BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài
Tỷ giá hối đoái và tác động của tỷ giá
đến ngoại thương Việt Nam
Giáo viên hướng dẫn: T.S Nguyễn Hữu Khải
Sinh viên : Vũ Thị Bích Thu
Lớp : A10K38C
Hà Nội, 12/2003
1
Chương 1: Lý luận chung về tỷ giá hối đoái và tác động của tỷ giá tới
ngoại thương
Tỷ giá hối đoái là một trong những biến số kinh tế vĩ mô hết sức nhạy cảm.
Tỷ giá biến động từng ngày, từng giờ và chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố. Bên
cạnh các yếu tố mà ảnh hưởng của chúng đến tỷ giá dễ dàng nhận biết như cung cầu
ngoại hối, lãi suất, lạm phát, cán cân thanh toán…tỷ giá còn chịu tác động bởi
những yếu tố nếu thoáng qua sẽ tưởng như chẳng có mối ràng buộc nào cả. Ví như
công việc của một người bán hàng rong: xét một cách cụ thể công việc của một
người bán hàng rong ảnh hưởng đến thu nhập của anh ta, đến lượt thu nhập lại tác
động lên chi tiêu thực tế, gây ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng và cuối cùng là tỷ
giá hối đoái thực tế. Mặc dù biến động của tỷ giá hối đoái là vô cùng phức tạp song
tỷ giá luôn là đề tài hấp dẫn đối với giới nghiên cứu kinh tế cũng như các nhà quản
lý vĩ mô trong bối cảnh tự do hóa thương mại hiện nay. Các quốc gia trên thế giới từ
lớn đến nhỏ, từ mạnh đến yếu đều ý thức được rằng tỷ giá hối đoái sẽ là một công
cụ hữu hiệu, một liều thuốc cứu cánh cho thương mại các quốc gia nói chung cũng
như ngoại thương nói riêng đang trong tình trạng hấp hối. Việc nghiên cứu những lý
luận cơ bản về tỷ giá hối đoái dưới đây do đó sẽ giúp ta hiểu hơn tại sao tỷ giá hối
đoái lại quan trọng đối với các quốc gia đến như vậy.
euro, đồng tiền chung Châu Âu) trên thị trường Việt Nam ngày 5/11/2003 là
18.142VND và ở đây giá 1EUR đã được biểu hiện trực tiếp bằng VND.
*Tỷ giá là giá cả của đồng nội tệ tính theo ngoại tệ. Đây là khái niệm chỉ
cách yết giá gián tiếp (nội tệ/ngoại tệ), ví dụ như tỷ giá CNY/VND (CNY: Nhân
dân tệ) tại Bắc Kinh là 1.842, giá VND chưa biểu hiện ra bên ngoài, do vậy để biết
được giá VND, phải tiến hành chuyển đổi như sau: 1VND = 1/1.842CNY.
Điều 4 mục 3.5 nghị định của Chính phủ về quản lý ngoại hối ban hành 17/8/1998
quy định: Tỷ giá hối đoái là giá một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền
tệ Việt Nam.
Để tiện nghiên cứu, trong toàn bộ đề tài này nếu không có ghi chú gì đặc biệt
thì tỷ giá tăng sẽ được hiểu là tỷ giá nội tệ tăng tức đồng nội tệ tăng giá, còn tỷ giá
giảm sẽ được hiểu là tỷ giá nội tệ giảm, đồng nội tệ giảm giá. Điều này cũng có
nghĩa phá giá làm tỷ giá hối đoái giảm còn nâng giá làm tỷ giá hối đoái tăng.
3
Trong cách viết EUR/VND, EUR đứng trước gọi là tiền yết giá và là một đơn vị
tiền tệ; VND đứng sau là tiền định giá, là một số đơn vị tiền tệ thay đổi phụ thuộc
vào thời giá của tiền yết giá
(35)
.
1.1.2.Cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái có một quá trình phát triển lâu dài, trải qua nhiều chế độ khác
nhau, các chế độ tỷ giá hối đoái luôn gắn liền với quá trình hình thành và phát triển
của thương mại thế giới. Từ chế độ bản vị vàng (1875-1914) đến chế độ bản vị hối
đoái vàng (1944-1972) rồi chế độ tỷ giá thả nổi, thả nổi có quản lý (1975 - nay), tỷ
giá đều được hình thành trên tương quan so sánh giá trị đồng tiền quốc gia này với
quốc gia khác bất kể đó là vàng hay là tiền tệ của một quốc gia đơn lẻ nào đó. Có
thể nói trong lịch sử phát triển của mình, tỷ giá được hình thành trên hai ngang giá
chính đó là ngang giá vàng và ngang giá sức mua.
