tiểu luận '''' hệ thống giáo dục đại học việt nam hiện nay '''' - Pdf 15

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Tiểu luận
" Hệ thống giáo dục đại học Việt
Nam hiện nay "
Mục lục.
A. Phần mở đầu.
B. Phần nội dung.
Chương 1. khái quát tình hình chung.
1. khái niệm giáo dục.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1 Vai trò nhà nước và cơ quan quản lý giáo dục.
2.2 Vai tròcác trường.
2.3 Vai trò gia đình và xã hội.
2.4 Vai trò sinh viên.
3. Những khó khăn.
3.1 Quản lý giáo dục.
3.2 Phương pháp dạy học.
3.3 Đội ngũ giảng viên.
3.4 Sinh viên.
3.5 Trương trình học.
Chương 2. Thực trạng.
1. Thành tựu chung.
1.1 Đầu tư cho giáo dục.
1.2 Du học.
2. Nguyên nhân.
2.1 Cơ sở vật chất.
2.2 Quản lý.
2.3 Phương pháp đào tạo.
2.4 Đội ngũ giảng viên.
2.5 Sinh viên.
2.6 Chương trình học.

không có tri thức và khoa học chúng ta sẽ bị tụt hậu so với các nước khác.
Tuy nhiên khi những lợi ích tốt đẹp ấy vẫn đang còn là ước mơ thì người ta
lại nhìn thấy nhiều hơn những bất cập, tồn tại làm ảnh hưởng xấu tới GD nước
ta hiện nay. Nếu không nói là rơi vào tình trạng bế tắc thì cũng giống như ”cành
củi giữa dòng nước xoáy”. Nếu như trước đó hàng trăm nghìn thí sinh ngày đêm
dùi mài kinh sử với hy vọng được bước vào giảng đường đại học thì ngay sau
đó lại cảm thấy chán trường với cảnh học đại học hiện nay. Có rất nhiều sinh
viên bỏ bê công việc chính là học tập mà cảm thấy hứng thú với các trò chơi
game trên mạng. có những người đủ tỉnh táo thì lại boăn khoăn với câu hỏi: học
xong ra trường mình sẽ làm gì? Câu hỏi đó không chỉ là nỗi lo lắng của các sinh
viên mà còn là lý do để em chọn làm đề tài này. Với mong muốn tất cả chúng
ta(dù là sinh viên hay giảng viên,cơ quan QLGD…)cùng bắt tay tháo gỡ những
thắc mắc đó đưa GD vào thực tế nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất.
Hiện nay đang có một cuộc đối mặt giữa thế hệ GD cũ với thế hệ mới. Có
một sự chứng minh âm thầm rằng, trong giai đoạn cũ, nền GD của chúng ta tốt
hơn, và những quan chức nhà nước cũ ở lứa tuổi cao, vì không thỏa mãn với
phong cách chính trị trong đời sống GD bây giờ, nên kéo nhau ra mở trường
tư.Tất cả những chuyện đó cũng mới chỉ giải quyết một cách tạm bợ những vấn
đề của GD Việt Nam.Lối thoát để giải quyết vấn đề GD Việt Nam, là phải học
những kinh nghiệm mở cửa về kinh tế như cách đây 20 năm. Phải có thái độ của
những người như Tổng bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã thể hiện
với đầu tư nước ngoài trong giai đoạn trước thì đất nước mới đổi mới được.
Vấn đề cần quan tâm với hệ thống GD nước ta hiện nay là rất cấp thiết,
không chỉ xét từng bộ phận mà còn phải xét một cách tổng thể. Do đó ở đây em
chỉ dừng lại tìm hiểu thực trạng GD đại học hiện nay ở nước ta. Dựa trên cơ sở
là các phương pháp luận như tổng hợp,đánh giá,luận chứng và một số phương
pháp khác; trong đó có sử dụng phương pháp luận triết học duy vật biện chứng
để đánh giá. Nội dung bài viết này chia làm ba chương : chương 1,chương 2,
chương 3.
