BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA THƯƠNG MẠI
-o0oNGUYỄN THỊ NHẬT HÀ
Lớp: 11DKQ1
Khóa:08
Đề án môn học 2
ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA
CÔNG TY TNHH HẢI NAM VÀ
GIẢI PHÁP GIÚP DOANH NGHIỆP
PHÒNG NGỪA RỦI RO TỶ GIÁ
Ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Chuyên ngành: KINH DOANH QUỐC TẾ
GVHD: Ths. ĐOÀN NAM HẢI
BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA THƯƠNG MẠI
-o0oNGUYỄN THỊ NHẬT HÀ
Lớp: 11DKQ1
Khóa: 08
TPHCM – 11/2014
Công ty XNK Thủy Hải Sản Hải Nam
Hải
GVHD: Ths. Đoàn Nam Hải
MỤC LỤC BẢNG
SVTH: Nguyễn Thị Nhật Hà
Trang 4
Công ty XNK Thủy Hải Sản Hải Nam
GVHD: Ths. Đoàn Nam Hải
MỤC LỤC BIỂU ĐỒ
SVTH: Nguyễn Thị Nhật Hà
Trang 5
Công ty XNK Thủy Hải Sản Hải Nam
GVHD: Ths. Đoàn Nam Hải
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TGHĐ: Tỷ giá hối đoái
XNK: Xuất nhập khẩu
XK: Xuất khẩu
NK: Nhập khẩu
NHNN (VN): Ngân Hàng Nhà Nước (Việt Nam)
cảm hơn, tác động của nó đến xuất nhập khẩu cũng mạnh mẽ hơn.
Tình hình tỷ giá hối đoái ở Việt Nam biến động tương đối liên tục và khó đoán.
Trong giao đoạn từ tháng 8/2011, tỷ giá bình quân liên ngân hàng được điều chỉnh
linh hoạt và duy trì ổn định ở mức 20.828 VND/USD từ cuối năm 2011. Tuy nhiên, từ
cuối tháng 5/2013, thị trường ngoại tệ có biến động, tỷ giá tăng và diễn biễn phức tạp
dù NHNN đã bán ngoại tệ can thiệp thị trường, điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân
hàng từ mức 20.828 VND/USD tăng 1% lên mức 21.036 VND/USD vào ngày
28/6.2013.
Đứng dưới góc độ một doanh nghiệp xuất nhập khẩu (XNK) không có quyền
điều chỉnh tỉ giá theo nhu cầu của mình nhưng lại chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi
TGHĐ. Vậy việc tăng hay giảm TGHĐ như vậy cụ thể tác động đến các doanh nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Nhật Hà
Trang 7
Công ty XNK Thủy Hải Sản Hải Nam
GVHD: Ths. Đoàn Nam Hải
xuất và nhập khẩu như thế nào? Có giải pháp nào giúp doanh nghiệp phòng ngừa các
rủi ro tỷ giá hay không?
Nhận thấy được tầm quan trọng của TGHĐ với hoạt động XNK của doanh
nghiệp, cũng như sự cần thiết của vệc dự đoán và đưa ra các giải pháp nhằm giúp
doanh nghiệp hạn chế rủi ro về tỷ giá; bằng sự quan tâm và hiểu biết của mình, em
quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Phân tích tác động của tỷ giá hối đoái đến hoạt
động xuất nhập của công ty XNK A trong giai đoạn 2009 đến 2013 và giải pháp
cho công ty giúp phòng ngừa rủi ro tỷ giá”.
Qua đề tài này, em mong muốn có thể áp dụng những kiến thức đã tiếp nhận
GVHD: Ths. Đoàn Nam Hải
Về hoạt động của doanh nghiệp, tỷ giá được sử dụng chủ yếu là VND/USD nên
việc phân tích sẽ tìm hiểu biến động của loại tỷ giá này và đồng ngoại tệ sử dụng
để phân tích là USD.
