TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở TỈNH CHĂM PA SẮC, CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO - Pdf 33

1

BỘ GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO
……../……..

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
…..……../………...

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH

KẸO THONG KHUN PHAY VĂN

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Ở TỈNH CHĂMPASẮC, CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

LUẬN VĂN THẠC SỸ HÀNH CHÍNH CÔNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH-2013


2

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mục tiêu phát triển của con người, địa phương, quốc gia, dân tộc có
nhiều điểm khác nhau và có nhiều mục tiêu. Song mục tiêu chung nhất, cơ
bản nhất, trước nhất để đạt các mục tiêu còn lại là con người cần phải được
đáp ứng những điều kiện cơ bản nhất của sự sống là ăn, mặc, ở. Những điều
kiện cơ bản của sự sống con người này liên quan trực tiếp và chủ yếu đến vấn

cách mạng, có vị trí chiến lược quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của
đất nước Lào.
Công tác thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở Lào nói chung, tỉnh
Chămpasắc nói riêng bên cạnh những kết quả đạt được có ý nghĩa to lớn đối
với sự nghiệp cách mạng, còn có phần chưa vững chắc, chưa có mô hình căn
cơ, tối ưu đối với nhiều địa phương; đặc biệt là chưa phù hợp với đặc điểm
phát triển của từng địa phương; nhiều chính sách đưa ra nhiều bất cập, nhận
thức cán bộ có nơi yếu kém nên vận dụng các giải pháp chưa triệt để.
Vì những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài luận văn: “Tăng cường
quản lý nhà nước về xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Chămpasắc, Cộng hòa dân
chủ nhân dân Lào” là vấn đề có ý nghĩa cấp bách, thiết thực, lý luận và thực
tiễn cao.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Do tầm quan trọng cơ bản, phổ biến của công tác xóa đói, giảm nghèo
đối với sự phát triển kinh tế-xã hội nên ở nhiều nơi, nhiều nước đã có các
công trình nghiên cứu về công tác này. Tuy nhiên bên cạnh những đóng góp
to lớn của các công trình nghiên cứu của một số tác giả về vấn đề này, còn
chứa đựng nhiều khía cạnh, phương diện cần phải giải quyết tiếp tục, nhất là
tập trung nghiên cứu tìm ra giải pháp cụ thể phù hợp với từng địa phương.
Đặc biệt, đến nay tác giả chưa thấy công trình nào nghiên cứu cụ thể về tăng


4

cường quản lý nhà nước về xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Chămpasắc, Cộng hòa
dân chủ nhân dân Lào.
Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến công tác xóa đói giảm
nghèo có thể thấy cụ thể như sau:
Ở Việt Nam gồm có:
- Báo cáo phát triển của Việt Nam (2001), Tấn công nghèo đói;

Một số công trình của các nhà nghiên cứu tại Lào:
- Ths. Xổm Phít Coong Sắp (2007), Chính sách xóa đói giảm nghèo ở
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (trong quá trình khảo sát ở tỉnh Xay Nha
Buly);
- Luận văn thạc sỹ Hành chính công của Si Kẹo Sen Phan Khăm (2010),
Quản lý nhà nước về công tác xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Luông Nậm Thà,
nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào-Thực trạng và giải pháp, Học viện
Hành chính.
Tuy nhiên do đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Luông Nậm
Thà và tỉnh Chămpasắc có điểm khác biệt nhau.
Ngoài ra còn có một số văn bản, nghị quyết của một số cơ quan quản lý
nhà nước mang tính là những báo cáo tập hợp các số liệu thống kê về công tác
xóa đói giảm nghèo như:
- Nghị quyết Đại hội VIII (2006), Ban Chấp hành Trung ương Đảng
nhân dân Cách mạng Lào;
- Nghị quyết Đại hội IX (2011), Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhân
dân Cách mạng Lào;
- Đấu tranh với sự nghèo của Lào, tài liệu số 14 (2007);
- Tổng kết tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm
(2004-2009) của tỉnh Chămpasắc;


6

- Tổng kết công tác xóa đói giảm nghèo 5 năm (2004-2009) và mục tiêu
phấn đấu trong 5 năm tới (2009-2014) của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh
Chămpasắc;
- Tổng kết khảo sát tình hình đói nghèo trên địa bàn tỉnh năm 2009 của
Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Chămpasắc.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu và tài liệu nêu trên đã có nhiều