1.1.2.1.Ngang giá vàng:
Trước năm 1850, rất nhiều quốc gia trên thế giới theo đuổi một chế độ tiền tệ
Chế độ bản vị vàng với cơ chế ngang giá vàng đã đem lại nguồn lợi cho rất
nhiều quốc gia đặc biệt là Anh. Tuy nhiên đến cuối thế kỉ 19, các mỏ vàng đứng
trước nguy cơ bị khai thác hết, lượng cung vàng khan hiếm dần, tình trạng giảm
phát liên tiếp xảy ra, một cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái mới xuất hiện: Cơ chế
ngang giá sức mua.
1.1.2.2. Ngang giá sức mua:
Thời kì bản vị vàng qua đi, tiền giấy đảm nhận toàn bộ chức năng thanh toán,
cùng với việc giấy bạc không được tự do đổi ra vàng theo hàm lượng vàng ấn định,
ngang giá vàng không còn là cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái; thay vào đó, việc so
sánh hai đồng tiền với nhau được thực hiện bằng so sánh sức mua của hai loại tiền
tệ. Tỷ giá hối đoái hình thành trên cơ chế ngang giá sức mua ra đời. Và để nghiên
cứu cơ chế này, chúng ta hay cùng nhau tìm hiểu thuyết ngang giá sức mua.
Ý tưởng ngang giá sức mua xuất phát từ thế kỉ thứ 19 với sự góp mặt của nhà
kinh tế học trường phái cổ điển David Ricardo, sau đó được mở rộng và hệ thống
hóa bởi nhà kinh tế học Thụy Điển Gustav Cassel những năm 1920. Ngang giá sức
mua nhanh chóng được đón nhận trong bối cảnh siêu lạm phát diễn ra ở Đức,
Hungari và Liên bang Xô Viết khi sức mua tiền tệ các quốc gia này đột nhiên sụt
5
giảm bất ngờ. Thuyết ngang giá sức mua được xây dựng trên sự phát triển qui luật
một giá cho rằng: Tỷ giá hối đoái giữa tiền tệ hai quốc gia sẽ bằng tỷ lệ giữa mức
giá của hai quốc gia đó. Từ đây, tỷ giá hối đoái được hình thành như sau: nếu xem
P
D
là mức giá của giỏ hàng hóa trong nước (tính bằng nội tệ), P
F
là mức giá của giỏ
hàng hóa (tính bằng ngoại tệ) thì :
Tỷ giá hối đoái (số đơn vị nội tệ /1 đơn vị ngoại tệ) = P
D
/ P
sức mua.
1.1.3. Phân loại:
6
Tỷ giá hối đoái trên cơ sở thực tiễn đã được phân làm nhiều loại, dựa trên
những căn cứ khác nhau mà người ta phân loại ra những cặp tỷ giá khác nhau.
Trong khuôn khổ của đề tài, người viết xin đưa ra những tỷ giá tiêu biểu nhất được
xem là khuôn mẫu cho quá trình vận động của tỷ giá.
*Căn cứ vào thời điểm thanh toán:
_Tỷ giá giao ngay: là tỷ giá dùng cho các mua bán ngoại hối thanh toán ngay
vào ngày hôm đó hoặc sau đó 2 ngày.
_ Tỷ giá kỳ hạn : là tỷ giá được dùng cho các giao dịch kỳ hạn, thời gian giữa
ngày kí hợp đồng và ngày giao tiền thường kéo dài từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9
tháng hay 1 năm.
*Căn cứ vào tính chất của tỷ giá:
_Tỷ giá danh nghĩa: Tỷ giá danh nghĩa được hiểu là tỷ giá đo lường giá trị
danh nghĩa của đồng tiền mà không phản ánh sức cạnh tranh của hàng hóa trong
nước trong trao đổi thương mại quốc tế. Sự phá giá tỷ giá danh nghĩa vì vậy cũng
không phản ánh được sự thay đổi trong tính cạnh tranh quốc tế hàng hóa một nước
như tỷ giá thực tế trình bày dưới đây.