Ngoài ra, như đã đề cập, tỷ giá là vấn đề kinh tế vĩ mô nhạy cảm và hết sức phức
tạp, gây nhiều tranh cải trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Cho nên đề tài sẽ
có những giới hạn nhất định về kiến thức và mức độ chuyên sâu.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Từ Bảng báo cáo XNK, Báo cáo kết quả kinh doanh, Bảng tổng kết tài sản, Báo
cáo số dư ngoại tệ của Công ty XNK A qua các năm 2010, 2011, 2012, 2013.
Số liệu TGHĐ USD/VND thực tế trên thị trường giao dịch (chính thức) theo công
bố của NHNNd (www.sbv.gov.vn)
1.4.2 Phương pháp xử lý số liệu
Dùng các phương pháp phân tích sau:
Phân tích xu hướng tỷ giá USD/VND qua các năm 2010, 2011, 2012, 2013 để đưa
ra những nhận xét về thay đổi của tỷ giá.
Tính tỷ giá xuất khẩu của doanh nghiệp dựa vào giá mua tại thị trường trong nước
và giá … xuất khẩu qua các năm từ 2010 đến 2013, và so sánh với tỷ giá mua USD
của ngân hàng để đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu.
Khi tỷ giá tăng lên hay giảm xuống làm cho những khoản ngoại tệ: tiền gửi ngân
hàng, khoản phải thu, nợ phải trả thay đổi giá trị, ảnh hưởng đến tình hình tài
chính. Dùng kế toán chênh lệch tỷ giá và các tỷ số tài chính để phân tích tình hình
tài chính của doanh nghiệp như:
Các tỷ số về khả năng thanh toán: Phản ánh khả năng trả nợ ngắn hạn của
doanh nghiệp.
Các tỷ số về cơ cấu tài chính: Phản ánh mức độ tự chủ của doanh nghiệp
Công ty XNK Thủy Hải Sản Hải Nam
CHƯƠNG 2:
GVHD: Ths. Đoàn Nam Hải
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI
ĐOÁI ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
2.1 Tỷ giá hối đoái
2.1.1 Khái niệm
2.1.1.1
Tỷ giá hối đoái:
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng, thương mại, đầu tư
và các quan hệ tài chính quốc tế… đòi hỏi các quốc gia phải thanh toán với nhau.
Thanh toán giữa các quốc gia dẫn đến việc mua bán các đồng tiền khác nhau, đồng
tiền này lấy đồng tiền kia. Hai đồng tiền được mua bán với nhau theo một tỷ lệ nhất
định, tỷ lệ này gọi là tỷ giá hối đoái (TGHĐ).
Để có được câu trả lời chính xác, trước hết chúng ta hãy điểm qua một số khái
niệm về tỷ giá đang được sử dụng phổ biến:
1. Theo Thomas P. Fitch: Dictionary of Banking Terms. BARRON’S Third
Edition 1997, trang 169: “Exchange Rate is conversion price for exchange
one currency for another” (Tỷ giá hối đoái là giá chuyển đổi để trao đổi
một đồng tiền này lấy một đồng tiền khác).
2. Theo Peter Collin: Dictionary of Banking and Finance. P&P Collin 1996,
được cho nhau”.
7. Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, năm 2010: “Tỷ giá hối đoái
Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ
của Việt Nam”.
Như vậy, qua các khái niệm về tỷ giá cho thấy: Cách diễn đạt về TGHĐ là có
khác nhau và trong chừng mực nhất định cách hiểu về nội dung TGHĐ là chưa thật
thống nhất. Tuy nhiên, từ các quan điểm chung nhất, được thừa nhận rộng rãi ngày
nay theo cơ chế kinh tế thị trường, TGHĐ được khái niệm như sau: “Exchange rate is
the price of one currency in terms of another” (Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền
được biểu thị thông qua một đồng tiền khác)1.