4. Đối tượng nghiên cứu
Các đường lối, chủ trương, chính sách, quy định và chương trình thực
hiện công tác xóa đói giảm nghèo, nhất là mô hình xóa đói giảm nghèo cụ thể.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn tiến hành nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa
Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Tư tưởng Cayxỏn Phômvihẳn; hệ thống
các quan điểm, văn kiện của Đảng nhân dân Cách mạng Lào, Đảng Cộng sản
Việt Nam; kế thừa những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong
và ngoài nước.
- Luận văn sử dụng tổng hợp và kết hợp các phương pháp nghiên cứu
với nhau, như phương pháp lý luận, thực tiễn, phân tích tổng hợp, lịch sử và
lôgic, thống kê, so sánh, thu thập ý kiến của chuyên gia…
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ việc tăng cường quản lý nhà nước về
xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Chămpasắc và đất nước Lào; đề xuất thực hiện
những giải pháp thiết thực, cụ thể, khoa học, phù hợp đối với công tác này
trong thời gian tới ở phạm vi một tỉnh cụ thể và một phạm vi nhất định trên
đất nước Lào.


8

- Luận văn có thể giúp chính quyền tỉnh Chămpasắc tham khảo và áp
dụng trong thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo, Trường Chính trị tỉnh
nghiên cứu để giảng dạy; làm tài liệu tham khảo cho bạn đọc quan tâm đến
công tác xóa đói giảm nghèo ở các địa phương khác trên đất nước Lào đang
phát triển.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn chia làm 03 chương.

trọng ưu tiên hàng đầu trong các mục tiêu phát triển của thế giới hiện đại.
Chính vì vậy, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tại
Copenhaghen (Đan Mạch) tháng 3 năm 1995 đã xác định: “Xóa đói giảm
nghèo là một trong ba vấn đề trọng tâm được các nước cam kết thực hiện, coi
đây là đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức, xã hội, chính trị và kinh tế của cả
nhân loại”.
Tại cuộc họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hợp quốc về phát triển xã
hội tháng 6/2000 ở Giơnevơ (Thụy Sỹ), cộng đồng quốc tế tích cực cam kết


10

thực hiện xóa đói giảm nghèo, phấn đấu đến năm 2005 giảm một nữa số
người nghèo trên thế giới.
Hội nghị về chống nghèo ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương do
ESCAP tổ chức tháng 9-1993 tại Bangkok, Thái Lan đã đưa ra định nghĩa về
nghèo như sau: "Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả
mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã
hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội phong tục tập quán
của địa phương”.
Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith cũng quan niệm: "Con người bị coi là
nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại,
rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập cộng đồng. Khi đó họ không thể có những
gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách
đúng mực."
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đưa
định nghĩa về nghèo: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn
dưới một đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua
những sản phẩm cần thiết để tồn tại."
Còn nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình

nghèo.
- Xác định chuẩn nghèo dựa vào khẩu phần ăn:
Không có sự thống nhất giữa các quốc gia về lượng calo tiêu dùng để
xác định chuẩn nghèo, chẳng hạn:


12

Việt Nam
Indonesia
Philippin
Thái Lan
Trung Quốc

2.100
2.100
2.000
1.978
2.150

Cách xác định chuẩn nghèo này không được chính xác, nếu đối chiếu
giữa người nghèo nông thôn và thành thị. Vì giá lương thực, thực phẩm nông
thôn thấp hơn đô thị, hàm lượng calo thu nhập cho các hộ gia đình nông thôn
cao hơn gia đình đô thị, kết quả chuẩn nghèo nông thôn thấp hơn đô thị.
- Xác định chuẩn nghèo dựa vào chi phí cho các nhu cầu cơ bản:
Phương pháp này căn cứ vào giá trị tiêu dùng cần thiết để đáp ứng các
nhu cầu cơ bản. Đó là:
Đường nghèo là Z: Z=ZS + ZN
Trong đó: ZS là đường nghèo lương thực, thực phẩm;
ZN là đường nghèo phi lương thực, thực phẩm.