Trước hết em xin chân thành cảm ơn thầy (cô) đã giúp đỡ em hoàn thành

lượng giáo dục đại học hầu như không được đặt ra, trong một thời gian dài, hệ
thống giáo dục đại học Việt Nam đã quan niệm quản lý chất lượng giáo dục đồng
nghĩa với việc kiểm soát đầu vào thông qua các kỳ thi tuyển mang tính cạnh
tranh cao độ. Năm 1986 đánh dấu sự bắt đầu của công cuộc đổi mới giáo dục
đại học tại Việt Nam, trong đó một trong những mục tiêu quan trọng của việc đổi
mới giáo dục đại học tại Việt Nam là tăng cường “khả năng cung ứng” của các
cơ sở giáo dục, mở rộng tối đa cơ hội tiếp cận cho người học. Để đạt mục tiêu
này, trong vòng gần hai thập niên kể từ khi giáo dục đại học Việt Nam bắt đầu
đổi mới, rất nhiều biện pháp đã được thực hiện để đạt được mục tiêu nói trên,
mà kết quả là số lượng người học cũng như các cơ sở giáo dục đại học của Việt
Nam đã tăng lên một cách đột biến.
Nhìn chung hệ thống GD nước ta phát khá hoàn thiện với đủ các loại
hình:trường công lập, bán công, nội trú, các học viện, trung tâm giáo dục kết hợp
vừa học vừa làm. Các hình thức đào tạo cũng phong phú từ chính quy, cao học,
tại chức, liên thông, đào tạo từ xa, du học. mỗi năm có hàng chục trường được
xây dựng và nâng cấp thu hút hàng trăm nghìn SV theo học.
2.1 vai trò của nhà nước và cơ quan quản lý giáo dục .
Trước hết phải nói đến vai trò của nhà nước Trong những năm qua, để thúc
đẩy giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng dạy và học, Nhà nước đã thực
hiện xã hội hóa để huy động tiềm năng của các thành phần kinh tế cho giáo dục
và đào tạo. Ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục và đào tạo đã tăng từ 15%
năm 2000 lên 18% năm 2005 với cơ cấu tăng chi cho những nhiệm vụ trọng tâm
của ngành như đổi mới chương trình, bồi dưỡng giáo viên, tăng cường giáo dục
miền núi. hàng loạt các chính sách được ban hành. Cụ thể là, Triển khai nghiêm
túc trong toàn hệ thống Chỉ thị số 296/CT-TTg ngày 27/2/2010 của Thủ tướng
Chính phủ và Chương trình hành động của Bộ về đổi mới quản lý giáo dục đại
học giai đoạn 2010-2012. Đến hết ngày 15/8/2010 đã có 311 trường đại học, cao
đẳng báo cáo tình hình triển khai thực hiện Chỉ thị 296 (đạt tỷ lệ 76,4%), trong
đó, có 300 trường (đạt tỷ lệ 96,5% ) thành lập Ban chỉ đạo đổi mới công tác quản
lý giai đoạn 2010-2012; có 183 trường (đạt tỷ lệ 58,8%) xây dựng và công bố

