Tiểu luận vấn đề giảng viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục đại học việt nam nói chung và hệ thống giáo dục đại học ngoài công lập nói riêng - Pdf 16


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
KHOA GIÁO DỤC
    

MÔN: GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

ĐỀ TÀI
:
VẤN ĐỀ GIẢNG VIÊN, SINH VIÊN TRONG HỆ THỐNG GIÁO
DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM NÓI CHUNG VÀ HỆ THỐNG GIÁO
DỤC ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP NÓI RIÊNG


GVGD: PGS. TS. PHẠM LAN HƯƠ NG
NHÓM 03:
1. Trần Công Bình
2. Nguyễn Trung Cang
3. Nguyễn Ngọc Bảo Châu
4. Vũ Hoàng Lan Chi
5. Nguyễn Thành Công
6. Dương Bảo Cường
7. Trần Cao Cường
8. Nguyễn Thị Anh Đào
9. Trần Tiến Đạt
10. Phan Thị Diễm
11. Đỗ Thị Ngọc Diệp
12. Vũ Thị Kim Liên
13. Trần Thị Thu Nhi
14.
Nguyễn Thị Thu Thanh

nói chung và hệ thống giáo dục đại học ngoài công lập nói riêng 2
I. Tình hình chung về giáo dục Đại học ở Việt Nam 2
1. Khái niệm giáo dục 2
2. Tình hình chung giáo dục Đại học ở Việt Nam 2
2.1. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất 1950 2
2.2. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 2 1956 2
2.3. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3 1979 2
2.4. Nền giáo dục nước nhà sau cải cách kinh tế - xã hội 1986: có những tay đổi
đáng kể 3
2.5 Tình hình giáo dục Việt Nam hiện nay 4
II. Giảng viên và sinh viên trong hệ thống giáo dục đại học việt nam 6
1. Giảng viên 6
1.1. Số lượng giảng viên 6
1.2. Chất lượng giảng viên 8
2. Sinh viên 11
2.1. Một số đặc điểm của sinh viên 11
2.2. Số lượng sinh viên 12
2.3. Chất lượng sinh viên 13
III. Giảng viên và sinh viên trong hệ thống giáo dục đại học ngoài công lập 15
1. Giảng viên 15
1.1. Số lượng giảng viên 15
Môn: Giáo Dục Đại Học Thế Giới và Việt Nam GVGD: PGS.TS. Phạm Lan Hương
Đề tài: Giảng viên và Sinh viên iii Nhóm 03

1.2. Chất lượng giảng viên 17
2. Sinh viên 19
2.1 Số lượng sinh viên 19
2.2. Chất lượng sinh viên 21
Chương III: Giải pháp và kiến nghị 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27


Môn: Giáo Dục Đại Học Thế Giới và Việt Nam GVGD: PGS.TS. Phạm Lan Hương
Đề tài: Giảng viên và Sinh viên 2 Nhóm 03

Chương II: Vấn đề Giảng viên, Sinh viên trong hệ thống giáo dục đại học Việt
Nam nói chung và hệ thống giáo dục đại học ngoài công lập nói riêng
I. Tình hình chung về giáo dục Đại học ở Việt Nam
1. Khái niệm giáo dục
Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc
biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng
tích cực. Nghĩa là hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ
bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã
hội đương đại.
2. Tình hình chung giáo dục Đại học ở Việt Nam
2.1. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất 1950
Tháng 7/1950 bản đề án cải cách giáo dục đã được Hội đồng chính phủ thông
qua. Bản đề án mới đã nêu rõ: Nền giáo dục mới phải là nền giáo dục của dân, do dân
và vì dân, được thiết kế trên nguyên tắc “ Dân tộc, khoa học và đại chúng”. Mục tiêu
của giáo dục là giáo dục thế hệ trẻ thành những công dân trung thành với chế độ dân
chủ nhân dân, có phẩm chất, nghị lực phục vụ kháng chiến, phục vụ đất nước. Cơ cấu
nhà trường cải cách gồm hệ thống phổ thông 9 năm và hệ thống giáo dục bình dân,
giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục cao đẳng và đại học.
2.2. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 2 1956
Sau ngày giải phóng 1954, Miền Bắc có hai hệ thống giáo dục phổ thông cùng
tồn tại: hệ thống giáo dục phổ thông 9 năm do ta xây dựng và hệ thống giáo dục 12
năm ở vùng mới giải phóng do Pháp để lại. Vì vậy tháng 3/1956, Chính phủ đã thông
qua đề án cải cách giáo dục lần thứ 2. Mục tiêu của lần này là: đào tạo, bồi dưỡng thế
hệ trẻ thành những người phát triển về mọi mặt, những công dân tốt, cán bộ tốt trung
thành với nhà nước. Về hệ thống giáo dục, hình thành hệ thống giáo dục 10 năm gồm
3 cấp và giáo dục – đào tạo chuyên nghiệp.