_Tỷ giá thực tế
(i)
: là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh theo mức giá tương
đối giữa các nước, có tính đến sức mua thực tế và quyết định tính cạnh tranh của
hàng hóa quốc gia.
*Căn cứ vào phương tiện thanh toán:
_Tỷ giá điện hối: tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện, là cơ sở xác định các loại
tỷ giá khác
_ Tỷ giá thư hối: tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư.
(i)Tỷ giá danh nghĩa được công bố hàng ngày trên thông tin đại chúng trong khi tỷ
giá thực tế phải được tính toán dựa trên tỷ giá danh nghĩa như sau:
_Tỷ giá thả nổi hoàn toàn: tỷ giá thả nổi được ưa chuộng sau khi hệ thống
Bretton Wood sụp đổ, tỷ giá thả nổi hoàn toàn được xác lập hoàn toàn dựa trên cung
cầu ngoại hối, sự vận động hàng ngày của tỷ giá thả nổi đều phản ánh chính xác sự
luân chuyển các luồng tiền tệ giữa các quốc gia, ngân hàng trung ương sẽ không còn
gặp nguy cơ cạn kiệt dự trữ ngoại hối như trong trường hợp tỷ giá cố định nữa,
chính sách tiền tệ trở nên độc lập hơn Tuy vậy, trong sự vận động không hoàn hảo
8
của thị trường, tỷ giá hoàn toàn thả nổi cũng ẩn chứa nhiều rủi ro; đó là hễ tỷ giá hối
đoái thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi trong cán cân thanh toán, cụ thể hơn là cán cân
thương mại để phù hợp với mức tỷ giá mới. Tỷ giá thả nổi sẽ luôn gây ra sự sụt giá
trên thị trường nội địa do những thay đổi về lợi nhuận của các nhà đầu tư, các nhà
xuất- nhập khẩu. Chưa hết, tỷ giá thả nổi còn là miếng mồi béo bở cho những kẻ
đầu cơ tiền tệ, việc đầu cơ theo trào lưu rất dễ gây tổn thương khu vực tài chính,
tiền tệ của nền kinh tế.
_Tỷ giá thả nổi có quản lý: Đây là loại tỷ giá được ưa chuộng nhất, đứa con
ruột của cuộc hôn phối giữa tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi, nó khắc phục được các
nhược điểm của cả hai loại tỷ giá trên. Trong tỷ giá thả nổi có quản lý, tỷ giá vận
hành theo sự biến động cung cầu thị trường, chính phủ sẽ can thiệp vào thị trường
ngoại hối khi cần thiết, việc điều chỉnh tỷ giá sẽ dựa trên điều chỉnh tỷ giá chính
thức. Tỷ giá thả nổi có quản lý một mặt phản ánh cung cầu ngoại hối, mặt khác đáp
ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế thông qua việc điều chỉnh tỷ giá của
nhà nước nên được các quốc gia rất ưa chuộng. Tính từ đầu năm 1970 đến nay, số
quốc gia áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý đã tăng từ 23% (trong tổng số các
quốc gia) lên tới 84% năm 2002 và Việt Nam chúng ta cũng nằm trong số các quốc
gia này
(47)
.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế mở:
Dưới con mắt các nhà kinh tế học, tỷ giá hối đoái luôn vận động theo những
biến động vĩ mô của nền kinh tế. Mặc dù khoác cho mình tấm áo tỷ giá danh nghĩa
tổng số quốc gia trong đó có Việt Nam theo đuổi chiến lược mở cửa nền kinh tế,
phần này sẽ chỉ tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái trong
nền kinh tế mở và hãy bắt đầu bằng một nhân tố quen thuộc: Độ mở nền kinh tế.
1.2.1. Độ mở nền kinh tế:
Theo Tiến sĩ kinh tế học Johnathan Heward hiện đang là giảng viên trường
Đại học Arizona (Mỹ) thì độ mở nền kinh tế chính là mức độ mà một quốc gia tham
gia thương mại quốc tế, quan hệ quốc tế, tiến hành việc giao lưu hàng hóa, tiền tệ,
lao động, bí quyết công nghệ và vốn với phần còn lại của thế giới. Ông cũng đã tiến
hành nghiên cứu và đặt trọng số về độ mở nền kinh tế, vấn đề này có thế được khái
quát giản đơn bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Sơ đồ giới hạn mức độ mở cửa
Mức độ mở cửa (%)
10
0 50 +100
(Đóng cửa) (Độ mở trung bình) (Hoàn toàn mở cửa)
Nguồn: Báo cáo chiến lược kinh tế bang Arizona (Mỹ), 11/2001.
