NGUỒN NHÂN LỰC NỮ VÀ VIỆC PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC
NỮ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở HÀ NỘI
HIỆN NAY- THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HÀ NỘI ẢNH
HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC NỮ
Đặc điểm tự nhiên:
Hà Nội nằm ở trung tâm của đồng bằng Bắc Bộ với những thuận lợi
về khí hậu, thuỷ văn, địa hình, địa chất, giao thông... Địa thế tự nhiên đã
khiến cho Hà Nội sớm có vai trò đặc biệt trong sự hình thành và phát triển
của dân tộc Việt Nam. Nhiều triều đại đã chọn Hà Nội làm kinh đô. Hiện
nay, là Thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội có
khả năng to lớn để thu hút các nguồn lực trong nước và nước ngoài cho sự
phát triển của mình; đồng thời sự phát triển của Hà Nội có vai trò to lớn thúc
đẩy sự phát triển của cả vùng cũng như cả nước. Với vị thế địa chính trị kinh tế - văn hoá quan trọng, Hà Nội là địa bàn hết sức thuận lợi cho con
người ở đây giao lưu học hỏi, kích thích tính sáng tạo và sự phát triển toàn
diện của con người.
Hà Nội có diện tích 920,97 km 2, gồm 9 quận, 5 huyện với 229 xã,
phường. Hà Nội đã nhiều lần thay đổi về cơ cấu và địa giới hành chính, quy
mô thành phố đã mở rộng gấp 6 lần so với trước năm 1954. Điều đó phản
ánh xu thế phát triển của Thủ đô đồng thời có tác động không nhỏ đến sự
biến động nguồn nhân lực. Nhiều huyện, thị xã, thị trấn của các tỉnh lân cận
được sát nhập vào Hà Nội làm tăng thêm quy mô dân số, nguồn nhân lực
cũng như làm thay đổi cơ cấu dân số và nguồn nhân lực Thủ đô. Việc phát
huy nguồn nhân lực vì thế phải luôn theo sát yêu cầu phát triển của Thủ đô
và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực.
Đặc điểm kinh tế - xã hội:
Trong quá trình đổi mới đất nước, chuyển từ kinh tế kế hoạch hoá tập
đồng, gấp hơn hai lần mức bình quân cả nước. Tăng trưởng kinh tế đã góp
phần cải thiện rõ rệt đời sống nhân dân Thủ đô. Hà Nội đã hoàn thành phổ
cập trung học cơ sở từ năm 1999; mạng lưới y tế được kiện toàn đảm
bảo100% các trạm y tế xã, phường đều có bác sỹ; hộ nghèo chỉ còn dưới
1%; số máy điện thoại bình quân đạt 35 máy/100 dân. Hà Nội được đánh giá
là địa phương có điều kiện phúc lợi đảm bảo cho sự phát triển con người cao
nhất cả nước. Chỉ số phát triển con người (HDI) và chỉ số phát triển giới
(GDI) của Hà Nội luôn dẫn đầu cả nước.
Hà Nội còn có lợi thế đặc biệt về tiềm lực khoa học kỹ thuật với sự
tập trung số lượng hơn 100 trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp, dạy nghề, 112 viện nghiên cứu chuyên ngành. Nếu có chính sách
khai thác và phối hợp tốt thì sẽ tạo nên động lực lớn cho sự phát triển kinh tế
và sự phát triển nguồn nhân lực. Hà Nội còn là nơi tập trung các cơ quan của
Đảng và Nhà nước, gần 800 văn phòng đại diện của các tổ chức quốc tế và
người nước ngoài hoạt động trong các ngành kinh tế, khoa học tiên tiến ...
Đây là ưu thế để tăng thêm trí tuệ cho công tác tư vấn, hoạch định các chính
sách phát triển.
Bên cạnh những tác động tích cực, việc phát huy nguồn nhân lực nữ ở
Hà Nội còn gặp những khó khăn do ảnh hưởng của cơ chế cũ quan liêu bao
cấp kéo dài nhiều năm trên tất cả các lĩnh vực; sự phát triển đô thị chưa đồng
bộ, tính chất tự phát trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, quy mô và
tốc độ nguồn lao động tăng nhanh, lại thiếu những chính sách biện pháp tổng
thể có tính chất chiến lược trong việc sử dụng lao động ở Thủ đô.
Tóm lại, có thể nói những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội đã tạo
nên những nét đặc thù của Hà Nội có ảnh hưởng trực tiếp tới việc phát huy
nguồn nhân lực nữ:
Thứ nhất: Nguồn nhân lực nữ Hà Nội có nhiều điều kiện thuận lợi để
phát triển cả về trí lực, thể lực, đời sống văn hoá tinh thần.
lao động nữ ở độ tuổi 25 - 44, cao nhất là nhóm tuổi 35 - 44 chiếm từ
30,55% đến 34,73% lực lượng lao động nữ hàng năm. Điều này phù hợp với
xu hướng chung khi tham gia vào lực lượng lao động của nữ trên thế giới
bởi trước khi bước vào thị trường lao động, mỗi phụ nữ đều muốn chuẩn bị
cho mình một nghề nghiệp nhất định. Vì thế, tỉ lệ nữ ở nhóm tuổi 15 - 24
tham gia lao động không cao. Sau khi đã có nghề hoặc chuyên môn, ở nhóm
tuổi 25 - 34 tỷ lệ tham gia lao động nhích dần lên, đặc biệt ở nhóm tuổi 35 44 là giai đoạn phụ nữ thường đã hoàn thành chức năng sinh và nuôi con
nhỏ nên tham gia thị trường lao động với tỉ lệ cao.