2.1.1.2
Biến động tỷ giá hối đoái
TGHĐ là một trong các công cụ của chính sách tài chính – tiền tệ của Chính
phủ nên ngoài việc chịu điều tiết bởi cung cầu tiền tệ, TGHĐ còn chịut tác động bởi
các mục tiêu của các chính sách kinh tế - tài chính của quốc gia trong từng thời kì nhất
định. Trên thế giới, hầu hết các chính phủ đều tác động trực tiếp hay gián tiếp đến
TGHĐ. Mức độ tác động này phụ thuộc vào sự biến động của môi trường kinh tế vĩ
mô trong từng thời kì nhất định, mục tiêu của chính sách tiền tệ, niềm tin của công
chúng vào chính sách phát triển đất nước của chính phủ, sự tác động của nền kinh tế
1 GS. TS. Nguyễn Văn Tiến – Giáo trình Tài chính quốc tế - Học viện Ngân Hàng – NXB Thống Kê – Năm
2012 - trang 295
SVTH: Nguyễn Thị Nhật Hà
Trang 12
ít khi xảy ra hàng ngày hay hàng tuần. Tuy nhiên, trong thực tế đã có lúc tỷ giá thay
đổi khá nhiều khoảng 5% trong vòng 24 giờ đối với một vài loại tiền nào đó.
Trên thị trường ngoại hối toàn cầu, có thời điểm hầu hết ngoại tệ tăng giá so
với đô la, mặc dù với những tốc đô khác nhau. Trong khi đó vào những ngày khác, có
thể hầu hết các đồng tiền đều giảm giá so với đô la cũng với những tốc độ khác nhau.
Cũng có những ngày mà một vài đồng tiền tăng giá trong khi một vài đồng tiền khác
lại giảm giá so với đô la. Trong bối cảnh này, các báo cáo trên các phương tiện truyền
thông đại chúng sẽ bắt đầu bằng câu “the dollar was mixed in trading” tạm dịch là
đồng đô la bị pha loãng trong giao dịch2.
2.1.2 Các loại tỷ giá hối đoái
Có rất nhiều loại tỷ giá khác nhau tùy thuộc vào từng tiêu thức phân loại khác nhau.
2.1.2.1
Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối:
Tỷ giá chính thức (Official Rate)
Tỷ giá kinh doanh (bao gồm tỷ giá mua và tỷ giá bán)3
Tỷ giá chợ đen (Black Market Rate)4
2.1.2.2
Căn cứ vào thời điểm thanh toán:
Tỷ giá danh nghĩa
Tỷ giá thực:
Là tỷ giá đã được điều chỉnh theo sự thay đổi tương quan giá cả của nước có
đồng tiền yết giá và giá cả hàng hóa của nước có đồng tiền định giá. Tức là
TGHĐ danh nghĩa được điều chỉnh bởi chỉ số giá giữa hai nước.
E: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (theo phương pháp yết giá trực tiếp)
Pf: giá cả hàng hóa trung bình ở nước ngoài (thông thường lấy chỉ số giá – CPI)
Ph: Giá cả hàng hóa trung bình trong nước (thông thường lấy chỉ số giá – CPI)
Tỷ giá hối đoái chéo
2.1.2.4
Căn cứ vào phương tiện chuyển ngoại hối:
Tỷ giá điện hối
Tỷ giá thư hối
2.1.2.5
Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế:
Tỷ giá séc
Tỷ giá hối phiểu trả tiền ngay
Tỷ giá hối phiếu có kỳ hạn
và trả bằng VND, và được gọi là tỷ giá mua vào của ngân hàng (BID RATE). Tỷ giá
đứng sau 15.503 là tỷ giá mua đô la và thu VND, gọi là tỷ giá bán ra của ngân hàng
(OFFER RATE). Trên thực tế có nhiều cách yết giá nhưng xét từ góc độ quốc gia, ta
có hai phương pháp: yết tỷ giá trực tiếp và yết tỷ giá gián tiếp.
2.1.3.1
Phương pháp yết giá trực tiếp (Direct Quotation hay Price
Quotation)
Về mặt nguyên lý thì yết tỷ giá trực tiếp (hay yết giá ngoại tệ trực tiếp) không khác gì
yết giá hàng hóa thông thường trực tiếp. Nếu lấy quốc gia Việt Nam làm ví dụ, thì
VND đóng vai trò là tiền tệ còn các ngoại tệ đóng vai trò là hàng hóa, do đó yết giá
trực tiếp hàng hóa thông thường và yết giá trực tiếp ngoại tệ (hàng hóa đặc biệt) là
như nhau.