2.100 calo/người/ ngày. Năm 1998, chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm được
xác định là 1.287 ngày đồng/người/năm.
Chuẩn nghèo chung được xác định bằng cách lấy chuẩn nghèo về lương
thực, thực phẩm cộng với chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm
của nhóm dân cư 3 (nhóm có mức sống trung bình). Chuẩn nghèo chung được
xác định cho năm 1998 là 1.790 ngàn đồng/người/năm.
Phương pháp trên không phản ánh được sự vận động kịp sự phát triển xã
hội. Sử dụng duy nhất chuẩn nghèo áp dụng cho cả nông thôn, thành thị nên
phản ánh không chính xác hiện thực xã hội, không xác định và lập được danh
sách hộ nghèo cụ thể ở các địa phương.
1.1.1.3. Theo các nước đang phát triển


14

Sự tồn vong và phát triển của các nước đang phát triển gắn liền vời công
tác xóa đói giảm nghèo. Chính vì vậy, các nước đang phát triển đã có những
quan tâm nhất định và đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này.
1.1.2. Xác định chuẩn nghèo trên đất nước Lào
Chuẩn nghèo là một tiêu chuẩn để đo mức độ nghèo của các hộ dân, là căn
cứ cho các hỗ trợ về chính sách cho hộ đó. Chuẩn nghèo ở mỗi quốc gia là
khác nhau.
Phương pháp xác định đường đói nghèo theo chuẩn quốc tế, gồm đường
đói nghèo ở mức thấp gọi là đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm.
Đường đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo chung (bao
gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm).
Đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm được xác định theo chuẩn mà hầu
hết các nước đang phát triển cũng như Tổ chức Y tế Thế giới và các cơ quan
khác đã xây dựng mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người, là
chuẩn về nhu cầu 2.100 Kcal/người/ngày. Những người có mức chi tiêu dưới

- Tạo cơ hội cho người nghèo
Để thực hiện xóa đói giảm nghèo có hiệu quả, nhiều nước đã tạo cơ hội
cho người nghèo thông qua thực hiện chính sách tăng trưởng kinh tế, tùy điều
kiện mỗi nước khác nhau mà áp dụng biện pháp phù hợp thực tế, chẳng hạn:
+ Cải cách nông nghiệp và phân phối lại ruộng đất:
Cải cách ruộng đất được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, khắc
phục hiện tượng ruộng đất tập trung vào tay một số ít người. Phân phối ruộng
đất công bằng, hợp lý góp phần cơ bản tăng năng suất lao động. Thực tế chỉ
ra, khi nông dân có quyền sử dụng ruộng đất sẽ hăng hái hơn trong lao động,
cải tạo, đầu tư trên mãnh đất của mình; nông dân có điều kiện sử dụng nhiều
lao động và áp dụng công nghệ vào sản xuất.
+ Cung cấp vốn và tín dụng:


16

Thực tiễn cho thấy, ở các nước người nghèo sống chủ yếu dựa vào sức
lao động cơ bắp, trong khi người giàu sống dựa vào những khoản thu từ
quyền sở hữu tài sản của họ. Người nghèo không có điều kiện hưởng trực tiếp
lợi ích từ sự tăng trưởng kinh tế, không có vốn, không có điều kiện học tập,
tiếp cận khoa học, công nghệ. Do đó, cung cấp vốn bằng nhiều hình thức khác
nhau là một điều kiện quan trọng để cải thiện đời sống cho người nghèo,
thông qua có vốn đầu tư sản xuất.
+ Đầu tư cơ sở hạ tầng: Bao gồm điện, đường, trường, trạm…, người
nghèo phần lớn tập trung nông thôn và nông thôn có cơ sở hạ tầng rất yếu
kém và không đồng bộ. Vì vậy, đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn là một chương
trình, kế hoạch rất cần thiết góp phần vào xóa đói giảm nghèo.
+ Chính sách Maketing, giá cả, tỷ giá hối đoái: Đó thực chất là sự phát
triển thị trường, sản xuất hàng hóa tập trung vào nông thôn; nhà nước thực
hiện chính sách kinh tế vĩ mô về giá cả, tỷ giá hối đoài nhằm thúc đẩy ổn định

không đảm bảo người nghèo tiếp cận các nguồn lực. Giai đoạn đầu là đất đai
nông nghiệp được phân phối lại, giai đoạn sau là phân phối nguồn nhân lực
thông qua giáo dục, đào tạo cho người nghèo được chú trọng.
- Thực hiện chính sách định hướng theo tăng trưởng: Đó là thực hiện
tăng GDP gắn với giảm tỷ lệ hộ nghèo, tăng hộ khá, giàu. Thu hẹp khoảng
cách chênh lệch giữa các nhóm đối tượng, các vùng, thu hẹp bất bình đẳng về
giới, sự tiến bộ phụ nữ và trẻ em. Phát triển mạng lưới an sinh xã hội, trợ giúp
cho các đối tượng yếu thế và người nghèo. Xây dựng và tổ chức thực hiện các
biện pháp giúp đối tượng yếu thế cải thiện các điều kiện tham gia thị trường,
cứu trợ xã hội. Mở rộng sự tham gia và nâng cao vai trò của các tổ chức xã
hội, tổ chức phi chính phủ trong việc phát triển mạng lưới an sinh xã hội.
- Giảm bớt nguy cơ bị tổn thương: Đời sống người nghèo rất dễ bị tổn
thương, khi bị tổn thương họ rất khó phục hồi lại được. Sức khỏe của họ bị
giảm sút sẽ ảnh hưởng đến trực tiếp đời sống hơn những người có điều kiện