Về bản thân SV, do được sự quan tâm của Đảng, nhà nước, gia đình và xã
hội đã cố gắng học tập tốt và đạt được nhiều kết quả cao. Mới đây khi được tin
giáo sư Ngô Bảo Châu đã đạt được giải thưởng toán học quốc tế Fields như một
hiện tượng làm vinh quang không chỉ cho đất nước mà còn lá tấm gương cho
các bạn SV học tập. có rất nhiều SV đã đoạt giải cao trong các kỳ thi olimpic
quốc tế,chúng ta đã có bốn thí sinh xuất sắc đều đoạt giải Olimpic toán cũng như
các cuộc thi Robocon vừa qua Việt Nam đạt giải nhì(năm 2010)…
3. Những khó khăn.
Trên đây là những thánh tựu rất đáng tự hào củ chúng ta. Vì vậy để nâng
cao vị thế GD Việt Nam trên trường quốc tế và nâng cao chất lượng đào tạo, đòi
hỏi chúng ta không chỉ xem xét khía cạnh đã làm được mà còn phải dũng cảm
đối diện với những gì chưa làm được vì đó là vấn đề quan tâm của toàn xã hội
hiện nay. Nếu như một vài năm gần đây, cả nước bừng tỉnh với con số hàng
trăm nghìn thí sinh trượt đai học mỗi năm và phát hiện nguyên nhân chính là kết
quả của căn bệnh thành tích thì từ đó đến nay chúng ta lai quá quen thuộc với
nó. Hàng ngày chúng ta đã quá quen thuộc khi đề cập đến các căn bệnh trong
GD như“bệnh thành tích”, “bệnh đối phó”, “bệnh đấu đá”, “bệnh thiếu trung thực”
đang tràn lan khắp nơi, ở mọi người kể cả thầy lẫn trò mà hiện tượng quay cóp
đang hoành hành, trở thành quốc nạn. Đảng và nhà nước ta đã có chủ trương
rất đúng đắn: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” và cũng đã có những biện pháp
cụ thể cải cách giáo dục. Tại sao ngành giáo dục vẫn loay hoay lúng túng, chưa
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với giáo dục? Tại sao khi ta cởi
trói cho nông dân và cho các nhà doanh nghiệp, thì nông nghiệp và doanh
nghiệp phát triển? Tại sao chúng ta không cởi trói cho giáo dục để giáo dục phát
triển? nếu như một thầy thuốc thì cần chẩn đoán đúng bệnh và cho đúng thuốc,
thuốc đắng giã tật, bệnh nặng đến đâu cũng chữa được. Phải thẳng thắn nhìn
vào sự thật những căn bệnh trầm kha của giáo dục Việt Nam nói trên. Và phải
biết trị tận căn, mới mong chất lượng giáo dục của Việt Nam được cải thiện.
3.1 Trong quản lý giáo dục.
Thời đại hiện nay, thế kỷ XXI, khoa học quản trị, nhất là quản trị chất lượng

cao. Ngay giáo trình cũng thiếu vắng các bài tập. Thiếu hẳn một hệ thống trợ
giảng (giảng viên) hay trợ giáo, kèm cặp (tutoring, sinh viên giỏi đàn anh phụ
trách, được cấp tiền bồi dưỡng tượng trưng từng giờ hay từng buổi phụ việc).
Các trường đại học ở Việt Nam chưa quan tâm đến phương pháp học nhóm,
các thư viện chưa bố trí những phòng học nhóm, chưa có trường nào bố trí rất
nhiều bàn ghế để cho bất cứ sinh viên lúc chưa đến giờ học hay giờ trống đến
ngồi gặp gỡ nhau. Các giảng viên cũng không bắt buộc những bài tập làm theo
nhóm, chấm điểm theo nhóm.
3.3 Đội ngũ giảng viên.
Nếu học vị tiến sĩ là điều kiện chuẩn có khả năng dạy đại học thì hiện nay số
lượng giảng viên có học vị này còn quá thấp so với khu vực ASEAN cũng như
các nước phát triển trên thế giới. Dĩ nhiên cũng có các trường hợp ngoại lệ chỉ
có bằng cử nhân nhưng vẫn là người giảng viên đại học giỏi, đầu ngành, được
phong hàm giáo sư hay phó giáo sư. Đối với các nước trên thế giới, người có
học vị cử nhân chỉ có thể làm trợ giảng mà không được phép dạy lý thuyết. Điều
này ta chưa làm được, rõ ràng đã phản ánh chất lượng yếu kém của đội ngũ
giảng viên đại học ở Việt Nam.
Đội ngũ giảng viên đại học tại Việt Nam còn rất yếu kém về nghiên cứu sáng
tạo, hiện chỉ mang tính đối phó, mang tính phong trào, làm lấy lệ, rất ít người say
mê nghiên cứu và giành nhiều thời gian cho công tác nghiên cứu ngay cả những
người có khả năng nghiên cứu
Các giảng viên phải lo kiếm sống, nên việc lo tròn trách nhiệm của một
người giảng viên bình thường đã là điều rất khó, chứ chưa thể nghĩ tới trách
nhiệm nghiên cứu hay đi xa hơn nữa là hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc ngay như
những người có tinh thần trách nhiệm cao nhất.
Hiện tượng đấu đá không những phổ biến trong giới lãnh đạo để tranh
quyền lực mà ngay trong các cán bộ giảng viên bình thường để tranh giành các
danh hiệu thi đua, đã tạo ra một môi trường làm việc không được lành mạnh,
làm sao công tác giảng dạy và nghiên cứu có thực chất.
3.4 Sinh viên

Gần 55% SV được hỏi cho rằng mình không thực sự hứng thú học tập.
Hơn 50% SV được khảo sát không thật tự tin vào các năng lực/ khả năng
học của mình.
Hơn 40% cho rằng mình không có năng lực tự học;
Gần 70% SV cho rằng mình không có năng lực tự nghiên cứu;
SV yếu nhất ở các nhóm: Kĩ năng thuyết trình, kĩ năng sử dụng máy vi tính,
kĩ năng viết báo cáo tham luận, kĩ năng vận dụng vào thực tế.