Chính sách xã hội hóa giáo dục Khi nền kinh tế nhiều thành phần ra đời và chế
độ “bao cấp” dần bị xóa bỏ, thì vai trò độc quyền của nhà nước trong cung cấp các
dịch vụ y tế và giáo dục dần dần giảm bớt, đồng thời các dịch vụ này không còn miễn
Môn: Giáo Dục Đại Học Thế Giới và Việt Nam GVGD: PGS.TS. Phạm Lan Hương
Đề tài: Giảng viên và Sinh viên 4 Nhóm 03

phí. Thông qua Nghị quyết số 90/CP ngày 21/08/1997 về phương hướng và chủ trương
xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, Nhà nước khuyến khích mở rộng
nhiều hình thức giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các loại trường, lớp bán
công, dân lập, tư thục tại thành phố, thị xã, thị trấn và những vùng có kinh tế thuận lợi.
Chính sách đã thành công, thể hiện ở việc ra đời ngày càng nhiều trường tư thục, dân
lập, từ mầm non đến đại học, làm giảm sức ép cho giáo dục công lập trong khi ngân
sách nhà nước còn rất eo hẹp.
Hệ thống giáo dục quốc dân Nghị định số 90/CP ngày 24/11/1993 của Chính
phủ là văn bản đầu tiên thể chế hóa các quy định về hệ thống giáo dục quốc dân, hệ
thống bằng cấp và chứng chỉ cho giáo dục - đào tạo ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Đặc biệt, Luật Giáo dục đã được Quốc hội thông qua ngày 11/12/1998, trở thành bộ
luật đầu tiên quy định cụ thể về hoạt động giáo dục của Việt Nam, tạo ra khung khổ
pháp lý cho hoạt động giáo dục của Việt Nam.
Từ những năm 2000 trở lại đây quy mô giáo dục ĐH và sau ĐH đã tăng đáng
kể. Năm học 2003-2004 có hơn 1.032.000 sinh viên, gần 33.000 học viên cao học và
nghiên cứu sinh. Hàng năm, số sinh viên từ khu vực nông thôn, miền núi đều chiếm
khoảng 70% tổng số tuyển mới.
2.5 Tình hình giáo dục Việt Nam hiện nay
Giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng là nhân tố làm thúc đẩy nền kinh tế,
văn hoá, khoa học và xã hội phát triển. Hiện nay, Việt Nam cũng đang chú trọng phát
triển Giáo dục đại học, các trường đại học đã được lập ra ngày càng nhiều ở các vùng
miền của đất nước nhằm đáp ứng nhu cầu của sinh viên. Tuy nhiên, sự quản lý yếu
kém của bộ máy quản lý nhà nước trong giáo dục đã dẫn đến tình trạng “bạo phát bạo
tàn”, số lượng trường tăng lên nhưng chất lượng giáo dục lại giảm xuống. Chúng ta có

