LUẬN VĂN: Vai trò của lợi nhuận
trong nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam
lời mở đầu
Lợi nhuận là một phạm trù kinh tế lớn, nó tồn tại song song với sự hình
thành và phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Là mục tiêu cho chiến lược phát triển
doanh nghiệp nói riêng và toàn xã hội nói chung. Vì vậy, lợi nhuận có một vai trò
vô cùng quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay,
nước ta đang phát triển nền kinh tế theo cơ chế mới – Cơ chế thị trường, chúng ta
cần phải xem xét vấn đề này một cách đúng đắn để từ đó thấy được xu hướng vận
động của nền kinh tế và tìm ra các chính sách phù hợp để phát triển kinh tế nước
xuất. Chính vì vậy mà họ đã làm cho các doanh nghiệp xác định sai mục tiêu phấn
đấu và hậu quả là thất bại thị trường TBCN như: tình trạng sản xuất dư thừa, lừa
đảo, gian lận thương mại, không tập chung sản xuất để hoàn thiện sản phẩm, không
lấy chất lượng sản phẩm làm mục tiêu phát triển bền vững Tư tưởng này đã nhanh
chóng đưa nền kinh tế lâm vào chỗ suy thoái, khủng hoảng và việc tháo gỡ chúng
càng trở nên bế tắc.
Mặc dù sai lầm nhưng quan điểm về "lợi nhuận" của trường phái trọng tiền cổ
điển lại có một giá trị lịch sử hết sức to lớn. Đó là những viên gạch đầu tiên để xây
dựng nên khái niệm khoa học, đầy đủ và chính xác về lợi nhuận và đồng thời cũng
là những viên gạch đầu tiên để xây dựng lên hệ thống các quan điểm, các quy luật
và các học thuyết kinh tế sau này.
b. Quan điểm về lợi nhuận của trường phái kinh tế chính trị học tư sản cổ điển
Anh.
Trong thời kỳ chủ nghĩa trọng thương, sự hoạt động của tư bản chủ yếu là trong
lĩnh vực lưu thông. Do quá trình phát triển của công trường thủ công,CNTB
chuyển sang quá trình sản xuất, lúc này các vấn đề kinh tế của sản xuất đã vượt quá
khả năng giải thích của lý thuyết chủ nghĩa trọng thương và học thuyết kinh tế cổ
điển xuất hiện. Các nhà kinh tế học của trường phái này lần đầu tiên chuyển đối
tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất. Lần đầu tiên họ xây
dựng một hệ thống các phạm trù và quy luật của nền kinh tế thị trường: như phạm
trù lợi nhuận, lợi tức, địa tô Trong đó có một số quan điểm về lợi nhuận nổi bật là
quan điểm của william Petty, Adam Smith,David Ricardo.
+ W_Petty:
2
Trong lý thuyết về thu nhập của mình, W_Petty không trực tiếp trình bày lợi
nhuận của doanh nghiệp mà ông trình bày hai hình thái giá trị thặng dư là lợi tức và
địa tô. Theo ông địa tô là số chênh lệch giữa thu nhập bán hàng và chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất bao gồm tiền lương và giống má. Trong khái niệm này, ông đã
Trên cơ sở kế thừa học thuyết kinh tế của A_Smith,về lợi nhuận, D_Ricardo
cho rằng:" lợi nhuận là số còn laị ngoài tiền lương mà nhà tư bản trả cho công
nhân". Bằng quan điểm này ông đã thấy lợi nhuận là một sản phẩm của lao động,và
ông nhìn thấy quan hệ bóc lột giữa chủ tư bản và người công nhân. Đồng thời ông
chỉ ra xu hướng giảm sút của tỷ suất lợi nhuận và giải thích nguyên nhân do sự vận
động, biến đổi giữa ba giai cấp: Địa chủ , công nhân và tư bản.
2
Dựa theo Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế,Trường
ĐHKTQD(1999), trang 54-55 ChươngIII.
3
Dưa theo Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế,Trường
ĐHKTQD(1999), trang 65-67 ChươngIII.