Ví dụ: 1 KG = 5.000 VND và 1 USD = 18.000 VND
Phương pháp yết tỷ giá như trên gọi là trực tiếp, bởi vì, giá ngoại tệ được bộc lộ trực
tiếp bằng tiền (VND), ta không cần tính toán gì thêm. Như vậy, phương pháp yết tỷ
giá trực tiếp là phương pháp yết giá ngoại tệ xét từ giác độ quốc gia, trong đó:
Ngoại tệ, với vai trò là hàng hóa (Commodity Currency), là đồng tiền yết giá,
có số đơn vị cố định và bằng 1 đơn vị
Nội tệ, với vai trò là tiền tệ (Terms Currency), là đồng tiền định giá, có số đơn
vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên Forex.
SVTH: Nguyễn Thị Nhật Hà
Trang 16
Công ty XNK Thủy Hải Sản Hải Nam
USD đóng vai trò là đồng tiền yết giá đối với tất cả các đồng tiền khác (trừ 5
đồng tiền dưới đây)
USD đóng vai trò là đồng tiền định giá đối với 5 đồng tiền là: GBP, AUD,
NZD, EUR và SDR.
SVTH: Nguyễn Thị Nhật Hà
Trang 17
Công ty XNK Thủy Hải Sản Hải Nam
GVHD: Ths. Đoàn Nam Hải
Chính vì vậy, khi niêm yết tỷ giá, NHTM cũng như màn hình Reuter người ta
không thể hiện USD, mà vẫn không có sự nhầm lẫn nào. Ví dụ, màn hình Reuter
yết tỷ giá ngày 2/11/2014:
JPY = 112.28
VND = 16.241
EUR = 1.2524
CHF = 0.96280
2.1.3.3.2 Về yết tỷ giá trực tiếp và gián tiếp:
Tất cả quốc gia trên thế giới (có cả Việt Nam) đều áp dụng phương pháp yết tỷ
giá trực tiếp (trừ 4 trường hợp dưới đây)
Các nước Anh, New Zealand, Úc và các nước đồng tiền chung EURO là dùng
phương pháp yết tỷ giá gián tiếp.
Trang 18
Công ty XNK Thủy Hải Sản Hải Nam
GVHD: Ths. Đoàn Nam Hải
(hay nằm dưới) đóng vai trò là yết giá. Các viết tỷ giá này thường gặp
trong sách vở, giáo trình và công trình nghiên cứu khoa học7.
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái trong ngắn, trung và dài
hạn
2.1.4.1
Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn8
Các nhân tố ngắn hạn được đề cập đến bao gồm: hành vi bầy đàn, tâm lý nhà đầu tư,
khối lượng đặt lệnh, sự phản ứng với tin tức và những biến động của giá vàng trong
ngắn hạn.
Hành vi bầy đàn9 (hiệu ứng mua theo – bandwagon effect).
Tâm lý, kỳ vọng của nhà đầu tư10 (Investors Psychology).
Khối lượng đặt lệnh (Order flow)11.
7 GS. TS. Nguyễn Văn Tiến – Giáo trình Tài chính Quốc Tế - Học viện Ngân Hàng – NXB Thống kê – Năm
2012 – trang 55 - 58
8 Khái niệm “ngắn hạn” trong bài đề cập đến những nhân tố có ảnh hưởng đến tỷ giá trong ngày hoặc trong một
vài ngày
9 Banerjee (1992) cho rằng hành vi bầy đàn là hành vi mọi người hành động theo những gì mà người khác đang
Các yêu tố ảnh hưởng đến tỷ giá trong trung và dài hạn
2.1.4.2.1 Lạm phát và lãi suất:
Ảnh hưởng của lạm phát và lãi suất đến tỷ giá hối đoái sẽ được làm rõ hơn khi xem
xét cơ chế truyền dẫn của các yếu tố này thông qua các lý thuyết về điều kiện tương
đương quốc tế (International Parity Conditinons), nhưng những ảnh hưởng của lạm
phát và lãi suất có thể tóm gọn như sau:
Ảnh hưởng của tỷ lệ lạm phát tương đối14.