Ở mức 0%, nền kinh tế trong trạng thái “ngủ”, nhân tố mở không còn, khái
niệm độ mở không tồn tại và do đó cũng sẽ không có tác động của độ mở nền kinh
tế lên tỷ giá hối đoái. Mức 0% đến 50% là các quốc gia có độ mở vừa phải, đa số là
các quốc gia đang phát triển, nền kinh tế nhỏ mở cửa, thu nhập bình quân đầu
người ở mức thấp đến trung bình (dưới 1000 USD) trong đó có thể kể đến Lào,
Việt Nam, Tuynidi, Nevanda… Việc mở cửa nền kinh tế các quốc gia này được tiến
hành một cách từ từ, có tính chất thăm dò và chủ yếu dựa trên các hiệp định thương
mại song phương, mục đích kinh tế vẫn còn bị chính trị chi phối, mọi khía cạnh tự
do hóa thị trường tài chính, tự do hóa đầu tư, lãi suất…vẫn còn nằm trong ý chí chủ
quan của nhà nước. Mức trung bình đến 90% là mức độ mở cửa của các quốc gia
như Mỹ, Nhật, EU, Canada… các quốc gia này tìm kiếm tự do hóa thương mại dựa
trên hiệp định cả song phương lẫn đa phương, việc mở cửa kinh tế không đơn thuần
chỉ dựa vào các hoạt động thương mại mà còn liên kết với nhau trên các lĩnh vực
như quân sự, hàng không, thám hiểm vũ trụ, đại dương. Tuy nhiên, cho dù mở cửa
khuyến khích đầu tư thường hạn chế, đầu tư nước ngoài không phản ánh đúng vai
trò của nó, không kích thích sản xuất, tiêu dùng, sản phẩm trong nước chất lượng
yếu kém song dân chúng vẫn bắt buộc phải mua do cung có giới hạn dẫn đến vấn đề
giảm giá đồng nội tệ do sức mua đồng nội tệ giảm. Hiệu ứng trên có thể xem là
ngược lại đối với các quốc gia có độ mở cửa lớn.
Tuy nhiên, có thể thấy độ mở cửa càng cao thì rủi ro tài chính tiền tệ càng
lớn, quốc gia tiến hành mở cửa sẽ bị phụ thuộc khá nhiều vào các tác động bên
ngoài, tỷ giá hối đoái do đó rất dễ bị tổn thương. Mức độ giao lưu vốn, liên kết trực
tiếp lãi suất nội địa và lãi suất quốc tế sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến tính hiệu
lực của tỷ giá. Trong trường hợp quốc gia cố định tỷ giá kèm theo tự do giao lưu
vốn thì một sự giảm trong lãi suất quốc tế cũng sẽ dẫn đến lãi suất nội địa giảm, làm
tăng sức ép đối với tỷ giá thông qua cán cân vãng lai.
12
Việc mở cửa, mức độ hội nhập bản thân nó đã thôi thúc các quốc gia đến
các quyết định ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương về tỷ
giá hối đoái. Đó là trường hợp các thành viên của Cộng đồng kinh tế Châu Âu (sau
là Liên minh Châu Âu: EU) đã cùng nhau kí kết Hiệp định Roma năm 1957, ấn định
tỷ giá hối đoái giữa các nước thành viên và từ đó đến nay, mặc dù có được điều
chỉnh một vài lần song tỷ giá hối đoái giữa các quốc gia thành viên Liên minh kinh
tế Châu Âu này luôn được giữ ổn định, dao động trong biên độ thấp nhằm tránh các
cú sốc kinh tế bên ngoài gây bất ổn cho tỷ giá và nền kinh tế các quốc gia này
(46)
.