4
Dưa theo Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế,Trường
ĐHKTQD(1999), trang 71-72 ChươngIII. 2. Quan điểm về lợi nhuận của John Keyes:
Keyes được Mác đánh giá là cha đẻ của kinh tế cổ điển và ông có công lao to
lớn trong lĩnh vực kinh tế. Khi phân tích phần thưởng cho sự gánh chịu rủi ro nói
chung chúng ta không tính đến cái rủi ro do vỡ nợ hay cái rủi ro có bảo hiểm. Có
một dạng rủi ro đặc biệt phải lưu ý là rủi ro đầu tư không được bảo hiểm, nó phải
được tính vào trong quá trình tính lợi nhuận doanh thu của công ty phụ thuộc rất
lớn vào thăng trầm trong chu kỳ kinh doanh. Do các nhà đầu tư không thích các
trường hợp rủi ro nên họ đòi hỏi phải có mức phí dự phòng rủi ro cho những đầu tư
không chắc chắn nhằm bù đắp cho những rủi ro của họ. Keyes cho rằng lợi nhuận
bằng doanh thu trừ đi chi phí, lợi nhuận kinh doanh được báo cáo chủ yếu là thu
nhập công ty.
3. Học thuyết về lợi nhuận của Mac:
thể tạo ra m. Còn nếu là một sản phẩm thuần tuý chỉ cho sản xuất không được đem
ra lưu thông trao đổi thì nó chỉ là một vật phẩm không hơn không kém, sẽ không
tạo ra giá trị và như vậy sẽ không tạo ra giá trị thặng dư.
Vì vậy để tìm hiểu nguồn gốc của m thì Mac phải đi sâu để giải thích đầy đủ
công thức vì sự xuất hiện của giá trị thặng dư.
Nhìn vào công thức này bản chất của vấn đề đều được bộc lộ. Đi sâu nghiên
cứu qúa trình sản xuất TBCN là sản xuất ra giá trị tín dụng . Để tiến hành sản xuất
nhà tư bản phải bỏ ra mua tư liệu sản xuất và thuê công nhân (đi mua hàng hoá
sức lao động). Sức lao động là một loại hàng hoá đặc biệt mà nhà tư bản đã tìm
T
-
H
TLSX
SLĐ
SX
-
H'
-
T'
biến (ký hiệu c). Bộ phận tư bản biến thành sức lao động không tái hiện ra nhưng
thông qua lao động trừu tượng của công nhân mà tăng lên, tức là biến đổi về lượng
được Mác gọi là tư bản khả biến (Ký hiệu Q). Vậy tư bản khả biến là điều kiện cần
để tiến hành sản xuất giá trị thặng dư nhưng quyết định cho giá trị thặng dư lại là
tư bản khả biến, vì nó là bộ phận tư bản không ngừng tăng lên từ đó Mác cho rằng
giá trị hàng hoá = c+v+m.
b. Quá trình chuyển hoá giá trị thặng dư lợi nhuận:
6
Như chúng ta đã biết muốn tạo ra giá trị hàng hoá tất yếu phải chi phí một số
lao động nhất định bao gồm: lao động sống và lao động quá khứ.
+ Lao động quá khứ: là giá trị của tư liệu sản xuất(c).
+ Lao động sống(lao động hiện tại) là lao động tạo ra giá trị mới (v+m).
Đứng trên quan điểm xã hội mà xét thì đó là chi phí thực tế để tạo thành giá trị
của hàng hoá (c+v+m). Tuy nhiên nhà tư bản chỉ ứng tư bản để sản xuất hàng hoá
tức là họ chỉ ứng ra một số tư bản để mua tư liệu sản xuất (c) và mua sức lao động
(v). Chi phí đó, Mác gọi là chi phí sản xuất TBCN (ký hiệu K) K=c+v. Chúng ta
có thể thấy ngay một điều là chi phí sản xuất TBCN luôn nhỏ hơn chi phí thực tế
(giá trị hàng hoá). Rõ ràng rằng K=c+v < giá trị hàng hoá (GTHH) =c+v+m.
Như vậy giữ giá trị hàng hoá và K luôn có một khoảng chênh lệch cho nên sau khi
bán hàng hoá, nhà tư bản không nhưng bù đắp đủ số tư bản đã ứng ra mà còn thu
được một số tiền lời bằng m, số tiền này được gọi là lợi nhuận (p).
