LUẬN VĂN Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của
Australia cho Việt Nam – Thực trạng và
giải pháp
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Huyền My
1
MỤC LỤC
Lời mở đầu………………………………………………………
….3
Chương 1: Một số vấn đề chung về Hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA) của Australia cho Việt Nam……………………………….6
1. Vài nét về
Australia……………………………………………..6
1.1. Thể chế chính trị và kinh tế…………………………….6
1.2. Vị thế của Australia trong Thương mại Quốc tế……….7
1.3. Vị thế của Australia đối với Việt Nam………………....8
2. ODA của Australia cho Việt Nam…………………………….11
2.1. Khái quát chung về ODA……………………………..11
2.2. Đặc điểm ODA của Australia cho Việt Nam…………17
Chương 2: Thực trạng ODA của Australia vào Việt Nam thời
gian qua…………………………………………………………….33
1.2. Nhóm giải pháp sử dụng, quản lý hiệu quả ODA ở Việt
Nam…..……………………………………………….78
2. Những giải pháp đối với chính phủ Việt Nam………………...81
2.1. Nhóm giải pháp tăng cường thu hút ODA của
Australia………………………………………………81
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Huyền My
3
2.2. Nhóm giải pháp tăng cường sử dụng hiệu quả ODA của
Australia………………………………………………85
3. Nhóm giải pháp khác………………………………………….88
Kết luận…………………………………………………………….90
Tài liệu tham khảo………………………………………………...91
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trên đà phát triển kinh tế trong những năm gần đây, với sự
biến đổi mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới,Việt Nam cũng đã và
đang đổi mới đường lối phát triển kinh tế của mình. Cùng với quá
trình thực hiện các chương trình cải cách kinh tế toàn diện với sự
phối hợp các công cụ chính sách vĩ mô, chính sách ngoại giao cởi
mở và việc chuyển sang nền kinh tế thị trường đã đưa Việt Nam tới
bước phát triển mạnh mẽ trong quan hệ kinh tế đối ngoại.
Mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể, bộ mặt kinh tế,
xã hội đã có những biến đổi rõ rệt nhưng xét một cách toàn diện,
Việt Nam còn phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, thách thức
để
có thể đổi mới và thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội đã đặt
2. Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu chương trình viện trợ phát triển chính thức của
Australia cho Việt Nam
- Đánh giá thực trạng ODA của Australia vào Việt Nam trong
những năm vừa qua
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút ODA của
Australia vào Việt Nam
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Huyền My
5
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là những thông tin chung
nhất về ODA của Australia với Việt Nam và ODA trong một số lĩnh
vực viện trợ nổi bật và các đặc thù trong hoạt động ODA của
Australia dành cho Việt Nam trong các lĩnh vực đó, cụ thể là hoạt
động hỗ trợ phát triển ODA trong quản lý nhà nước; ODA trong
phát triển nông thôn và cơ sở hạ tầng, ODA trong y tế và giáo dục;
ODA trong bảo vệ môi trường; và ODA trong bảo vệ quy
ền phụ nữ.
Phạm vi nghiên cứu của khoá luận giới hạn ở các nghiên cứu
tổng quan về ODA của Australia với Việt Nam trong vòng 10 năm
trở lại đây.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Khoá luận đã sử dụng tổng hợp các phương pháp của duy vật
biện chứng, các phương pháp thống kê toán, phương pháp phân tích
kinh tế, phương pháp cân đối để nghiên cứu...
5. Bố cục của khoá luận:
Nội dung c
thứ 6 trên thế giới với hơn 7,6 triệu km2.
Với số dân hơn 19,6 triệu người (thống kê tính đến tháng
6/2002), Australia là một xã hội đa văn hóa gồm những người bản
xứ và các cư dân di cư đến t
ừ hơn 160 nước trên thế giới.