phía hội đồng quản trị và ban giám hiệu của nhiều trường đại học dân lập. Hiểu theo
nghĩa thông thường, hành động của chính quyền tỉnh Nam Định không khác gì một sự
phân biệt đối xử trên phương diện xã hội học.
Nhưng ở một góc cạnh khác, người ta lại nhận ra rằng đã đến lúc gióng lên
tiếng “chuông gọi hồn ai” về thực trạng đào tạo tại nhiều trường đại học ngoài công
lập. Khởi đầu của “đường dây giáo dục phí” dẫn đến Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng là
logic cho sự tiếp nối về cách làm ăn ẩu tả của nhiều trường đại học ngoài công lập.
Môn: Giáo Dục Đại Học Thế Giới và Việt Nam GVGD: PGS.TS. Phạm Lan Hương
Đề tài: Giảng viên và Sinh viên 6 Nhóm 03

Hoàn toàn không khác với trường ngoài công lập, ngay các trường cao đẳng
công lập được “nâng cấp” thành đại học và trường trung cấp phát triển thành cao đẳng,
cũng rơi vào tình trạng bình mới rượu cũ. Hiển nhiên, giáo dục là một trong những
lĩnh vực được chú trọng về lượng hơn là chất ở Việt Nam trong vài chục năm qua, dẫn
đến hậu quả là từ năm 2000 đến năm 2011, trong khi số lượng trường đại học từ 69
trường tăng đến trên 160 trường, thì lượng giáo viên được chuẩn đào tạo công nhận
vẫn chỉ gần như một hằng số.
Còn về chất, có thể lấy sự so sánh giữa hoạt động giáo dục đại học ở Việt Nam
với Thái Lan trong giai đoạn 2007-2008 như một bằng chứng. Vào thời gian đó, số
trường đại học ở Việt Nam đã vào khoảng 150 trường, so với chỉ 112 trường ở Thái
Lan. Tuy nhiên, người Thái lại có đến 14.000 tiến sĩ, 35.000 thạc sĩ, trong khi người
Việt chỉ có 5.600 tiến sĩ và 15.000 thạc sĩ.
Thế nhưng tiêu chí so sánh thực chất nhất chính là số bài báo khoa học trên tập
san quốc tế giữa hai quốc gia: ngành giáo dục Việt Nam chỉ có 959 bài, trong khi các
nhà khoa học Thái có đến 4.527 bài, tức gấp gần 5 lần.
Như vậy, chỉ cần so sánh với một trường hợp phát triển trung bình như Thái Lan, đã có
thể thấy thực chất ngành giáo dục Việt Nam ra sao khi số lượng trường đại học nhiều
hơn hẳn, nhưng chất lượng đào tạo lại kém hơn hẳn.
II. Giảng viên và sinh viên trong hệ thống giáo dục đại học việt nam
1. Giảng viên

25 sinh viên/giảng viên. Nếu xét đúng như tiêu chí trên thì sẽ có rất nhiều trường phải
tạm ngưng tuyển sinh vì hiện nay đa số các trường đại học đều có tỷ lệ giảng viên/sinh
viên khá thấp. ĐH DL Ngoại ngữ tin học TP HCM : 47,3 SV/GV, ĐH Tây Đô: 44,2
SV/GV, ĐH M ở TP HCM : 41,2 SV/GV, ĐH Hồng Bàng: 40,2 SV/GV…;
Như vậy, số sinh viên trên một giảng viên SV/GV trung bình là 28. Với nhiều
trường ngoài công lập, con số này chắc chắn còn cao hơn nhiều, đó là chưa kể sự sai
lệch bởi những con số ảo trong những báo cáo hoặc thuyết minh xin thành lập trường
mới, ngành mới
Môn: Giáo Dục Đại Học Thế Giới và Việt Nam GVGD: PGS.TS. Phạm Lan Hương
Đề tài: Giảng viên và Sinh viên 8 Nhóm 03