Vậy GTHH = c+v+m = K+m hay GTHH = K+p
6
Dựa theo Giáo trình Kinh tế chính trị, Trường ĐHKTQD(1998), ChươngVI &
Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác-Lênin, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc
Gia(1999), ChươngVI , trang 162-185.
Liệu p và m có gì khác nhau?
II. Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư.
7
1. Lợi nhuận công nghiệp:
Trong công nghiệp để cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho thị trường, các nhà sản
xuất phải bỏ tiền vốn trong quá trínhản xuất và kinh doanh. Họ muốn chi phí cho
các đầu vào ít nhất và bán hàng hoá với với gía cao nhất để khi trừ đi các chi phí
còn số dư dôi ra. Số dư hay số chênh lệch giữa giá đầu vào và đầu ra của quá trình
sản xuất gọi là lợi nhuận công nghiệp. Phần lợi nhuận này giúp nhà tư bản không
những nuôi được bản thân và gia đình mình mà một phần trong đó còn được dùng
để tích luỹ và tái sản xuất mở rộng, củng cố, phát triển và tăng cường vị trí của
mình trên thị trường. Từ đó ta có thể hiểu một cách rõ ràng, lợi nhuận công nghiệp
chính là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu bán hàng và tổng mức chi phí bỏ ra
của những đơn vị sản xuất kinh doanh mang tính công nghiệp.
8
2. Lợi nhuận thương nghiệp:
Theo quan điểm của chủ nghĩa trọng thương, họ cho rằng lợi nhuận là kết quả
của sự trao đổi không ngang giá hoạt động thương mại như một trò lừa đảo"bịt
bợm":"không một người nào thu lợi nhuận mà không làm là khác". Đây là quan
điểm sai lầm và nguyên nhân là do chủ nghĩa trọng thương đã tách hai quá trình
sản xuất và lưu thông thành hai lĩnh vực khác biệt.
Khác với những quan điểm trước, tư bản thương nghiệp dưới CNTB (tu bản
thương nghiệp hiện đại) là một bộ phận của tư bản công nghiêph tách rời ra, phục
vụ quá trình lưu thông hàng hoá của tư bản công nghiệp. Vai trò của tư bản công
nghiệp chỉ hạn chế ở mức năng mua và bán, hay nói cách khác nó không sáng tạo
8
Kinh tế hoc David Begg.
Nguồn gốc của lợi tức là một phần giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo ra
trong lĩnh vực sản xuất. Phạn trù lợi tức tồn tại đã che dấu đi bản chất bóc lột của
CNTB. Nhưng quá trình vận động của tư bản cho vay đã vạch trần được điều đó.
4. Lợi nhuận ngân hàng:
Ngân hàng TBCN là tổ chức kinh doanh tiền tệ, làm môi giới giữa người đi
vay và người cho vay. Ngân hàng có hai nhiệm vụ chính: nhận gửi và cho vay, còn
trong nghiệp vụ cho vay, ngân hàng thu lợi tức của người đi vay. Lợi tức nhận gửi
nhỏ hơn lợi tức cho vay.
"Chênh lệch giữa lợi tức cho vay và nhận gửi trừ đi những khoản chi phí cần
thiết về nghiệp vụ ngân hàng cộng với các khoản thu nhập khác về kinh doanh tiền
tệ hình thành nên lợi nhuận ngân hàng".
5. Lợi nhuận độc quyền.
Độc quyền ra đời từ tự do cạnh tranh, nó loại bỏ sự thống trị về tự do cạnh
tranh nhưng không thủ tiêu được cạnh tranh mà cạnh tranh ngày càng trở nên gay
gắt. Cạnh tranh dẫn đến độc quyền, độc quyền cũng để cạnh tranh tốt hơn
Bản chất kinh tế của CNTB là dụa trên chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về tư
liệu sản xuất. Việc phân phối lợi nhuận dựa trên sở hữu tư bản. Tuy nhiên đến giai
đoạn của CNTB độc quyền thì việc phân phối lợi nhuận không chỉ dựa trên sở hưũ
tư bản nói chung mà trước hết dựa trên cơ sở quyền lực chi phối tư bản của người
khác, dựa trên sở hữu tư bản về tài chính.