Giống như các nước khác thuộc khối liên hiệp Anh, về chính
trị, Australia theo thể chế Quân chủ, người đứng đầu với quyền lực
cao nhất là Nữ hoàng. Tuy nhiên, do đặc thù lịch sử phát triển là 1
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Huyền My
7
xã hội đa văn hoá, thực chất Australia là một nước Cộng hoà Liên
Bang. Người đứng đầu là Toàn quyền Australia do Nữ hoàng bổ
nhiệm. Cơ cấu bộ máy chính trị của quốc gia với người lãnh đạo là
Thủ tướng. Quốc hội được chia làm 2 nhánh: Tư pháp và Toà án tối
cao.
Về kinh tế, trong thương mại quốc tế, nền Australia tập trung
vào các dịch vụ và các sản phẩm chế tạo có giá trị cao. Chính sách
kinh tế
đối ngoại của Australia tập trung chính vào khu vực Châu Á
- Thái Bình Dương. Australia rất chú trọng hoạt động Hỗ trợ phát
triển chính thức (ODA) của mình. Australia sẽ cung cấp 1 tỷ 815
triệu đô la Mỹ cho ODA trong năm 2002-2003. Đây là một mức
tăng 90 triệu đô la so với con số ngân sách 2001-2002 là 1,725 tỷ đô
la, thể hiện một mức tăng 3%. Hỗ trợ phát triển chính thức theo dự
toán của Australia so với tỷ lệ tổng thu nh
ập quốc dân trong năm
2002-2003 sẽ là 0,25%. Như vậy việc này đã đưa Australia thường
Australia và Việt Nam tuy là hai đất nước thuộc hai châu lục
với hai hệ thống chính trị khác nhau nhưng lại có mối quan hệ thân
thiết, gắn bó. Tình hữu nghị và hợp tác Việt Nam-Australia không
ngừng được củng cố và phát triể
n qua chặng đường hơn hai tám năm
kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao (26/12/1973). Đặc
biệt 10 năm gần đây đã chứng kiến sự khởi sắc trong quan hệ hai
nước với những chuyến viếng thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước,
cụ thể là chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng John
Haward và chuyến thăm Australia của Thủ tướng Phan Vă
n Khải
tháng 4/1999; nhiều hiệp định về kinh tế, thương mại... được ký kết;
đầu tư của Australia vào Việt Nam và kim ngạch thương mại song
phương không ngừng gia tăng. Hai nước đã ủng hộ và chia sẻ quan
điểm trên một số diễn đàn quốc tế: Australia ủng hộ Việt Nam gia
nhập ASEAN, giúp Việt Nam trong quá trình tham gia APEC, ủng
hộ Việt Nam gia nhập WTO; Việt Nam ủng hộ Australia gia nhập
ASEM.
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Huyền My
9
Chính phủ Australia luôn coi trọng quan hệ và mong muốn
thúc đẩy hợp tác nhiều mặt với Việt Nam, thể hiện rõ và sinh động
qua viện trợ phát triển chính thức dành cho Việt Nam. Từ năm 1991
đến nay Australia dành cho Việt Nam 772 triệu đôla Australia
(AUD) viện trợ ODA.
Về thương mại, trong nhiều năm qua, kim ngạch thương mại
giữa hai nước tăng trung bình 40%/ năm. Năm 1993, kim ngạch xuất
đầu tư đăng kýí là 1.044 triệu đô la Mỹ. Số dự án còn hiệu lực là 73
dự án với tổng vốn đầu tư đăng kíý là 752 triệu USD, vốn pháp định
523,6 triệu USD, vốn đầu tư thực hiện đạt 539 triệu USD. (Nguồn:
AusAID Information)
Đầu tư của Australia tập trung chủ yếu vào các l
ĩnh vực bưu
chính viễn thông, công nghiệp nặng, công nghiệp thực phẩm, giáo
dục-tài chính-y tế .v.v.