M ột mặt số trường, lớp, ngành nghề đào tạo và nhu cầu lực lượng giảng viên
tăng lên vùn vụt. Mặt khác số lượng giảng viên nói chung hoặc giảng viên có trình độ
cao (cử nhân khá giỏi, tiến sĩ và giáo sư) lại tăng lên chậm chạp. Theo Nghị quyết 14-
2005/NQ-CP, ngoài một số trường phải đạt đẳng cấp quốc tế với tỉ lệ SV/GV không
quá 20, đến năm 2010 có ít nhất 40% giảng viên đạt trình độ thạc sĩ và 25% đạt trình
độ tiến sĩ. Và đến năm 2020, chỉ tiêu này cao hơn với ít nhất 60% giảng viên đạt trình
độ thạc sĩ và 35% đạt trình độ tiến sĩ.
1.2. Chất lượng giảng viên
Chất lượng đội ngũ giảng viên đại học được thể hiện chủ yếu qua chất lượng
hoạt động giảng dạy và chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên.
Liên quan đến hoạt động giảng dạy, thực trạng hiện nay cho thấy có tình trạng
quá tải giờ dạy của đội ngũ đội ngũ giảng viên do việc thành lập ồ ạt các cơ sở giáo
dục đại học cùng với sự gia tăng nhanh chóng về quy mô đào tạo trong khi số lượng
đội ngũ cán bộ giảng dạy không tăng kịp theo tốc độ tăng quy mô. Thực tế này diễn ra
phổ biến, đặc biệt là đối với giảng viên những môn chung như triết học, ngoại ngữ,
kinh tế chính trị… và giảng viên nhóm ngành hấp dẫn như công nghệ thông tin, ngân
hàng, tài chính kế toán Có những giảng viên dạy 1.000 tiết/năm trong khi quy định là
260 tiết/năm. Do thiếu giảng viên, nhiều trường buộc phải sử dụng giáo viên thỉnh
giảng từ các trường ĐH, CĐ khác nên việc giảng viên “chạy sô” là chuyện không còn

Tăng trưởng,
%/năm
Trung Quốc 31721 81006 20
Nhật Bản 59253 62044 1,3
Hàn Quốc 14948 24917 11
Đài Loan 10610 17689 11
Singapore 3863 5903 10
Hong Kong 2862 4007 7
Thái Lan 1547 3353 16
Malaysia 901 2051 16
Môn: Giáo Dục Đại Học Thế Giới và Việt Nam GVGD: PGS.TS. Phạm Lan Hương
Đề tài: Giảng viên và Sinh viên 10 Nhóm 03

Việt Nam 324 691 16
Indonesia 400 584 8
Philippines 398 500 3,5

Về cơ cấu, tỉ lệ giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên chiếm chưa tới 50% tổng
số giảng viên đại học, trong đó trình độ tiến sĩ chiếm 10,16% (giảm so với thời điểm
năm 1997) và chỉ có 3,74% giảng viên có chức danh Phó Giáo sư, Giáo sư. Con số này
còn quá thấp so với mục tiêu của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra là đến năm 2020 phải
đạt ít nhất 35% giảng viên có trình độ tiến sĩ. Đội ngũ giảng viên đại học có trình độ
cao, đặc biệt là các Phó Giáo sư, Giáo sư có độ tuổi trung bình khá cao, phân bố tập
trung chủ yếu ở một số trường đại học lớn tại các khu vực trung tâm.
Theo thống kê của Bộ GD-ĐT, tổng số giảng viên đại học, cao đẳng ở nước ta
đến nay là 77.500 người, trong đó giảng viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư chiếm
tỷ lệ 3,5%; giảng viên có trình độ tiến sĩ chiếm tỷ lệ khoảng 10% và giảng viên có
trình độ thạc sĩ chiếm tỷ lệ khoảng 40%. Như vậy còn khoảng 50% giảng viên ở các
cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) chưa có bằng Tiến sĩ, Thạc sĩ. Vì vậy nếu qui định
cứng trong Luật GDĐH là giảng viên ĐH phải có trình độ Thạc sĩ trở lên thì khi Luật