Năm 2003, các nước thành viên EU mặc dù đã quen với việc sử dụng đồng tiền
chung, song việc cố định tỷ giá cộng với trình độ phát triển không đồng đều giữa
các nước thành viên đã khiến mức giá tại một số quốc gia như Bỉ liên tục tăng, gây
căng thẳng cho NHTW Châu Âu trong việc ghìm giữ mức tỷ giá theo luật định.
Cuối cùng, có thể nói lý thuyết cũng như thực tế đã chỉ ra rằng thước đo độ
mở cửa không phải yếu tố nào khác mà chính là mức độ bảo hộ nền kinh tế, nếu các
biện pháp bảo hộ càng cao thì cũng đồng nghĩa với độ mở cửa nền kinh tế càng hẹp.
trong việc điều chỉnh tỷ giá, một sự gia tăng lãi suất nội tệ thường được sử dụng
như một bảo bối kinh điển để bảo vệ tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn. Năm 1989,
Chính phủ Việt Nam đã có những nhận thức cơ bản trong chính sách lãi suất, lần
đầu tiên đã phân biệt được lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa (lãi suất thực tế
= lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát; nếu lãi suất danh nghĩa = tỷ lệ lạm phát thì lãi
suất thực tế = 0, điều này đồng nghĩa với việc gửi tiền không được lãi ), lãi suất tiền
gửi nội tệ đã được nâng rất cao vào tháng 3 năm 1989 (12%/tháng) và đã thu hút
được một lượng tiền mặt lớn vào ngân hàng, sự sụt giá tiền đồng Việt Nam được
Q (JPY)
D’
22
D
S
1 2
E(VND/JPY)
Q
2
Q
1
14
Trong đó: Q (JPY) là lượng ngoại tệ
E (VND/JPY) tỷ giá giữa
Bên cạnh lý thuyết cân bằng lãi suất, thực tế đã chứng minh sự chênh lệch lãi
suất là căn nguyên cơ bản dẫn đến những biến động của tỷ giá hối đoái. Lãi suất
cao sẽ hấp dẫn các luồng vốn nước ngoài chảy vào trong nước, nếu lãi suất nội tệ
cao hơn lãi suất ngoại tệ ở nước ngoài thì dòng vốn ngắn hạn chảy vào chủ yếu làm
chuyển hóa lượng ngoại tệ sang nội tệ để được hưởng lãi cao hơn, điều này dẫn đến
cung ngoại tệ tăng (cầu nội tệ tăng) từ đó đồng ngoại tệ sẽ giảm giá còn nội tệ sẽ
tăng giá. Trường hợp ngược lại sẽ cho hiệu ứng ngược lại. Nói một cách tổng quát,
nếu lãi suất trong nước cao hơn lãi suất nước ngoài thì sẽ dẫn đến nhập khẩu tiền tệ,
còn lãi suất nước ngoài cao hơn, sẽ xuất hiện xuất khẩu tiền tệ với điều kiện lãi suất
xem xét phải được cân nhắc dựa trên lãi suất thực tế và chỉ có lãi suất thực mới tạo
nên sự nhập hoặc xuất khẩu vốn, từ đó mới gây tác động thực đến tỷ giá hối đoái.
Năm 2003, USD mất giá nghiêm trọng, bên cạnh các nguyên nhân mất lòng tin từ
phía các nhà đầu tư Mỹ, cuộc chiến tại Irắc khiến chính quyền Bush tiêu tốn hàng tỷ
15
đô la thì vấn đề chênh lệch lãi suất cũng được xem là yếu tố khiến đồng đô la mất
giá nghiêm trọng so với Euro. Trước tháng 10 năm 2003, trong khi Mỹ vẫn duy trì
lãi suất cơ bản đối với đồng USD ở mức 1,25% thì ngân hàng trung ương Châu Âu
ECB lại duy trì lãi suất cơ bản đối với đồng Euro ở mức 2,5% (gấp đôi mức lãi suất
của Mỹ), chính khoảng cách chênh lệch này đã khiến các tài sản định giá bằng đồng
EUR trở nên hấp dẫn hơn đồng USD, cầu Euro tăng mạnh, đồng đôla sụt giá
nghiêm trọng, tính đến tháng 11 năm 2003, sau khi cả FED (Cục dự trữ liên bang
Mỹ) và ECB đồng loạt cắt giảm lãi suất xuống mức tương ứng là 1% (mức thấp kỉ
lục trong lịch sử nước Mỹ từ trước đến nay) và 1,75%, đồng USD đã mất giá gần
30% so với đồng Euro
(24)
.