Các dự án đầu tư của Australia tạo công ăn việc làm cho trên
4.700 lao động. Doanh thu năm 2000 của các dự án Australia đạt
427,4 triệu USD. Australia có nhiều dự án quy mô lớn ở những
ngành kinh tế quan trọng như tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu
khí, than, sản xuất thép, viễn thông, sản xuất tân dược, ngân hàng và
giao thông vận tải. Trong bối cảnh khủng hoả
ng khu vực mấy năm
vừa qua, Australia vẫn tiếp tục đầu tư vào Việt Nam mà điển hình là
tập đoàn Telstra đã tăng đầu tư vào Việt Nam 40 triệu USD và chọn
Hà Nội làm trụ sở chính của Châu Á.
Về hợp tác phát triển, năm tài chính 2001/2002 là năm thực
hiện cuối cùng của kỳ cam kết 236 triệu đô la Australia giai đoạn
1998/1999-2001/2002. Tỡnh hỡnh giải ngõn thực tế vượt mức cam
kết ban đầu khoảng 66 triệu đô la Australia (Nguồn: AusAID
Information). Về mức cam kết của Chính phủ Australia dành cho
Việt Nam giai đoạn tới: Theo thông báo của AusAID, do khó khăn
về tài chính nhất là không dự báo được tỡnh hỡnh nờn từ nay
Australia sẽ khụng cam kết theo tài khoỏ 4 năm mà việc phân bổ
ngân sách hàng năm tuỳ thuộc vào tỡnh hỡnh thực hiện của từng dự
ỏn, chương trỡnh cụ thể
và phụ thuộc vào ngõn sỏch hàng năm của
hành trang đáng kể
để tăng cường hơn nữa tình hữu nghị và hợp tác
nhiều mặt. Đó là sự chân thành, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau. Đó
là ý nguyện cùng xây dựng hòa bình, hợp tác vì thịnh vượng và phát
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Huyền My
12
triển của mỗi nước cũng như của khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương và toàn thế giới.
2. ODA của Australia cho Việt Nam:
2.1. Khái quát chung về ODA:
Hiện nay, một trong những vấn đề đang được quan tâm hàng
đầu trong chính sách phát triển kinh tế của các nước đang phát triển
là việc huy động vốn cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Các nguồn vốn được huy động ở đây gồm có vốn trong
nước và vốn đầu t
ư nước ngoài.
Trong phần vốn của nước ngoài, bên cạnh nguồn vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) với vai trò to
lớn của nó, còn phải kể đến nguồn Viện trợ phát triển chính thức
(Official Development Assistance - ODA) đó và đang góp phần
không nhỏ vào công cuộc phát triển đất nước.
Khái niệm về ODA:
Viện trợ phát triển chính thức ODA là tất cả các khoản viện
trợ không hoàn lại và các khoản tín dụng ưu đãi (cho vay với thời
gian dài và lãi suất thấp) của Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống
Liên Hợp Quốc, các tổ chức phi Chính phủ (NGO), các tổ chức tài
cả nơi vật tư cho không cũng có đơn giá rất cao. Thêm vào đó cần
nhận thấy rằng các khoả
n viện trợ không hoàn lại thường kèm theo
một số điều kiện về tiếp nhận, đơn giá... Đặc biệt nhiều đối tác viện
trợ cung cấp với các điều kiện ràng buộc khắt khe về chính trị (xu
hướng này đã ngày càng giảm đi trong những năm gần đây) mà
nhiều Chính phủ không thể thỏa mãn hoặc nếu cố tình chấp nhận sẽ
gây nên tình trạng lệ
thuộc về chính trị hoặc mất ổn định, ảnh hưởng
tới chủ quyền quốc gia, một vấn đề đang trở nên không thể chấp
nhận được trong thời đại ngày nay.
Viện trợ có hoàn lại: thực chất là các khoản vay tín dụng ưu đãi
với điều kiện “mềm”. Với các khoản vay ưu đãi vốn ODA có thể sử
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Huyền My
14
dụng cho mục đích đầu tư phát triển. Tính chất ưu đãi của các khoản
vay này thể hiện ở chỗ:
Lãi suất của các khoản vay trong khuôn khổ ODA là lãi thấp,
thường dưới 3%/ năm.