Ảnh hưởng của lãi suất danh nghĩa15.
Ảnh hưởng của lãi suất thực16.
12 Theo nghiên cứu của Henriette và Marc (2004)
13 Sjaastad và Scacciavillani, The Price of gold and exchange rate, Journal of International Money and Finance,
Vol 15, No 6, 1996, trang 879 - 897
14 Murphy (2003) chỉ ra rằng việc đồng Yên Nhật bị định giá cao trong những năm 1990 có liên quan đến việc
tỷ lệ lạm phát tại Mỹ tăng cao trong giai đoạn này
15 Xem thêm Trần Ngọc Thơ – Nguyễn Ngọc Định – Giáo trình Tài chính Quốc tế - Lưu hành nội bộ - TPHCM
- 2013
16 Hiệu ứng Fisher: Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – Tỷ lệ lạm phát. Khi lạm phát tăng thì lãi suất danh
nghĩa tăng để đảm bảo mức lãi suất thực được chấp nhận bởi các chủ thể trong nền kinh tế. Triển vọng của lãi
suất thực có ảnh hưởng đến các kỳ vọng và hoạt động chi tiêu và đầu tư. Sau khi xác định được các kỳ vọng lạm
phát, nếu người tiêu dùng tin rằng lãi suất tiết kiệm sẽ không thay đổi hoặc tăng rất thấp, nghĩa là lãi suất thực sẽ
âm thì họ sẽ có khuynh hướng rút tiền gửi tiết kiệm và đầu tư vào bất động sản hoặc chứng khoán để bảo vệ sức
mua. Điều này sẽ tạo nên bong bóng trên thịt rường bất động sản và ngay lập tức sẽ làm cho CPI có xu hướng
gia tăng, vì thế, lãi suất thực sẽ có một biến số quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định tiêu dùng, đầu tư
của các chủ thể trong nền kinh tế, đồng thời cũng là biến số tác động đến kỳ vọng lạm phát. Điều này giải thích
vì sao NHNN các nước thường kiểm soát kỳ vọng lạm phát thông qua xu hướng của lãi suất thực. Thông
thường, NHNN sẽ bắt đầu tăng tỷ lệ lãi suất dần dần khi lạm phát tiền gần tới lãi suất tiền gửi danh nghĩa. Điều
này phát đi một tín hiệu là NHNN sẽ có khuynh hướng duy trì chính sách lãi suất thực dương. Dấu hiệu này
cũng sẽ làm suy yếu các kỳ vọng của thị trường về lãi suất thực âm và tăng giá của tài sản.
những năm 1990 Guncavdi, Bleaney và McKay (1998) trong khi xem xét trường hợp kích thích tài khoa của
Thổ Nhĩ Kỳ những năm 1990 đã nhận thấy chi tiêu chính phủ tăng cso thể giúp đồng nội tệ mạnh lên. Braun,
Ikeda và Joines (2005) trong nghiên cứu về cấu trúc chi tiêu tiết kiệm của Nhật Bản cho rằng: Việc duy tri một
tỷ lệ tiết kiệm trong dân cao có thể giúp giữ đồng nội tệ định giá cao.
21 Những cú sốc thương mại như biến động trong giá dầu, giá gạo… có tác động mạnh đến cán cân thương mại
và từ đó tác động đếnTGHĐ. Tuy nhiên trong nghiên cứu Alexius (2005), những biến động trong cú sốc thương
mại lại tác động đến tỷ giá thực trong dài hạn. Amano và Norden (1998), Chaudhuri và Daniel (1998) trong
nghiên cứu của mình ucngx cho thấy tác động dài hạn của cú sốc giá dầu lên tỷ giá trong trường hợp của Mỹ.
Hoang và Guo (2007) cũng cho thấy tác động của cú sốc giá dầu lên tỷ giá thực của Trung Quốc.