khoa học. Nhờ khả năng tự đánh giá phát triển mà sinh viên có thể nhìn nhận, xem xét
năng lực học tập của mình, kết quả học tập cao hay thấp phụ thuộc vào ý thức, thái độ,
vào phương pháp học tập của họ.
Ở sinh viên đã bước đầu hình thành thế giới quan để nhìn nhận, đánh giá vấn đề
cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày. Sinh viên là những trí thức tương lai, ở các
em sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt. Học tập ở đại học là cơ hội tốt để sinh
viên được trải nghiệm bản thân, vì thế, sinh viên rất thích khám phá, tìm tòi cái mới,
đồng thời, họ thích bộc lộ những thế mạnh của bản thân, thích học hỏi, trau dồi, trang
bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử thách để khẳng định mình.
M ột đặc điểm tâm lý nổi bật nữa ở lứa tuổi này là tình cảm ổn định của sinh
viên, trong đó phải đề cập đến tình cảm nghề nghiệp - một động lực giúp họ học tập
một cách chăm chỉ, sáng tạo, khi họ thực sự yêu thích và đam mê với nghề lựa chọn.
Môn: Giáo Dục Đại Học Thế Giới và Việt Nam GVGD: PGS.TS. Phạm Lan Hương
Đề tài: Giảng viên và Sinh viên 12 Nhóm 03

Sinh viên là lứa tuổi đạt đến độ phát triển sung mãn của đời người. Họ là lớp
người giàu nghị lực, giàu ước mơ và hoài bão. Tuy nhiên, do quy luật phát triển không
đồng đều về mặt tâm lý, do những điều kiện, hoàn cảnh sống và cách thức giáo dục
khác nhau, không phải bất cứ sinh viên nào cũng được phát triển tối ưu, độ chín muồi
trong suy nghĩ và hành động còn hạn chế. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào tính tích
cực hoạt động của bản thân mỗi sinh viên. Bên cạnh đó, sự quan tâm đúng mực của
gia đình, phương pháp giáo dục phù hợp từ nhà trường sẽ góp phần phát huy ưu điểm
và khắc phục những hạn chế về mặt tâm lý của sinh viên.
Bên cạnh những mặt tích cực trên đây, mặc dù là những người có trình độ nhất
định, sinh viên không tránh khỏi những hạn chế chung của lứa tuổi thanh niên. Đó là
sự thiếu chín chắn trong suy nghĩ, hành động, đặc biệt, trong việc tiếp thu, học hỏi
những cái mới. Ngày nay, trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế, trong điều kiện phát
triển công nghệ thông tin, nền văn hoá của chúng ta có nhiều điều kiện giao lưu, tiếp
xúc với các nền văn hoá trên thế giới, kể cả văn hoá phương Đông và phương Tây.
Việc học tập, tiếp thu những tinh hoa, văn hoá của các nền văn hoá khác là cần thiết.

giao luôn ở mức 12-13%/năm). Tỉ lệ sinh viên hệ chính quy, tập trung tăng lên trong
khi số lượng sinh viên hệ phi chính quy giảm dần.
2.3. Chất lượng sinh viên
Chất lượng của sinh viên Việt Nam đang ngày một đi xuống và trong tình trạng
đáng báo động.
Theo điều tra của Bộ Giáo Dục năm 2011, cả nước có đến 63 % sinh viên thất
nghiệp vì thiếu kỹ năng.
Tại diễn đàn giáo dục Đại học Việt Nam-Thụy Sỹ đã đề cập đến nghiên cứu
mới đây của Viện Quản lý kinh tế Trung ương Việt Nam thì phần lớn sinh viên tốt
nghiệp các trường đại học, cao đẳng và cả các trường dạy nghề chưa đáp ứng được yêu
cầu kỹ năng ngày càng cao của doanh nghiệp. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, 44% các
doanh nghiệp đầu tư nước ngoài phải thực hiện đào tạo tại chỗ cho các lao động mới
tuyển. Và 25% các học viên từ các trường đào tạo nghề không đáp ứng được các yêu
cầu về kiến thức chuyên môn cũng như tay nghề trong các doanh nghiệp.
Môn: Giáo Dục Đại Học Thế Giới và Việt Nam GVGD: PGS.TS. Phạm Lan Hương
Đề tài: Giảng viên và Sinh viên 14 Nhóm 03