SV mạnh hơn ở các nhóm kĩ năng: Phân tích và giải thích, giải quyết vấn
đề, nghe ghi và hiểu bài giảng. (PGS.TS Nguyễn Công Khanh).
3.5 Trương trình đào tạo.
Định hướng, mục tiêu, phương pháp dạy học và phương thức lượng giá hầu
như không thấy ghi trong chương trình hoặc rất sơ sài, phản ảnh sự thiếu
chuyên môn trong việc soạn các chương trình dạy học, chưa được thiết thực,
đáp ứng được nhu cầu của xã hội trong thời kỳ đổi mới, hội nhập vào thế giới .
Cấu trúc chương trình nhiều điểm chưa hợp lý, chiếm quá nhiều thời gian
lên lớp về lý thuyết, rất ít giờ bài tập, rất ít giờ hoạt động ngoại khoá tự học, tự
nghiên cứu. Nhiều nội dung chương trình lạc hậu hay nặng nề, không còn phù
hợp, tạo sự chán nản cho sinh viên, khiến sinh viên không đi sâu vào ngành học,
nhất là năm đầu tiên có quá ít môn của ngành học.
3.6 Cơ sở vật chất.
Cơ sở vật chất đại học ở Việt Nam kể cả công lập và dân lập đều rất yếu
kém, từ quy mô đến chất lượng, tính hiệu quả phục vụ sự giảng dạy cũng như
học tập, nghiên cứu …, nhất là các trường đại học dân lập thì hầu như chưa có,
bởi một vài trường có rồi chỉ là tạm bợ, chưa có thể là quy mô hay chất lượng
của một trường đại học, nếu chưa muốn nói chưa được là một trường trung học
phổ thông trung bình. Cũng có thể chỉ ở Việt Nam mới xảy ra tình trạng cơ sở
vật chất trường đại học như vậy.
Chương 2. Khái quát tình hình chung.
1. Những thành tựu.
Trước hết là hoạt động NCKH và chuyển giao công nghệ đã góp phần tích

tỷ lệ đầu tư cho GD mới đạt 3 % GDP, trong khi tỉ lệ này ở Philippines là 4,2 %,
ở Thái Lan là 5,4 % và ở Malaysia là 6,7 %. Một cách so sánh khác : Chính phủ
hiện quy định mức trần thu học phí đối với các trường ĐH công lập là 2.9 triệu
đồng/ năm/ SV, chỉ bằng khoảng 20 - 25 % định mức chi phí đào tạo thường
xuyên cho một SV (định mức này ở hai ĐHQG là 9 360 000 đồng/ SV, các
trường ĐH công lập khác vào khoảng 7 - 8,5 triệu đồng).
1.2 Tình hình du học
Giáo sư Phạm Phụ, ĐH Quốc gia TPHCM đưa ra con số : VN hiện nay đã có
trên 20 000 SV đang du học tự túc ở nước ngoài, chi phí ước tính không dưới
200 triệu USD/năm. Nhà nước cũng đã có chương trình học bổng du học từ
ngân sách quốc gia với tổng kinh phí 1 000 tỉ đồng trong 5 năm.