Thời gian cho vay của các khoản vay này dài. Hầu hết các khoản
vốn vay ODA của Chính phủ đều có thời hạn kéo dài trên 20 năm.
Thời hạn thanh toán là thời hạn từ khi ký kết hiệp định vay đến khi
bên vay trả hế
t tiền vay gốc.
Thời gian ân hạn: là thời hạn từ khi vay đến khi trả vốn gốc đầu
tiên. Đây chính là thời gian hoàn trả nợ mà nước tài trợ dành cho
nước nhận viện trợ để tạo điều kiện thuận lợi cho phát huy hiệu quả
Hơn nữa các công ty nước ngoài còn giúp doanh nghiệp địa phương
tiếp cận được vào thị trường thế giới thông qua liên doanh và mạng
lưới thị trường rộng lớn của họ...
So với nguồn vay nợ nước ngoài, ODA khác ở chỗ vay nợ
nước ngoài không có các điều kiện ưu đãi về lãi suất hay thời gian
ân hạn mà đó chỉ đơn thuần là khoản vay phải tr
ả với lãi suất bình
thường.
Đặc điểm của ODA:
Xét về bản chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc
không hoàn lại theo những điều kiện nhất định một phần tổng sản
phẩm quốc dân từ một quốc gia giàu sang quốc gia nghèo. Mục tiêu
cơ bản của ODA là thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội và đóng góp
vào việc cải thiện mức sống ở các nước đang phát triển.
Thực tế cũng chứng minh
được rằng ODA đóng một vai trò
quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế của nước
nhận viện trợ nếu những quốc gia này sử dụng ODA một cách hợp
lý. Tuy nhiên, thực chất của việc viện trợ còn bao hàm cả những yếu
tố tiêu cực. Các nước phát triển-nước viện trợ không cung cấp một
cách vô tư các khoản viện trợ, đó không đơn thu
ần là một sự viện trợ
để giúp nước nghèo thoát khỏi lạc hậu để cùng nhau phát triển. Nhìn
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Huyền My
16
một cách phiến diện thì việc các nước giàu cung cấp ODA cho các
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Huyền My
17
Nước tiếp nhận ODA phải đáp ứng các yêu cầu của bên cấp
viện trợ như là thực hiện các cải cách kinh tế theo mẫu mà bên viện
trợ đưa ra. Điển hình là Ngân hàng thế giới WB, Quỹ tiền tệ quốc tế
IMF thường chỉ viện trợ cho các nước đang phát triển khi những
nước này cam kết thực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo tiến trình
và tiêu chuẩn mà các tổ chức này yêu cầu. Trên thực tế, những mô
hình của các tổ chức này phần lớn dựa theo mô hình nước phát triển
nên ít tính khả thi, ít mang lại kết quả. Do vậy dẫn tới tình trạng
nước nhận hoặc là phải nhập khẩu hàng hóa, thiết bị, nguyên vật liệu
của nước tài trợ hoặc phải nhận từ nơi mà nước tài trợ yêu cầu.
Nước nhận viện trợ
phải chịu rủi ro đồng tiền nước viện trợ.
Nếu đồng tiền viện trợ tăng giá so với đồng tiền nước tiếp nhận thu
được thông qua xuất khẩu (nguồn thu nhập để trả nợ) thì nước nhận
viện trợ sẽ phải trả thêm một khoản nợ bổ xung phát sinh do chênh
lệch giá ở thời điểm vay và thời điểm trả nợ
. Nước tiếp nhận thường
không có quyền trong việc lựa chọn đồng tiền để vay ODA, cũng
không có quyền sử dụng tiền địa phương để làm đơn vị viện trợ mà
buộc phải vay bằng tiền nước cấp ODA. Chẳng hạn, hiến pháp Nhật
Bản quy định rõ chỉ cho vay viện trợ bằng đồng JPY (Yên Nhật).