Theo khảo sát của trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn có khoảng
26,2% cử nhân đại học ra trường nhưng không có việc làm. Bên cạnh đó, 70,8% cử
nhân ra trường lại làm những công việc trái ngành nghề được đào tạo, chỉ có khoảng
19% cử nhân làm đúng ngành nghề được đào tạo.
Tình trạng chất lượng sinh viên ngày càng đi xuống có nhiều nguyên nhân. M ột
số nguyên nhân tiêu biểu như:
 Cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy của nhiều trường đại học, cao
đẳng không đáp ứng tốt cho việc giảng dạy. Nhiều trường đại học, cao
đẳng phải thuê cơ sở vật chất để giảng dạy. Thư viện trường chỉ được
đầu tư qua loa, chủ yếu là để đối phó. Các đầu sách trong thư viện thiếu
cả về số lượng và chất lượng.
 Quy chế giảng dạy vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế: nhiều sinh viên cho
rằng: “chán học, bỏ học, ít học” cũng một phần bắt nguồn từ quy chế

1.1. Số lượng giảng viên
Trong xu hướng chung của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, hệ thống giáo
dục đại học ngoài công lập đang lâm vào tình trạng thiếu nguồn nhân lực giảng dạy
một cách trầm trọng. Rất nhiều trường đại học, cao đẳng có lượng giảng cơ hữu rất ít.
Đa số, đội ngũ giảng viên của họ là giảng viên thỉnh giảng từ các trường đại học, cao
đẳng lớn trong cả nước hoặc từ các doanh nghiệp. Với số lượng giảng viên cơ hữu ít
và giảng viên thỉnh giảng cũng không ổn định, do vậy việc đào tạo tại trường cũng rất
khó khăn và thiếu tính liên tục do không có sự thống nhất về mặt chuyên môn của
chương trình đào tạo. Những giảng viên cơ hữu kiêm luôn việc tham gia quản lý các
công việc của trường, do vậy họ không đủ thời gian để nghiên cứu và trao dồi chuyên
môn. Tuy vậy, giảng viên của một số trường ngoài công lập được trả lương cao hơn so
với các trường công lập, họ được trả lương tương xứng với công sức đã bỏ ra. Do vậy,
một số trường công lập, giảng viên chỉ đến giảng dạy cho đủ số tiết quy định, còn phần
lớn họ dành thời gian nhiều để tham gia giảng dạy tại các trường tư.
Theo dự thảo quy chế trường đại học tư thục đưa ra quy định: các trường phải
có tối thiểu 20% giảng viên cơ hữu. Lập tức, nhiều trường đại học, cao đẳng đã
có nhiều ý kiến phản đối với lý do không khả thi. Tại nhiều trường, giảng viên cơ hữu
Môn: Giáo Dục Đại Học Thế Giới và Việt Nam GVGD: PGS.TS. Phạm Lan Hương
Đề tài: Giảng viên và Sinh viên 16 Nhóm 03