2. Nguyên nhân.
Do tư tưởng, con người, cách làm của thời bao cấp, thời chiến tranh không
dễ gì một sớm một chiều có thể thay đổi ngay được. Do đời sống vật chất của
giảng viên quá thấp, không ai sống bằng đồng lương, không ai có thể toàn tâm
toàn ý và đủ thời gian hoàn thành trách nhiệm chuyên môn của họ
Do từ lâu, quan niệm, định hướng giáo dục, mục tiêu giáo dục rất mơ hồ, có
thói quen lượng giá, đánh giá… trong các hệ thống giáo dục rất sai lầm. Ít quan
tâm đế những mục tiêu về kỹ năng, thái độ, nhân cách chuẩn bị vào đời, đáp
ứng yêu cầu của xã hội
Đồng thời do nhà nước áp dụng một hệ thống thi cử, thi đấu, thi đua hết sức
nặng nề khắp các cấp, khắp các đối tượng, cán bộ, thầy và trò cùng một số
nguyên nhân khác tạo ra tinh thần khoa cử, thi đấu rất nặng nề trong xã hội, tạo
áp lực học sinh phải học thêm, học tủ để đạt kết quả trước mắt với bất cứ giá
nào kể cả kiệt sức, quay cóp… đưa tới cách dạy đối phó, học đối
2.1 Cơ sở vật chất.
Trang bị các phòng học, các thư viện, phòng thí nghiệm ở các Đại học rất
yếu kém, vừa không cập nhật, vừa không có hệ thống. Vào mạng các Trường
Đại học nước ngoài, chưa nói các nước Âu - Mỹ, chỉ riêng các Đại học lớn ở
Nga, Trung Quốc - các nước vừa chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị

như thế là quá phi thường, quá sức chịu đựng của họ rồi, nhất là đối với những
người có khả năng và trách nhiệm cao!
2.5 Sinh viên.
Do từ lâu, quan niệm, định hướng giáo dục, mục tiêu giáo dục rất mơ hồ, có
thói quen lượng giá, đánh giá, thi, kiểm tra trong các hệ thống giáo dục rất sai
lầm, chỉ theo lối đánh giá kết quả bằng điểm số mà chỉ về kiến thức, không đánh
giá theo quá trình học tập, ít quan tâm đế những mục tiêu về kỹ năng, thái độ,
nhân cách chuẩn bị vào đời, đáp ứng yêu cầu của xã hội. Ngay cách đánh giá
đạo đức của sinh viên vừa mới ban hành cũng nặng về điểm số và không giao
trách nhiệm cho các giảng viên đánh giá nhận xét!
Đồng thời do nhà nước áp dụng một hệ thống thi cử, thi đấu, thi đua hết sức
nặng nề khắp các cấp, khắp các đối tượng, cán bộ, thầy và trò cùng một số
nguyên nhân khác tạo ra tinh thần khoa cử, thi đấu rất nặng nề trong xã hội, tạo
áp lực học sinh phải học thêm, học tủ để đạt kết quả trước mắt với bất cứ giá
nào kể cả kiệt sức, quay cóp… đưa tới cách dạy đối phó, học đối phó.
Do giáo dục phổ thông chưa chuẩn bị tốt, hướng dẫn rèn luyện để học sinh
lựa chọn ngành học, trường học phù hợp và chuẩn bị cách học ở đại học.
2.6 Chương trình đào tạo.
Do chưa thật mạnh dạn đổi mới, còn ảnh hưởng tư duy giáo dục thời bao
cấp. Do chưa đảm bảo những nguyên tắc về định hướng và mục tiêu, từ đó, nội
dung và phương pháp giảng dạy và cách thức lượng giá phải thể hiện. Do Bộ và
các trường đại học chưa chuẩn bị tốt, xây dựng, đào tạo đội ngũ các chuyên gia
soạn chương trình và triển khai tốt kế hoạch soạn chương trình đào tạo đại học.
2.7 nguyên nhân khác
Trong lĩnh vực GD&ĐT ở nước ta đang xảy ra một nghịch lý: Là một nước
thuộc loại nghèo nhất thế giới, chúng ta đang có hàng nghìn sinh viên tự túc du
học ở nước ngoài. Họ là những con nhà giàu có chăng? Chỉ đúng một phần.
Có nhiều bậc cha mẹ đã và đang thế chấp nhà cửa, vay tiền và sống đạm
bạc để cho con đi du học. Tại sao? Vì họ có nhu cầu cho con học đại học và
thực tế con cái họ có khả năng học đại học ở nước ngoài. Nhưng ở ta, họ không

Chất lượng GDĐH tùy thuộc vào những yếu tố, thứ tự theo tình trạng thực
tế yếu kém nổi trội và trong tầm tay khả thi mà chúng ta cần phải ưu tiên giải
quyết như sau:
- Quản trị.
- Phương pháp dạy học và phương tiện dạy học.
- Thầy.
- Trò.
- Chương trình.
- Cơ sở vật chất của trường.
1.1 Cơ quan quản lý
Đổi mới tư tưởng, cơ chế, cung cách quản trị mới, chuyên môn hóa, lấy
hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xã hội là mục tiêu, tiêu chí hàng đầu.
Có kế hoạch cụ thể xây dựng văn hóa chất lượng vào từng trường đại học.
Mỗi trường đại học có một hiệu phó phụ trách về CLĐT, về kiểm định CLĐT.