Mặt khác, bên cạnh việc nâng hoặc giảm lãi suất danh nghĩa, ngân hàng trung
ương còn có thể tác động vào lãi suất chiết khấu, điều chỉnh mức độ tăng giảm cung
tiền, gián tiếp ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Cung tiền giảm đồng nghĩa với tỷ giá
hối đoái tăng, cung tiền tăng đi đôi với tỷ giá hối đoái giảm…
Lạm phát được xem là sự biểu thị của mức tăng giá chung, lịch sử ra đời lạm
phát gắn liền với sự xuất hiện của kinh tế thị trường. Lạm phát thường bị coi là căn
bệnh kinh niên của nền kinh tế, nếu lạm phát ở mức vừa phải tức chỉ số giá tiêu
dùng CPI
(ii)
nằm trong khoảng 1,01-1,06 (lạm phát khoảng từ 1% đến 6%) thì nền
kinh tế được xem là vận động có hiệu quả. Lạm phát vừa phải và ổn định sẽ kích
thích cầu đầu tư, tiêu dùng, nhờ đó thúc đẩy sản xuất, đảm bảo tăng trưởng kinh tế,
thúc đẩy xuất khẩu, tỷ giá có xu hướng giảm giá nhẹ. Trong trường hợp lạm phát
cao hoặc siêu lạm phát, đồng tiền sẽ mất giá mạnh, một sự gia tăng lạm phát lớn
hơn mức tăng tỷ giá có thể sẽ dẫn đến một sự “phá giá”, bóp méo cơ chế truyền dẫn
vốn có giữa lạm phát và tỷ giá, sự vận động của lạm phát sẽ trở nên độc lập với tỷ
giá hối đoái và rất khó kiểm soát.
(ii) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI: Consumer Price Index) là thước đo lạm phát được sử
dụng rộng rãi nhất. CPI đo lường chi phí mua một lô hàng chuẩn tại những thời
điểm khác nhau và được xây dựng dựa trên việc gắn quyền số cho những lô hàng
khác nhau của một giỏ hàng hóa kiểu mẫu.
(23)
Trong trường hợp lạm phát chỉ xảy ra ở một nước, mức giảm tỷ giá đối với
tiền tệ các nước bất kỳ sẽ được xem bằng với mức lạm phát ở quốc gia đó. Cụ thể
hơn, nếu mức lạm phát tại nước A là 6%/năm thì đồng tiền nước A sẽ bị giảm giá
17
6% tương ứng so với đồng tiền nước B trong trường hợp nước B không có lạm phát.
Nếu lạm phát xảy ra đồng thời ở cả hai quốc gia A và B với mức lạm phát lần lượt
là 3% và 4% thì đồng tiền nước A được xem là tăng giá 1% so với đồng tiền nước
B. Tức nước nào có mức độ lạm phát cao hơn, sức mua đồng tiền nước đó sẽ thấp
hơn và đồng tiền nước đó sẽ giảm giá tương ứng đúng bằng mức chênh lệch lạm
phát giữa hai nước.
Lạm phát càng tăng, sức mua thực tế đồng nội tệ càng giảm, dân chúng sẽ tìm
mọi cách “vứt” đồng tiền của mình đi càng nhanh càng tốt, họ tích trữ vàng, động
nhất định (thường là một năm)
(40)
, thuật ngữ này luôn được xem là trọng tâm chú ý
của các nhà kinh tế cũng như chính trị học trên toàn thế giới. Những gì xảy ra đối
với cán cân thanh toán quốc gia hay đúng hơn là trạng thái cán cân thanh toán luôn
được chính phủ để mắt bởi nó có ảnh hưởng không nhỏ đến tỷ giá hối đoái và tình
hình kinh tế trong nước. Cán cân thanh toán ghi chép mọi khoản thu ngoại tệ (+) và
chi ngoại tệ (-) của một nước đối với nước ngoài. Thặng dư cán cân thanh toán có
nghĩa là các khoản thu ngoại tệ lớn hơn các khoản chi ngoại tệ và thâm hụt đồng
nghĩa với chi ngoại tệ lớn hơn thu ngoại tệ. Với tình trạng thâm hụt cán cân thanh
toán, chính phủ có thể tăng lãi suất, giảm nhu cầu nhập khẩu, tiến hành kiểm soát
xuất nhập khẩu, ngoại hối cũng như sự chu chuyển các luồng vốn nhằm mục đích
ổn định tỷ giá.