Do tư bản độc quyền, nhất là tư bản tài chính,giữ vị trí thống trị trong sản xuất
và lưu thông, nên nó có thể không chỉ sử dụng các phương pháp sản xuất giá trị
thặng dư, cạnh tranh, lợi nhuận bình quân và tỷ suất lợi nhuận bình quân là những
phạn trù kinh tế quen thuộc trong giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh, mà nó sử dụng
phương pháp cưỡng bức siêu kinh tế để thu lợi nhuận cao_lợi nhuận độc quyền.
ChươngII: Vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường.
I. Vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường :
9
1. Lợi nhuận thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển:
Lợi nhuận đó là nguồn giầu có của giai cấp tư bản. Chính vì vậy các nhà tư
bản sản xuất kinh doanh với mục đích thu được càng nhiều lợi nhuận càng tốt.
Trước đây họ có thể tạo ra lợi nhuận bằng cách kéo dài tuyệt đối ngày lao động của
công nhân.(phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối). Tuy nhiên phương
pháp này chỉ có hiệu quả lúc ban đầu của CNTB thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ tư
bản- khi mà trình độ người lao động con thấp kém. Đến khi lực lượng sản xuất
phát triển, phương pháp này tỏ ra không hữu hiệu và gặp phải sự chống đối mãnh
liệt của công nhân. Chính vì lẽ đó các chủ tư bản chuyển sang bóc lột một cách tinh
vi hơn. Đó là biện pháp tăng năng suất lao động của người công nhân thông qua
Do tác động của lợi nhuận, do sự phân chia lợi nhuận dưới nhiều hình thức
khác nhau mà chủ yếu là dựa trên chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất, đã làm cho
quan hệ sản xuất giữa chủ doanh nghiệp và người lao động ngày càng thắt chặt
hơn.
Bên cạnh đó mục đích doanh nghiệp luôn đặt các doanh nghiệp trước yêu cầu
"hiệu quả".Làm thế nào để chi phí là ít nhất mà lợi nhuận thu về là lớn nhất. Điều
đó đòi hỏi tính chuyên môn hoá cao và sự sắp xếp lại các tổ chức quản lý. Có thể
giảm biên chế một số bộ phận không cần thiết, hoạt động kém hiệu quả. Tổ chức
lại các bộ phận quản lý và thiết lập mối quan hệ giữa chúng để quá trình hoạt động
được nhịp nhàng, thông suốt tránh sự trì trệ không cần thiết trong một số khâu nào
đó làm ảnh hưởng đển cả hệ thống quản lý. Hạn chế bớt một số bộ phận quản lý
cồng kềnh còn giúp cho nhà kinh tế giảm bớt một phần chi phí đồng nghĩa với
việc tăng lợi nhuận.
Xuất phát từ mục tiêu ổn định và phát triển kế hoạch phân bố lực lượng lao
động hợp lý, trong nền kinh tế phải cân đối tốt nguồn tài nguyên ,kết hợp chặt chẽ
và thích đáng lợi ích xã hội, tập thể và cá nhân người lao động,giáo dục quan điển
và kỹ thuật cho người lao động. Tất cả những vấn đề đặt ra ở trên đều xuất phát
từ"lợi nhuận" chính nó thúc đẩy quá trình phân phối theo lao động diễn ra mạnh
mẽ theo nguyên tắc làm nhiều thì hưởng nhiều,làm ít thì hưởng ít. Nhưng cùng với
sự phát triển về kinh tế thì ngoài phân phối theo lao động còn có sự phân phối
ngoài thù lao lao động thông qua các quỹ phúc lợi tập thể và xã hội Trong thời kỳ
quá độ hiện nay ở nước ta còn xuất hiện hình thái phân phối theo vốn và tài sản
dưới hình thái công ty và cổ phần, công ty TNHH
Lợi nhuận làm chuyển đổi từ nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá, kinh
tế thị trường.
Theo quá trình phát triển của lịch sử nền kinh tế đã trải qua rất nhiều hình thức
khác nhau từ lạc hậu đến hình thức tiên tiến hiện đại. Đi từ kinh tế tự nhiên sang
kinh tế hành hoá mà đỉnh cao là kinh tế thị trường, quá trình này phát triển song
bất ổn về chính trị xã hội. Nhà nước cần áp dụng và đưa ra chính sách pháp luật
đúng đắn trong kinh doanh để xử lý những tranh chấp trong kinh doanh và các vụ
vi phạm luật kinh tế. Tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển
lành mạnh. Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát
triển mạnh mẽ.