Như vậy, thực chất ODA không phải là món quà biếu không,
bên trong m
ục đích tương trợ, giúp đỡ để cùng nhau phát triển là sự
đấu tranh không ngừng nghỉ vì quyền lợi của chính mình. Không thể
Ngoài ra, với quan điểm của AusAID là cần phải có sự tham
gia đóng góp vốn của cả hai phía thì các dự án mới có thể mang tính
khả thi và đạt được hiệu quả cao, lâu dài nên có thể nói các dự án
được Australia viện trợ đều có sự tham gia đóng góp vốn từ cả hai
phía Australia và Việt Nam.
Một đặc điểm cơ bản nữa là tất cả các dự án do Australia tài
trợ phải phù hợp với các chính sách của AusAID về giới tính, phát
triển, dân số và môi trường.
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Huyền My
19
Quản lý Nhà nước:
Phương châm của chương trình hỗ trợ ODA của Australia cho
Việt Nam trong quản lý nhà nước là có giúp Việt Nam đạt được một
chế độ quản lý “Trong sáng, Trách nhiệm giải trình và Công bằng”.
Ngày 20/3/2002, Chính phủ Australia ký một thoả thuận với
Bộ kế hoạch và đầu tư, theo đó 10 triệu AUD sẽ được cung cấp cho
Dự án Xây dựng năng lực Quản lý nhà nước hiệu quả kéo dài 3 năm.
Các Dự án về Quản lý Nhà nướ
c đều hướng tới mục tiêu chung nhất
là củng cố năng lực của một số bộ phận ngành và cơ quan Nhà nước
có liên quan, nhằm nâng cao tính hiệu quả, công minh, chính trực
trong chính sách quản lý, phát triển và dịch vụ ở Việt Nam. Các hoạt
động dự án tập trung vào 4 lĩnh vực: Phát triển kinh tế tư nhân, hội
nhập kinh tế, sử dụng hiệu quả những nguồn lực công cộng, thúc
đẩy hệ th
ống tư pháp và luật pháp công minh, rõ ràng và dễ tiếp cận.
Các lĩnh vực ưu tiên
d) Cơ sở hạ tầng xó hội (cỏc cụng trỡnh phỳc lợi cụng cộng, y tế,
giỏo d
ục và đào tạo, cấp thoát nước, bảo vệ môi trường);
đ) Hỗ trợ một số lĩnh vực sản xuất nhằm giải quyết cỏc vấn đề
kinh tế - xó hội;
e) Hỗ trợ cỏn cõn thanh toỏn;
Quy định về sử dụng và giải ngân ODA:
Trước yêu cầu cấp thiết của việc phải có một khung pháp lý
điều chỉnh các hoạt động ODA hỗ trợ bởi chính phủ Australia nói
riêng cũng như hoạt động ODA nói chung, Chính phủ Việt Nam đã
ban hành các nghị định, quy chế cũng như các thông tư hướng dẫn
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Huyền My
21
về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, trong đú
quy định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch thu hút và sử dụng ODA
cho từng thời kỳ, phê duyệt danh mục và nội dung chương trỡnh, dự
ỏn ODA yờu cầu tài trợ và chương trỡnh, dự ỏn ODA thuộc thẩm
quyền phờ duyệt của Thủ tướng Chính phủ, điều hành vĩ mô việc
qu
ản lý, thực hiện các chương trỡnh, dự ỏn ODA, ban hành cỏc văn
bản quy phạm pháp luật về việc quản lý và sử dụng ODA.
Cùng với
các văn bản pháp quy khác, nghị định 17/2001/NĐ-CP đã thiết lập
một hệ thống văn bản hướng dẫn khá cụ thể về việc sử dụng và giải
ngân ODA.
phát triển chính thức (ODA) (có hiệu lực từ ngày 19 tháng 5 năm
2001 thay thế Nghị định 87/CP).