chỉ chiếm một phần nhỏ trong đội ngũ giảng viên của trường. Trường ĐHDL Cửu
Long (Vĩnh Long) có 72 giảng viên cơ hữu, 333 giáo viên thỉnh giảng. Con số này ở
trường ĐHDL Đông Đô là 70 và 356.
Tuy nhiên, không ít trường, tỷ lệ này đã đạt tới mức 50/50. Trường ĐHDL
Lương Thế Vinh (Nam Định) đã có 20 giảng viên cơ hữu, 20 giảng viên thỉnh giảng.
Trường ĐHDL Ngoại ngữ - Tin học TP.HCM có 105 giảng viên cơ hữu, 193 giảng
viên thỉnh giảng. Tại trường ĐHDL Quản lý Kinh doanh Hà Nội, tỷ lệ giảng viên cơ
hữu chiếm tới hơn 52%. Trong số hơn 300 giảng viên, trường ĐHDL Hải Phòng, cũng
có tới 140 giảng viên cơ hữu.
Từ đầu năm 2012, Bộ GD&ĐT đã tiến hành thanh tra các trường ĐH, CĐ trên

khó. Ông Nguyễn Mạnh Hùng, hiệu trưởng trường đại học Nguyễn Tất Thành, cho
biết: “trường đang có nhu cầu tuyển thêm 150 giảng viên, ưu tiên người có trình độ
thạc sĩ, tiến sĩ nhưng hiện rất khó tuyển vì không có nguồn”. Tại Trường đại học Văn
Lang, tổng quy mô đào tạo hiện nay của trường là 10.000 sinh viên, thì phải cần
khoảng 400 giảng viên nhưng hiện số giảng viên của trường chỉ đạt khoảng 320, như
vậy trường sẽ cần phải tuyển thêm 80 giảng viên nhưng hiện vẫn chưa có nguồn tuyển.
Tương tự, nhiều trường đại học, cao đẳng tại Tp. Hồ Chí M inh cho biết: Tuyển
được người có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ rất khó nên nhiều trường đành phải tuyển những
người có trình độ đại học rồi từ đó tổ chức đào tạo dần lên thạc sĩ, tiến sĩ thì may ra
mới đủ được số lượng giảng viên cơ hữu theo đúng tiêu chuẩn đặt ra.
1.2. Chất lượng giảng viên
Chất lượng đội ngũ giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng đang được các
nhà quản lý giáo dục và xã hội quan tâm, đặc biệt là đội ngũ giảng viên tại các trường
Năm học 2006-2007 2007-2008 2008-2009
Tổng số GV (người) 22.792 26.798 30.121
GV


hữu
Tổng số 16.536 18.827 21.075
Công lập 14.750 16.360 18.270
Ngoài công lập 1.786 2.467 2.805
GV

thỉnh
giảng

Tổng số 6.256 7.971 9.046
Công lập 3.233 4.213 4.624
Ngoài công lập 3.023 3.758 4.422

trường dân lập là trường của nó! Theo Hiệu trưởng trường ĐHDL Hải Phòng Trần
Hữu Nghị, giáo viên trường ngoài công lập vẫn còn bị phân biệt đối xử trong bình bầu
Môn: Giáo Dục Đại Học Thế Giới và Việt Nam GVGD: PGS.TS. Phạm Lan Hương
Đề tài: Giảng viên và Sinh viên 19 Nhóm 03