Cán cân thanh toán bao gồm các khoản mục chủ yếu là: Tài khoản (cán cân)
vãng lai, tài khoản vốn và tài khoản dự trữ chính thức (trong cán cân vãng lai có sự
góp mặt của cán cân thương mại, ghi chép mọi hoạt động ra vào của ngoại tệ thông
qua xuất nhập khẩu hàng hóa hữu hình). Việc cân bằng cán cân thanh toán không có
nghĩa là các tài khoản vãng lai và vốn phải đồng thời cân bằng, mà tài khoản vãng
lai có thể thâm hụt, trong khi tài khoản vốn thặng dư. Tuy nhiên do những biến
động của các luồng vốn ngắn hạn, dài hạn, của thương mại quốc tế mà hiếm khi cán
cân thanh toán được cân bằng, đây là nguyên nhân trực tiếp và tổng quát dẫn đến sự
thay đổi của tỷ giá. Cần lưu ý là khái niệm không cân bằng trong cán cân thanh toán
hiện nay không phải là cán cân thanh toán với ý nghĩa đầy đủ của nó mà thường
được sử dụng để chỉ tổng cán cân vãng lai và cán cân vốn. Điều đó có nghĩa là một
sự thâm hụt trong cán cân thanh toán có nghĩa là cán cân dự trữ chính thức tăng lên,
trái lại, một sự thặng dư trong cán cân thanh toán đồng nghĩa với việc cán cân dự
19
trữ sẽ giảm xuống. Với cấu trúc cán cân thanh toán như vậy, ảnh hưởng của cán cân
thanh toán đến tỷ giá hối đoái sẽ được phân tích qua cán cân vãng lai và cán cân
vốn.
(7)
(tức là hơn 1 tỷ USD/ngày) tạo nên nguồn cung đô la
rất lớn trên thị trường hối đoái toàn cầu, mặc dù cố duy trì chính sách đồng đô la
mạnh song thâm hụt quá lớn từ phía cán cân thương mại đã khiến Mỹ buộc phải
giảm giá đồng đô la hồi đầu tháng 10 năm 2003. Mô hình trên có thể coi là đúng
đắn trong cả chế độ tỷ giá thả nổi lẫn cố định, mặc dù trong chế độ tỷ giá cố định,
độ trễ của mô hình lớn hơn do có sự can thiệp của nhà nước trong ấn định tỷ giá
song tất yếu qui luật trên sẽ xảy ra và vấn đề còn lại chỉ nằm ở yếu tố thời gian mà
thôi.
Bên cạnh yếu tố kim ngạch xuất nhập khẩu, các yếu tố tác động lên cầu xuất
nhập khẩu cũng được xem là gián tiếp gây ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái ví dụ như
mức giá cả tương đối, chính sách bảo hộ, sở thích người tiêu dùng trong việc sử
dụng hàng nội và hàng ngoại…Những năm 1970, nhu cầu nhập khẩu hàng hóa từ
Nhật của những người dân Mỹ tăng mạnh, cán cân thương mại Nhật Bản thặng dư,
chính quyền Nhật Bản đã buộc phải tăng tỷ giá đồng Yên so với đô la Mỹ lên 5%
trong vòng 2 năm từ 1976 đến 1978
(52)
. Từ đó có thể kết luận những thay đổi về cầu
21
xuất nhập khẩu nếu làm cho cán cân thương mại thặng dư thì nước đó sẽ có điều
kiện tăng dự trữ ngoại tệ đồng nội tệ cũng sẽ tăng giá (hoàn toàn ngược lại trong
trường hợp thâm hụt cán cân thương mại).
1.2.4.2. Tác động của tài khoản vốn lên tỷ giá hối đoái:
Tài khoản vốn ghi chép sự vận động các luồng vốn: đầu tư trực tiếp, gián
tiếp, vốn tín dụng dài hạn, ngắn hạn, các khoản tiền gửi dài hạn ngân hàng. Việc
xem xét tác động của mỗi nhân tố trong cán cân vốn lên tỷ giá phải được đặt trong
mối tương quan giữa sự vận động của các nhân tố khác trong tổng thể cán cân vốn.