3. Vai trò của lợi nhuận trong quá trình tái sản xuất xã hội:
Để biết được vai trò của lợi nhuận đối với quá trình tái sản xuất xã hội như thể
nào thì trước tiên ta hãy xem xét quá trình tái sản xuất diễn ra như thế nào?.
Như ta đã biết muốn tái sản xuất mở rộng ngày càng hiện đại thì phải có nhiều
vốn. Muốn có nhiều vốn thì phải có một thời tích luỹ lâu dài. Do vậy tích luỹ vốn
gắn liền với tái sản xuất mở rộng đã trở thành quy luật chung của các hình thái
kinh tế xã hội có tái sản xuất mở rộng .
Tích luỹ vốn nói chung, xét về mặt lý thuyết thực chất đó là sự chuyển hoá
một phần giá trị thặng dư thành tư bản mới để mở rộng sản xuất. Do vậy nguồn
tích luỹ vốn là giá trị của sản phẩp thặng dư do lao động thặng dư tạo ra trong quá
trình sản xuất (nhờ năng xuất lao đọng cao bảo đảm ngày lao động vượt quá phần
giá trị của sản phẩp tất yếu) và được thực hiện trong quá trình lưu thông. Sự tích
luỹ này do các chủ sở hữ và tư liệu san xuất quyết định.
Như vậy, dù ở trạng thái nào thì vốn cũng là một phần lợi nhuận tạo thành. Và
lợi nhuận đóng vai trò quyết địng trong quá trình tái sản xuất xã hội.
4. Lợi nhuận có vai trò quan trọng trong quan hệ kinh tế quốc tế:
Lợi nhuận là lý do làm phát sinh và phát triển nền kinh tế thị trường. Nó thúc
đẩy quá trình mở rộng và trao đổi hàng hoá cùng khoa học kỹ thuật. Mở cửa nền
kinh tế nhằm thu hut nguần lực phát triển từ bên ngoài và phát huy lợi thế kinh tế
giaoduc/
kinh tế trong nước làm thay đổi mạnh mẽ về trình độ khoa học công nghệ trong
nước, Mở rộng phân công lao động quốc tế, tăng cường liên doanh, liên kết làm cơ
sở tăng cường tính độc lập và phụ thuộc lẫn nhau trên nguyên tắc bình đẳng và
bão trong giai đoạn hiện nay. Quân sự quốc gia ngày càng được trang bị những vũ
khí tối tân, hiện đại. Giáo dục được chú trọng đầu tư,là quốc sách hàng đầu. Yêu
cầu đặt ra là chúng ta phải nắm bắt được những khoa học kỹ thuật và phải có một
sự dầu tư để nhập các thiết bị phục vụ cho sử dụng cho nghiên cứu trong tất cả các
lĩnh vực,mà đặc biệt cho quốc phòng, an ninh và giáo dục. Vì vậy khi lợi nhuận
cao chúng ta sẽ có điều kiện để đầu tư để phát triển nhân tố con người cả về lý luận
và thực tiễn.
II. Những hậu quả do theo đuổi lợi nhuận:
1. Hậu quả về mặt kinh tế:
"Tấm huy chương nào cũng đều có mặt trái của nó" lợi nhuận tạo điều kiện cho
kinh tế thị trường phát triển nhưng nó cũng tạo điều kiện để cho những thói hư tật
xấu của nền kinh tế này tồn tại song hành với sự phát triển đó. Theo Mac những
thói hư tật xấu này là những "Khuyết tật cơ chế thị trường" những khuyết tật không
thể tránh được trong sự phát triển chung của nền kinh tế hàng hoá
- Việc sử dụng các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật đòi hỏi quy mô sản xuất
và lượng tư bản phaỉ lớn. Trước yêu cầu đó, các doang nghiệp phải tích tụ hay tập
trung sản xuất để hình thành nên những xí nghiệp lớn. Do mục tiêu lợi nhuận, các
doanh nghiệp vừa và nhỏ không đủ tiềm năng về công nghệ để nâng cao chấtl ượng
sản phẩm nên cũng không đủ tiềm năng cạnh tranh với những doanh nghiệp lớn.