Bộ cũng như mỗi trường đại học nhanh chóng xây dựng đội ngũ chuyên gia
GD, với học vị tiến sĩ về quản trị GDĐH trong các lĩnh vực quản trị học đường,
soạn chương trình, công tác sinh viên, tư vấn sinh, phương pháp dạy học…
1.2 Phương pháp dạy
Đổi mới tư tưởng giáo dục, lấy SV làm trung tâm trong quá trình dạy học,
phát huy tính tích cực, tính chủ động tự học trong học tập và nghiên cứu đáp
ứng nhu cầu của xã hội.
Quy chế chuyên môn, giảng dạy được quy định rất cụ thể: buộc phải đề
cương môn học rất kỹ càng và đề cương bài giảng với những yêu cầu đổi mới
cụ thể, quy định rất rõ ràng các biện pháp quản lý, giám sát chuyên môn quy
trình triển khai các đề cương môn học và đề cương bài giảng đến từng sinh viên.
Xây dựng nghiêm túc và có hiệu quả chế độ trợ giảng, trợ giáo…
Cấu trúc chương trình của từng môn học và giáo trình, đề cương bài giảng
phải có các bài tập. Một buổi học lý thuyết phải được bố trí 1 buổi bài tập.
Các trường đại học phải đẩy mạnh kế hoạch học nhóm, lao động nhóm như
là biện pháp quản lý chất lượng đào tạo từ dưới cơ sở SV lên trên, thể hiện quản

hoặc vượt mức sáng tạo trung bình của tự giới. Như vậy, có tới 80% sinh viên có
tính sáng tạo thấp hơn mức trung bình. Khả năng tư duy độc lập và sáng tạo của
SV có thể được khuyến khích bằng cách cho phép họ thảo luận với nhau và thảo
luận bình đẳng với giáo viên về những nội dung quan trọng của môn học.
SVĐH phải có khả năng tự học. Tự học là một nhẩm chất tối cần thiết của
một công dân trong một xã hội tri thức. Ở thời cổ xưa, khi tri thức còn chưa được
sáng tạo với tốc độ nhanh chóng như hiện nay, vua Thang đã tự khắc lên trên
thành bồn tắm bảy chữ “nhật tân, nhật tân, hưu nhật tân" để tự răn mình. Rồi Lê
nin cũng khuyên thanh niên phải "học, học nữa, học mãi." Trong thời đại của
chúng ta và trong tương lai, khả năng tự học này còn trở nên cấp thiết hơn nữa
khi kho tàng tri thức của nhân loại cứ vài năm lại được nhân đôi.
SV cần biết công tác và làm việc theo nhóm. Câu chuyện về "người Trung
Quốc xấu xí" phê phán một cách nặng nề tinh thần hẹp hòi và bất cộng tác của
người Trung Quốc. Thế mà ai đã từng có dịp học tập hay sinh sống ở nước
ngoài đều nhận thấy rằng tính cộng đồng và khả năng hợp tác của người Trung
Quốc luôn cao hơn người VN chúng ta một bậc. Trong khi đó, yêu cầu phát triển
của mỗi cá nhân, cộng đồng, và toàn xã hội - đều đòi hỏi mỗi cá nhân biết hợp
tác, nhiều khi phải thỏa hiệp, để đạt mục đích chung. Làm việc nhóm còn giúp
SV nhát triển kỹ năng lãnh đạo, một phẩm chất vốn rất khan hiếm và không thề
thiếu được trong bất kỳ một xã hội hiện đại nào.
SV cần được GD lòng tự trọng. Sẽ là thiếu sót nếu không đề cập tới sự cần
thiết phải GD đạo đức cho SV. Từ trước đến nay, SV trong các trường Đại học
vẫn được GD đạo đức bằng các khẩu hiệu mang nặng tính hình thức và phong
trào. Thiết nghĩ, chỉ cần giáo dục cho SV có lòng tự trọng, biết tự hào với những
gì mình làm đúng và biết xấu hổ với những gì mình làm sai thì cũng đã là đủ.
Nếu thế, SV sẽ không quay cóp và không mua điểm. Gần đây SV của một số
trường đã mạnh dạn đưa ra một tuyên bố chung trên diễn đàn SV của trường
rằng: "quay cóp là nhục nhã". Khi SV đã nhận thức trong môi trường học vấn,
không có gì xấu xa hơn là đánh cắp kiến thức của người khác rồi tự nhận là của
mình thì đã có một hy vọng xây dựng được một nền học vấn thực sự.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status