Với 8 chương, 46 điều, Nghị định 17/CP đó đề cập một cách
tương đối chi tiết toàn bộ quá trỡnh từ thu hỳt, vận động đến thực
hiện và theo dừi, đánh giá các chương trỡnh, dự ỏn ODA. Nột mới
của Nghị định so với Nghị
định 87/CP trước kia thể hiện ở một số
điểm sau:
1. Có sự điều chỉnh lại thứ tự ưu tiên các lĩnh vực sử dụng ODA
với định hướng ưu tiên cao nhất là xoá đói giảm nghèo, nông nghiệp
và phát triển nông thôn, đặc biệt tại các vùng nông thôn, miền núi,
vùng sâu, vùng xa (éiều 3.1.a, 3.2.a)
2. Tăng cường phân cấp phê duyệt dự án trên cơ sở xác định rừ
trỏch nhiệm của c
ỏc bờn liờn quan nhằm đảm bảo việc quản lý nhà
nước chặt chẽ nguồn vốn ODA. Cụ thể, mức phê duyệt của thủ
trưởng các cơ quan chủ quản đối với các dự án hỗ trợ kỹ thuật được
nâng từ dưới 500.000USD lên dưới 1.000.000USD. (Mức phê duyệt
các dự án đầu tư được điều chỉnh theo Nghị định 52/CP). Quy chế
cũng quy định r
ằng những người có thẩm quyền phê duyệt này “phải
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Huyền My
23
căn cứ vào các lĩnh vực ưu tiên sử dụng ODA và căn cứ vào hiệu
quả kinh tế-xó hội của chương trỡnh, dự ỏn ODA, danh mục chương
trỡnh, dự ỏn ODA đó được Chính phủ phê duyệt và chịu trách
nhiệm cá nhân về quyết định của mỡnh” (éiều 20.2)
24
phục một trong những nguyờn nhõn lớn gõy chậm trễ cho việc tiến
hành cỏc dự ỏn hiện nay.
Cũng là một điểm mới khác của Nghị định, Quy chế có một
điều khoản riêng quy định về Ban quản lý chương trỡnh, dự ỏn
ODA (éiều 25). éiều khoản này cũng quy định Bộ Kế hoạch và éầu
tư sẽ có hướng dẫn cụ thể v
ề quy chế mẫu chức năng, nhiệm vụ của
các Ban quản lý dự ỏn.
4. éồng bộ hoỏ với cỏc văn bản quy phạm pháp luật khác có tính
đặc thù của dự án ODA. Ví dụ, tại giai đoạn thẩm định dự án, trong
Quy chế có quy định rằng “trong quá trỡnh thẩm định, cơ quan chủ
trỡ tổ chức thẩm định phải xem xét các nội dung đó thoả thuận vớ
i
Nhà tài trợ, ý kiến thẩm định của Nhà tài trợ hoặc đại diện của Nhà
tài trợ, ý kiến đồng thuận hoặc ý kiến khác nhau giữa các bên phải
được phản ánh trong báo cáo thẩm định” (éiều 18.6) hoặc trong quỏ
trỡnh chuẩn bị dự ỏn, Quy chế quy định rằng ngoài các nội dung bắt
buộc theo quy chế quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành, báo cáo
nghiên cứu tiền khả thi các chương trỡnh, dự
ỏn ODA đầu tư phải có
thêm nội dung mang tính chất đặc thù của chương trỡnh, dự ỏn cú sử
dụng vốn ODA như “lý do sử dụng vốn ODA, thế mạnh của Nhà tài
trợ về cụng nghệ, kinh nghiệm quản lý, tư vấn chính sách thuộc lĩnh
vực được tài trợ hoặc đánh giá các điều kiện ràng buộc theo quy
định của Nhà tài trợ đối với chương trỡnh, d
ự ỏn ODA”.
5. So với Nghị định 87/CP, Nghị định 17/CP đó bổ sung thờm cỏc
quy định về vốn bao gồm vốn chuẩn bị chương trỡnh, dự ỏn ODA