các danh hiệu, phong học hàm học vị. Khi đi thi, đi học nghiên cứu sinh, thạc sĩ, các
GVCH của trường dân lập vẫn bị xem như thí sinh tự do, tiền học phí phải trả cao
nhất.
Tuy nhiên, một số trường ngoài công lập cũng chú trọng đến chất lượng đào tạo
chẳng hạn như đại học FPT, RMIT. Đối với các trường này, khi tuyển giảng viên đều
thông qua việc thi tuyển, các giảng viên ngoài đáp ứng yêu cầu chuyên môn phải đáp
ứng yêu cầu về ngoại ngữ. Về giáo trình đào tạo đều có sự thống nhất và liên kết chặt
chẽ mang tính hệ thống, các giảng viên tham gia đào tạo đều bám sát theo giáo trình
của nhà trường tránh tình trạng giảng dạy không mạch lạc và rời rạc về kiến thức giữa
môn học. Do vậy, giảng viên tham gia cũng đều là giảng viên giỏi và được trả thù lao
tương xứng với trình độ của họ.
Tóm lại, hầu hết các trường ngoài công lập hiện nay đang thiếu giảng viên cơ
hữu và phần lớn là giảng viên thỉnh giảng nhằm giảm bớt về mặt kinh phí trả lương
giảng viên. Giảng viên cơ hữu lại kiêm nhiệm thêm các công việc của khoa và trường
và không còn thời gian để trao dồi thêm chuyên môn. Không những thế, các trường lại
không chú trọng đến sự phát triển lâu dài của đội ngũ giảng viên về mặt chất lượng
chuyên môn phục vụ cho công tác giảng dạy và phát triển chất lượng tình hình giáo
dục của trường.
2. Sinh viên
2.1 Số lượng sinh viên
Có một nghịch lý xảy ra ở các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập là: số
lượng trường được thành lập ngày càng nhiều, số ngành học và chỉ tiêu tăng tuyển sinh
tăng lên hằng năm. Tuy nhiên, số lượng sinh viên tại các trường đại học, cao đẳng
ngoài công lập đang giảm một cách rõ rệt.
Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nếu như năm học 2010 - 2011, tỷ lệ

thí sinh không mặn mà.”
M ột nguyên nhân nữa khiến cho số lượng hồ sơ sinh viên nộp vào các trường
đại học, cao đẳng ngoài công lập bị giảm xuống rõ rệt là: Trong 10 năm trở lại đây,
Môn: Giáo Dục Đại Học Thế Giới và Việt Nam GVGD: PGS.TS. Phạm Lan Hương
Đề tài: Giảng viên và Sinh viên 21 Nhóm 03

trường đại học công lập ở các địa phương ra đời liên tục. Các trường này được nhà
nước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, cấp đất và học phí thấp hơn rất nhiều so với các
trường ngoài công lập. Nên hầu hết các sinh viên không có điều kiện về kinh tế sẽ
chọn lựa các trường đại học, cao đẳng địa phương. Bên cạnh đó, kết quả tuyển sinh đại
học, cao đẳng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như uy tín, danh tiếng, truyền thống của nhà
trường; số lượng, chất lượng, kinh nghiệm của đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý;
cơ sở vật chất, điều kiện học tập và sinh hoạt, môi trường sư phạm; vị trí địa lý của nhà
trường.
2.2. Chất lượng sinh viên
Hầu hết sinh viên của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập được xếp
theo diện sinh viên bậc 2 so với các trường công lập. Các sinh viên giỏi có điểm thi
cao thường nộp hồ sơ vào các trường điểm có thương hiệu, có uy tín cao. Đa số các
sinh viên nộp hồ sơ vào các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập có điểm thi thấp
và học lực trung bình khá. Nguyên nhân này làm ảnh hưởng nhiều đến quá trình đào
tạo tại trường và chất lượng đầu ra của sinh viên thường thấp hơn các trường khác.
M ột yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của sinh viên nữa là: ý thức học tập của
sinh viên ngày nay không cao. Khi sinh viên sống xa nhà, sinh viên không còn lo lắng
về giờ giới nghiêm, không phải bận tâm tìm lý do để đi chơi cùng bạn bè, không phải
nghe những lời phàn nàn khi lỡ “ nướng” tới trưa… Nhưng cũng chính vì sự tự do đó
mà sinh viên trì hoãn, bỏ bê việc học tập. Lịch học không hợp lý: Sinh viên thường đi
học nhiều môn học để bổ sung kiến thức cũng như kỹ năng, tuy nhiên các em chưa biết
phân bổ thời gian hợp lý, dẫn đến việc chán nản khi đi học và lo sợ khi đến mùa thi.
Phương pháp học tập không đúng: Không có động lực học, không có hứng thú với
môn học, không có mục tiêu học tập rõ ràng nên sinh viên thường nghỉ học, đợi đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status