22 Trong thương mại quốc tế và kinh tế học, tỷ lệ mậu dịch được hiểu là tỷ lệ giá hàng hóa XK/ Giá hàng hóa
NK. Ảnh hưởng của tỷ lệ mậu dịch trong việc xác định biến động tỷ giá đã được rất nhiều nhà kinh tế học đề
cập đến. Chẳng hạn Stockman (1969) trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng tỷ lệ mậu dịch là một bieend
then chốt và chiếm vai trò quan trọng trong việc lý giải biến động TGHĐ. Với giả định là các yếu tố vĩ mô
không thay đổi: không có sự thay đổi trong cung tiền và không có sự can thiệp của chính phủ lên thị trường
ngoại hối, Stockman (2004) cho rằng nguyên nhân dẫn đến thay đổi trong tỷ giá và tỷ lệ mậu dịch có cùng
nguồn gốc: Nguồn cung và những cú sốc về cầu hàng hóa. Friedman (1953) giải thích rằng sự thay đổi trong tỷ
lệ mậu dịch phản ánh kỳ vọng của người dân vào việ nắm giữ đồng nội tệ hay ngoại tệ. Theo đó, khi tỷ lệ mậu
dịch tăng thì người dân có khuynh hướng nắm giữ đồng nội tệ, điều này làm ảnh hưởng đến TGHĐ. Chẳng hạn
khi người dân Mỹ gia tăng nhu cầu tiêu thị ti vi của Nhật sẽ làm tăng cầu đồng Yên, và điều này tăng giá đồng
Yên (Machlup, 1972). Như vậy, có thể nói rằng TGHĐ chịu ảnh hưởng của tỷ lệ mậu dịch thông qua tài khoàn
vãng lai.
23 Trần Ngọc Thơ – Phương pháp tiếp cận cơ chế điều hành tỷ giá ở Việt Nam – 2006 – trang 6
24 Xem thêm: Adnan Kasman và Duygy Ayhan (2007), Foreign exchange reserves and exchange rates in
Turkey: Structural breaks, unit roots and cointergration, Economic Modelling 25 (2008) – trang 83 - 92
SVTH: Nguyễn Thị Nhật Hà
Trang 21
Bên cạnh đó, cũng thấy được mối quan hệ hai chiều giữa TGHĐ và lạm phát.
Cụ thể:
Lãi suất có mối tương quan nghịch chiều với TGHĐ. Một sự tăng lên
trong lãi suất sẽ có tác dụng làm giảm TGHĐ (tăng giá ngoại tệ). Tác
động của lãi suất cho thấy công cụ lãi suất thực sự có hiệu quả ở độ trễ
4, tức phản ứng của TGHĐ với lãi suất là tương đối lâu.
25 Tỷ giá thị trường tự do được quyết định bởi cung cầu trên thị trường tự do. Các nguồn cung và cầu trên thị
trường tự do bao gồm: kiều hối, du lịch nước ngoài, buôn lậu và các doanh nghiệp không tiếp cận được nguông
ngoại tệ chính thức. Giao dịch tự do tại Việt Nam được thực hiện chủ yếu tại các tiệm vàng hoặc các đại lý thu
đổi ngoại tệ không chính thức.
26 Điều này được đề cập đến trong niên giám tiền tệ thế giới (World Currency Yearbook). Niên giám này cung
cấp dữ liệu theo tháng về TGHĐ trên thị trường chợ đen của các quốc gia. Niên giám này cũng phân loại các
quốc gia có thị trường hối đoái chợ đen theo bốn dạng: Hoàn toàn tự do (Free), tự do có quản lý (Liberal),
nghiêm ngặt (Strict) và độc đoán (Dictatorial).
27 Xem thêm:. … - Trang 27 – 32
28 Xem thêm: … - Trang 35 – 39
SVTH: Nguyễn Thị Nhật Hà
Trang 22
Công ty XNK Thủy Hải Sản Hải Nam
GVHD: Ths. Đoàn Nam Hải
Cùng với giá gạo, lãi suất, cung tiền và thu nhập quốc gia, tỷ giá hối
đoái là những nhân tốt quyết định lạm phát ở Việt Nam29.