Song xét một cách tổng quát, có thể nói mọi lượng vốn chảy vào một nước sẽ làm
tăng tài sản ngoại tệ của nước đó và ngược lại, bất kì lượng vốn nào chảy ra cũng
làm suy giảm tài sản ngoại tệ. Các nhân tố làm thay đổi luồng di chuyển các dòng
Hình 2: Đường cầu ngoại tệ
E(A/C)
0 Q2 Q1 Q(A)
(Với phương pháp yết giá trực tiếp, sự tăng lên của tỷ giá trên chính là sự tăng lên của giá đồng
nội tệ)
Trong thương mại quốc tế, với giả thiết việc mua sắm sẽ được thanh toán
bằng đồng tiền của nước bán thì một sự giảm đi trong nhu cầu người tiêu dùng sẽ
khiến nhu cầu mua ngoại tệ giảm, trên thị trường ngoại hối, cầu ngoại tệ giảm, trong
khi trong ngắn hạn cung ngoại tệ không đổi, đồng ngoại tệ có xu hướng giảm giá.
Nhà kinh tế học Paul Samuelson (Mỹ) cho rằng một sự giảm trong cầu ngoại tệ sẽ
khiến đường cầu ngoại tệ dịch chuyển xuống dưới, gây tác động giảm giá đồng
ngoại tệ.
Một ví dụ cụ thể: Giả sử dịch bệnh SARS khiến người dân Mỹ đi du lịch sang
Trung Quốc ít đi, có nghĩa là số người dân Mỹ phải đổi USD lấy CNY (Nhân dân
tệ) giảm xuống, điều này sẽ làm giảm cầu CNY trên thị trường ngoại hối, khiến
đường cầu nhân dân tệ dịch sang trái, đồng nhân dân tệ xuống giá trong khi đồng đô
23
B
B’
E2
E1
E1 : Mức tỷ giá ban đầu
E2: Mức tỷ giá A sau khi cầu A
giảm.
Q1: Cầu ngoại tệ A gốc
Q2: Lượng ngoại tệ A sau khi
giảm cầu
Q(A): Lượng ngoại tệ A
E(A/C) : tỷ giá ngoại tệ trên nội
bệnh Hà Lan”. Sau khi phát hiện ra nguồn khí ga thiên nhiên ở Hà Lan, ngoại tệ từ việc
bán dầu như nước đổ dồn về vùng đất trũng này đã làm tăng nhanh giá trị đồng nội tệ,
giá cả ngoại tệ giảm mạnh, kéo theo sự suy giảm xuất khẩu.
Về mặt lý thuyết, cung ngoại hối phát sinh cùng với sự xuất hiện của cầu
ngoại hối. Trên thị trường ngoại hối, một nhu cầu về ngoại tệ thường đi kèm với
nguồn cung nội tệ. Cung nội tệ của nước A sẽ trở thành cung ngoại tệ trên thị
trường ngoại hối, một nhà đầu tư Brazil muốn đầu tư vào Việt Nam sẽ phải đổi
đồng Real nước họ ra VND, cùng lúc, nhà đầu tư thực hiện hai vấn đề, cung đồng
Real và cầu đồng Việt Nam. Do đó hàm biểu thị mối liên hệ giữa cung và các nhân
tố ảnh hưởng đến cung ngoại hối, gián tiếp gây nên biến động tỷ giá hối đóai sẽ có
dạng:
S
NgT
= f(cầu của dân chúng nước ngoài về hàng hóa dịch vụ , tài sản một nước; ζ)
(trong đó ζ cũng được xem là biểu thị sự vận động của cung ngoại hối bởi các biến
ngẫu nhiên)
Một cách tổng quát, cung cầu ngoại hối trên thị trường cùng nhau xác lập một
mức tỷ giá ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Khi tỷ giá hối đoái cân bằng cũng là
lúc cung ngoại hối bằng cầu ngoại hối, ví như nếu lượng bảng Anh bán ra đúng
bằng lượng bảng Anh mua vào thì tỷ giá sẽ trong trạng thái cân bằng tối ưu. Tuy
S
E’
E
Q(Ngt)
Q Q’
E(Ngt/Nt)
E(Ngt/Nt): Tỷ
giá ngoại tệ/nội
tệ theo phương
pháp yết giá trực