của Tạ Thị Thu Hiền
[70]. Tác giả trực tiếp bàn luận đến qui trình đánh giá, tiêu chí kiểm định chất
lượng đào tạo của các trường đại học, trong đó nhấn mạnh đến lĩnh vực giảng
dạy chuyên môn, NCKH, quản lý đào tạo của giảng viên, chất lượng của yếu tố
đầu vào - sinh viên và chất lượng yếu tố đầu ra - nguồn nhân lực được đào tạo.
- Lê Hữu Ái, Lâm Bá Hòa: “Giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng” [3]. Trong bài viết, hai tác giả
đã tập trung phân tích những bất cập, yếu kém của GDĐH ở nước ta hiện nay,
đặc biệt là khía cạnh chất lượng đào tạo nguồn nhân lực. Trên cơ sở đó, bài
viết luận chứng một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của GDĐH trong phát
triển kinh tế ở nước ta hiện nay.
- Phạm Ngọc Trung: “Chất lượng giáo dục trong các trường đại học ở
nước ta hiện nay” [147]. Với quan niệm, chất lượng GDĐH là “tổng thể hệ

Footer Page 21 of 166.


Header Page 22 of 166.
17
thống của trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, khả năng hội nhập và


Footer Page 22 of 166.


Header Page 23 of 166.
18
mà còn biết tổ chức quá trình nhận thức cho người học có thể tích cực, chủ
động chiếm lĩnh nội dung học. Để thực hiện vai trò “trọng tài, cố vấn” trong
quá trình dạy học, người giảng viên phải có phẩm chất đồng thời của nhà sư
phạm và nhà khoa học. Từ lập luận của J.Vial, có thể xem đây là đặc thù lao
động ở bình diện chức năng, nhiệm vụ nghề nghiệp của trí thức GDĐH.
- J.A Centra với các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: “Tự đánh giá
của giảng viên đại học: Một so sánh với đánh giá của sinh viên” [32]; Xác
định hiệu quả công tác của giáo viên [33]. J.A Centra cho rằng, bất cứ người
giảng viên nào cũng cần thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ chủ yếu
như giảng dạy, NCKH, dịch vụ chuyên môn phục vụ cộng đồng. Vì vậy, cần
tập trung đánh giá chất lượng hay hiệu quả công tác của nhà giáo đại học theo
ba lĩnh vực hoạt động chính đã nêu.
- Ph.N.Gônôbôlin: “Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên” [65].
Khi bàn về tính đặc thù của công tác dạy học, tác giả cho rằng, hai mặt cơ bản
trong hoạt động sư phạm là “giảng dạy và giáo dục. Hai mặt hoạt động sư
phạm này liên hệ chặt chẽ với nhau, thâm nhập vào nhau và là một quá trình
thống nhất. Điều được tác giả nhấn mạnh là sự thay đổi vai trò, nhiệm vụ của
nhà giáo trong thời đại mới gắn liền với sự bùng nổ tri thức: “nhà giáo không
phải là người phán truyền chân lý mà là người lãnh đạo và tổ chức khéo léo
công việc của học sinh ở trên lớp” [65, tr.76]. Để đáp ứng sự biến đổi ấy, bản
thân mỗi nhà giáo phải phát huy tính tích cực giảng dạy như một thuộc tính
quan trọng. Xác định những phẩm chất tâm lý của người giáo viên, tác giả đã
chú ý đặc biệt tới dấu hiệu về khả năng sáng tạo. Đó là đặc trưng phổ biến của
lao động sư phạm mà nếu thiếu nó, giảng dạy chỉ đơn thuần là truyền thụ kiến

pháp sư phạm tương tác” [39]. Hai tác giả cho rằng, trong quá trình dạy học,
phương pháp sư phạm tích cực được coi như toàn bộ các can thiệp của người
dạy với mục đích giúp người học thực hiện quá trình chiếm lĩnh tri thức hay
kỹ năng, từ đó học cách tìm kiếm và xử lí thông tin, tạo cho mình năng lực
tương ứng. Điều khẳng định này cho thấy người học vừa là đối tượng, vừa là
mục đích lao động của nhà giáo; kết quả lao động của trí thức GDĐH trong
hoạt động giảng dạy phải được biểu hiện ở việc hình thành phương pháp tự
học, tự nghiên cứu của sinh viên dưới vai trò hướng dẫn của trí thức nhà giáo.
Tổng hợp những công trình nghiên cứu nêu trên đã xác định một quan
điểm mới về lao động của trí thức nhà giáo bậc đại học. Theo đó, chất lượng
GDĐH cũng được hình dung là một khái niệm đa chiều bao trùm mọi chức
năng và hoạt động của nhà trường.

Footer Page 24 of 166.


Header Page 25 of 166.
20
1.3. NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TIẾP TỤC
LÀM SÁNG TỎ

Có thể nói, một khối lượng tri thức phong phú với nhiều công trình
nghiên cứu công phu về trí thức cho thấy sức hấp dẫn hay tính đặc biệt quan
trọng của vấn đề này đối với sự phát triển của xã hội. Giá trị khoa học của một
khối lượng lớn những tài liệu, công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về trí
thức, trí thức GDĐH đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả luận án nghiên cứu
chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH ở nước ta hiện nay.
Từ tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án, tác giả
xin đưa ra những đánh giá khái quát như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status