TGHĐ tác động mạnh mẽ đến lạm phát qua các thời kỳ và gần như ngay
31 Xem thêm: “…” – trang 55: Sử dụng phương pháp phần tích hồi quy – bình phương bé nhất (OLS)
32 Xem thêm: “…” – trang 47 - 49
SVTH: Nguyễn Thị Nhật Hà
Trang 23
Công ty XNK Thủy Hải Sản Hải Nam
GVHD: Ths. Đoàn Nam Hải
2.1.5.1.1 Chế độ bản vị vàng 1875 – 1944
Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, thương mại và thanh toán quốc tế được thực hiện
dựa trên chế độ TGHĐ “bản vị vàng”. Chế độ TGHĐ “bản vị vàng” có 3 đặc điểm nổi
bật:
Một là, chính phủ mỗi nước cố định giá vàng tính bằng đồng tiền trong nước
của họ
Hai là chính phủ mỗi nước duy trì khả năng chuyển đổi đồng tiền trong nước ra
vàng.
Ba là các chính phủ cố tuân theo quy tắc gắn liền việc phát hành đồng tiền với
lượng dự trữ vàng nhà nước nắm giữ. Những đặc điểm này của chế độ TGHĐ
“bản vị vàng” tạo nên chế độ TGHĐ danh nghĩa cố định.
2.1.5.1.2 Chế độ tỷ giá Bretton Woods 1945 – 1972
Chế độ TGHĐ “bản vị vàng” đã thực sự làm thương tổn đến nền kinh tế nhiều nước
và góp phần gây ra những giai đoạn suy thoái lâu dài, sâu sắc vào những năm đầu của
thế kỷ 20, như cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 có tính chất hệ thống của các
nước Tư bản chủ nghĩa. Trước khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, hội nghị 44
nước họp tại Bretton Woods, bang New Hampshise của Mỹ, để thiết lập một hệ thống
tiền tệ thế giới mới nhằm thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế. Chế độ
tỷ giá “thả nổi”.
Cơ sở cơ bản được dùng làm căn cứ xác định tỷ giá thả nổi là quan hệ cân bằng cung
cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Nó cũng chính là lý lẽ căn bản của các nhà kinh
tế tán thành phát triển kinh tế dựa vào cạnh tranh tự do. Chế độ tỷ giá này cho phép
xác định một tỷ giá danh nghĩa gần với sức mua thực tế của dồng tiền các nước.
Trên thực tế không có sự tồn tại một chế độ tỷ giá hoàn toàn thả nổi mà thường chỉ
tồn tại chế độ tỷ giá phối hợp giữa “thả nổi” và “cố định”. Đó là chế độ TGHĐ “thả
nổi có quản lý” hay còn gọi là chế độ tỷ giá linh hoạt – chế độ tỷ giá mà nhiều nước
hiện nay đang theo đuổi. Đây là, một chế độ tỷ giá trung gian giữa tỷ giá cố định với
tỷ giá thả nổi, trong đó TGHĐ cần có khả năng phản ánh được những biến động
thường xuyên và đột ngột của các nhân tố ngắn hạn để duy trì được khả năng ổn định
trong dài hạn. Một TGHĐ như thế đòi hỏi phải được điều chỉnh để duy trì ổn định
thay đổi ở những mức khác nhau, tủy thuộc vào điều kiện và trạng thái của nền kinh tế
trong những thời kỳ khác nhau.
2.1.5.2
Tổng quan về cơ chế điều hành tỷ giá ở Việt Nam
Trước năm 1989, Việt Nam sử dụng cơ chế đa tỷ giá: tỷ giá kết toán nội bộ, tỷ giá hối
đoái và tỷ giá thanh toán nhập khẩu. Từ tháng 3/1989, tỷ giá đã thống nhất thành một
mức tỷ giá chính thức là 4.500 VND/USD. Các NHTM được phép giao dịch với biên
độ +/- 0,5% tỷ giá chính thức do NHNN VN quy định
SVTH: Nguyễn Thị Nhật Hà
Trang 25