Vì vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động ngày càng xa sút và kém hiệu qủa,
tư bản vừa và nhỏ đứng trên bờ vực phá sản còn những doanh nghiệp lớn những tư
bản lớn ngày càng trở nên giầu có với vị trí của mình trên thị trường. Đó là tất yếu
của quy luật phát triển và đào thải và khi tập trung tích tụ đên một trình độ nhất
định họ sẽ trở thành các tổ chức độc quyền. Chủ nghĩa độc quỳên càng phát triển
thì lợi nhuận độc quyền thu về cành nhiều. Nhưng hậu quả do họ gây ra như tình
trạng: Lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng lại làm cho cả một nền kinh tế phải
gánh chịu trong đó những người phải gánh chịu nặng nề nhất lại là giai cấp công
nhân và mọi tầng lớp nhân dân lao động. Theo đuổi lợi nhuận cũng đồng nghĩa với
qúa trình bần cùng hoá những người lao động.
hậu quả và những chi phí sử lý lại do nhân dân và nhà nước gánh chịu
Những hậu quả về mặt kinh tế do các doanh nghiệp theo đuổi lợi nhuận mang
lại tồn tại như những cỗ máy vận hành song song với sự phát triển kinh tế thị
trường. Đó là những mặt trái của nền kinh tế này , mà chúng ta cần có một bàn tay
hữu hình điều tiết và khắcphục những khuyết tật đó trong cơ chế thị trường.
2. Hậu quả về mặt chính trị xã hội:
Theo quan điểm đã nói trên, vì lợi nhuận mà người ta có thể làm tất cả những gì
miễn là biến được nhiều tiền cho bản thân mình còn tất cả những hậu quả mang lại
thì "để phần" cho nhà nước và nhân dân cùng đuợc "hưởng" . Đó là gì? đó là
những vấn đề về môi trường đố là những vấn đề về y tế và cả những tệ nạn xã hội
nảy sinh khác.
Việc chạy đua theo lợi nhuận sẽ làm cho các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau.
Quá trình cạnh tranh đó cũng là quá trình đào thải những doanh nghiệp lạc hậu và
tạo môi trường phát triển vững chắc đối với những doanh nghiệp tiên tiến. Tuy là
công bằng về mặt kinh tế, song đối với những doanh nghiệp đứng trên bờ phá sản
thì công nhân của họ lại đứng trước một tình thế phũ phàng. Thất nghiệp đồng
nghĩa với nó là không có thu nhập và có nghĩa cuộc sống không được đảm bảo .
Đíong hành với nạn thất nghiệp gia tăng là các tệ nạn xã hội khác cũng không
ngừng tăng theo. Và cũng song hành với thất nghiệp là giá dục cũng xa sút, nhân
tài của đất nước bị chảy máu chất xám
Chạy theo lợi nhuận, các doanh nghiệp luôn tìm cách cắt bổ những khâu không
cần thiết để giảm chi phí, đặc biệt là khâu xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường
sinh thái.
Vì lợi nhuận , tất cả vì đồng tiền, mà những tư tưởng về văn hoá xã hội bị mài
mòn. Bên cạnh những tư tưởng suy tồi về đạo đức của một số người có thế lực
trong xã hội như tệ nạn tham nhũng,nền văn hoá,truyền thống dân tộc cũng bị suy
đồi một cách trầm trọng. Những ngành nghề cổ truyền may đậm bản sắc dân tộc bị
mất đi dần. Nền văn minh, văn hoá lâu đời của dân tộc cũng bị mai một. Những
quan niệm sống thực dụng, "tiền tệ hoá" các mối quan hệ xã hội cũng ngày càng
lãnh đạo đã có những thành tựu rực rõ về kinh tế vào những năm 1980-1990 nhờ
cho phép thị trường được phát triển. Việt Nam hoà chung với sự thay đổi của thế
giới cũng đã chuyển nền kinh tế từ (tập trung quan liêu bao cấp) bước sang nền
"kinh tế thị trường dưới sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