18

cuộc sống khá giả, vì lao động của họ chủ yếu dựa vào cơ bắp, họ không có
điều kiện chữa bệnh. Thực hiện bảo hộ đầu tư sản xuất nông nghiệp cho
người nghèo giúp họ yên tâm sản xuất. Các dịch vụ khuyến nông, thú y có thể
giúp họ giảm bớt đầu tư vào sản xuất nông nghiệp.
1.2.3. Lý luận quản lý nhà nước về xóa đói giảm nghèo
Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế-xã hội mang tính chất toàn cầu. Nó
không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển mà nó còn tồn
tại ngay tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào
điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị xã hội và điều kiện kinh tế của mỗi quốc
gia mà tính chất, mức độ nghèo đói của từng quốc gia có khác nhau. Nhìn
chung mỗi quốc gia đều sử dụng một khái niệm để xác định mức độ nghèo
khổ và đưa ra các chỉ số nghèo khổ để xác định giới hạn nghèo khổ. Giới hạn

cho phát triển ở nông thôn, nhằm xoá đói giảm nghèo ở nông thôn.
Tiếp tục đổi mới nền kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá trên cơ sở
nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Đó là con đường để cho
mọi người vượt qua đói nghèo, để nhà nước có thêm tiềm lực về kinh tế để
chủ động xoá đói giảm nghèo. Thực hiện thành công chương trình xoá đói
giảm nghèo không chỉ đem lại ý nghĩa về mặt kinh tế là tạo thêm thu nhập
chính đáng cho người nông dân ổn định cuộc sống lâu dài, mà xoá đói giảm
nghèo, phát triển kinh tế nông thôn còn là nền tảng, là cơ sở để cho sự tăng
trưởng và phát triển một nền kinh tế bền vững, góp phần vào sự nghiệp đổi
mới đất nước. Hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị, xã hội.
Xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao trình độ dân trí, chăn sóc tốt sức khoẻ
nhân dân, giúp họ có thể tự mình vươn lên trong cuộc sống, sớm hoà nhập
vào cuộc sống cộng đồng, xây dựng được các mối quan hệ xã hội lành mạnh,
giảm được khoảng trống ngăn cách giữa người giàu với người nghèo, ổn định


20

tinh thần, có niềm tin vào bản thân, từ đó có lòng tin vào đường lối và chủ
trương của Đảng và Nhà nước. Đồng thời hạn chế và xoá bỏ được các tệ nạn
xã hội khác, bảo vệ môi trường sinh thái.
Ngoài ra, còn có thể nói rằng không giải quyết thành công các nhiệm vụ
và yêu cầu xoá đói giảm nghèo thì sẽ không chủ động giải quyết được xu
hướng gia tăng phân hoá giàu nghèo, có nguy cơ đẩy tới phân hoá giai cấp với
hậu quả là sự bần cùng hoá và do vậy sẽ đe doạ tình hình ổn định chính trị và
xã hội làm chệch hướng sự phát triển kinh tế-xã hội. Không giải quyết thành
công các chương trình xoá đói giảm nghèo sẽ không thể thực hiện được công
bằng xã hội và sự lành mạnh xã hội nói chung. Như thế mục tiêu phát triển và
phát triển bền vững sẽ không thể thực hiện được. Không tập trung nỗ lực, khả
năng và điều kiện để xoá đói giảm nghèo sẽ không thể tạo được tiền đề để

Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước
và là sự nghiệp của toàn dân. Phải huy động nguồn lực của Nhà nước, của xã
hội và của người dân để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng địa
phương, nhất là sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp để xóa đói giảm nghèo,
phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Cùng với sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước
và cộng đồng xã hội, sự nỗ lực phấn đấu vươn lên thoát nghèo của người
nghèo, hộ nghèo là nhân tố quyết định thành công của công cuộc xóa đói
giảm nghèo.
Công cuộc giảm nghèo nhanh, bền vững đối với các huyện nghèo là
nhiệm vụ chính trị trọng tâm hàng đầu, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp
ủy Đảng, sự chỉ đạo sâu sát, cụ thể và đồng bộ của các cấp chính quyền, sự
phối hợp tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; đồng thời,
phải phát huy vai trò làm chủ của người dân từ khâu xây dựng kế hoạch, đến
tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá hiệu quả của Chương trình.


22

Cùng với việc tiếp tục thực hiện các chính sách giảm nghèo chung trong
cả nước, Trung ương tập trung huy động các nguồn lực để đầu tư, hỗ trợ giảm
nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo.
Xác định mục tiêu tổng quát là tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời
sống vật chất, tinh thần của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các
huyện nghèo, bảo đảm đến năm 2020 ngang bằng các huyện khác trong khu
vực. Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, theo hướng sản
xuất hàng hóa, khai thác tốt các thế mạnh của địa phương. Xây dựng kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp với đặc điểm của từng huyện; chuyển đổi cơ
cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả theo quy hoạch; xây
dựng xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được
nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; bảo đảm vững chắc an ninh, quốc

huyện về kiến thức quản lý kinh tế-xã hội; xây dựng và quản lý chương trình,
dự án; kỹ năng xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch.
Tăng cường nguồn lực thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia
đình. Đẩy mạnh công tác truyền thông, vận động kết hợp cung cấp các dịch
vụ kế hoạch hóa gia đình để nâng cao chất lượng dân số của các huyện nghèo.
Chính sách cán bộ đối với các huyện nghèo. Thực hiện chính sách luân
chuyển và tăng cường cán bộ tỉnh, huyện về xã đảm nhận các cương vị lãnh
đạo chủ chốt để tổ chức triển khai thực hiện cơ chế, chính sách đối với các
huyện nghèo; thực hiện chế độ trợ cấp ban đầu đối với cán bộ thuộc diện luân
chuyển; có chế độ tiền lương, phụ cấp và chính sách bổ nhiệm, bố trí công tác
sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Có chính sách hỗ trợ và chế độ đãi ngộ thỏa
đáng để thu hút khuyến khích trí thức trẻ về tham gia tổ công tác tại các xã
thuộc huyện nghèo.
Chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Đẩy nhanh thực hiện quy
hoạch các điểm dân cư ở những nơi có điều kiện và những nơi thường xảy ra


24

thiên tai; nâng cao hiệu quả đầu tư. Sử dụng nguồn vốn đầu tư phát triển trong
cân đối ngân sách hàng năm (bao gồm vốn cân đối ngân sách địa phương và
hỗ trợ từ ngân sách trung ương), vốn trái phiếu Chính phủ, vốn từ các chương
trình, dự án, vốn ODA để ưu tiên đầu tư cho các công trình hạ tầng kinh tế-xã
hội.
1.3.2. Kinh nghiệm của Camphuchia
Camphuchia thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo xuất phát từ chính
nơi có điều kiện đời sống kinh tế-xã hội phát triển. Thực hiện trước hết địa
bàn này tạo cơ sở thu hút địa bàn có đời sống dân cư khó khăn, hộ nghèo còn
cao phấn đấu theo.
Nhưng cần thấy rằng, đời sống kinh tế-xã hội của Camphuchia không

Trong những năm Trung Quốc thực hiện chuyển hướng sang nền kinh tế
thị trường thì sự phân hoá giàu nghèo đã tăng lên rõ rệt trong xã hội. Do chính
sách mở cửa nền kinh tế, các thành phố lớn thì tập trung các nhà máy sản xuất
công nghiệp, tuy có phát triển một số nhà máy công nghiệp ở một số vùng
nông thôn, song vùng giàu có thì ngày càng giàu có, vùng nghèo đói thì vẫn
nghèo đói nhất là vùng sâu, vùng xa. Để khắc phục tình trạng nghèo khổ cho
khu vực nông thôn chính phủ đã đưa ra một loạt các giải pháp cơ bản nhằm
xoá đói giảm nghèo cho nhân dân, trong đó có các giải pháp về tập trung phát
triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, xây dựng các vùng định canh, định cư,
khu dân cư mới, chính sách này đã đem lại những thành công đáng kể cho nền
kinh tế-xã hội Trung Quốc trong những năm qua.
Qua kinh nghiệm các nước tác giả nhận thấy quản lý nhà nước về xóa
đói giảm nghèo cần thực hiện những nội dung sau:
1. Tăng cường công tác tuyên truyền sâu rộng và trước hết đến người
nghèo, hộ nghèo, vùng có đời sống kinh tế-xã hội khó khăn, nhất là nông
thôn. Qua đó khơi dậy tinh thần tự phấn đấu vươn lên của người nghèo.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status