Cơ cấu dân số và lao động theo vùng của Hà Nội cho thấy dân số
thành thị có xu hướng tăng nhanh qua các năm (năm 2004 là 64,86% - tăng
13,46% so với 1989). Dân số vùng nông thôn giảm dần. Dân số phi nông
nghiệp chiếm tỉ trọng lớn (năm 1999 chiếm 69,2%) so với dân số nông nghiệp
(30,8%). Kết cấu dân số và lao động trên đây là kết quả của quá trình đô thị hoá
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thành phố. Xu hướng biến đổi này
tạo thuận lợi cho việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH,
HĐH Thủ đô.
Cơ cấu lao động nữ theo thành phần kinh tế cho thấy từ khi chuyển
sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, cơ cấu phân bố nhân lực
nữ trong các thành phần kinh tế ở Hà Nội có sự thay đổi tích cực theo hướng
giảm dần tỉ trọng lao động nữ trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, tăng
nhanh tỉ trọng lao động nữ khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước. Năm
2000, lao động nữ trong thành phần kinh tế Nhà nước là 31,12%, trong các
thành phần kinh tế ngoài Nhà nước là 68,88%. Xu thế này phù hợp với chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, cho phép giải phóng sức sản xuất
và khai thác tiềm năng của các thành phần kinh tế cho sự nghiệp CNH, HĐH
Thủ đô.
Xét cơ cấu lao động theo ngành, lao động nữ tập trung đông hơn cả
vào ngành dịch vụ (41,5%), tiếp đến là nông nghiệp (38,7%) và thấp nhất
nước. Hà Nội hiện có tỷ lệ nữ tham gia BCH Đảng bộ ba cấp đạt 18,7%, nữ
đại biểu HĐND ba cấp đạt 31% và là một trong những địa phương có tỉ lệ
nữ tham gia công tác quản lý lãnh đạo cao nhất nước. Trong đó tỷ lệ nữ
trong chính quyền, sở, ngành thành phố đạt 16%, nữ cán bộ chủ chốt cấp
quận huyện đạt 20,3%, nữ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đạt 15,5%, tỷ lệ nữ
lãnh đạo quản lý các doanh nghiệp, sở ngành đông nữ đạt gần 60%.
Tuy nhiên, tỉ lệ phụ nữ nắm giữ các cương vị lãnh đạo còn thấp so với
tỉ lệ phụ nữ trong dân cư và trong các lĩnh vực lao động sản xuất, phụ nữ
tham gia quản lý chủ yếu ở vị trí cấp phó, không giữ vai trò quyết định. Phần
lớn cán bộ nữ chủ chốt ở độ tuổi trên 45 (trong đó có tới 25% ở độ tuổi trên
50) tạo nên nguy cơ hẫng hụt lớn về đội ngũ nữ cán bộ quản lý trong những
năm tới. Như vậy, so với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước và từ góc
nhìn vai trò to lớn phụ nữ thì quy mô và mức độ tham gia của phụ nữ vào
quá trình lãnh đạo quản lý, hoạch định chính sách còn rất hạn chế
Tóm lại, nguồn nhân lực nữ ở Hà Nội có ưu điểm dồi dào về số
lượng, cơ cấu nguồn lao động trẻ là lợi thế to lớn về sức khoẻ, khả năng
tiếp thu khoa học - công nghệ hiện đại vào sản xuất, kinh doanh hơn nhiều
các địa phương khác. Cơ cấu lực lượng lao động nữ theo khu vực, thành
phần kinh tế phù hợp với xu thế phát triển kinh tế theo hướng CNH,
HĐH, sự tham gia đông đảo của lao động nữ trong các lĩnh vực là tiền đề
quan trọng cho việc phát huy nguồn lực phụ nữ trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của Thủ đô.
Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng về quy mô dân số và lao động do
sự di chuyển của các dòng nhập cư vào Hà Nội đã và đang gây sức ép rất lớn
về việc làm, quản lý đô thị và trật tự an toàn xã hội của Thủ đô, sự phân bổ
bất hợp lý của lao động theo nhóm ngành và trong nội bộ từng ngành ở vị
thế bất lợi cho phụ nữ đang đặt ra yêu cầu cấp thiết giải quyết hài hoà giữa
mục tiêu phát triển kinh tế và tiến bộ công bằng xã hội.
Tuy vậy, cơ cấu trình độ lao động nữ cũng đang tồn tại sự bất hợp lý
giữa các bậc đại học, cao đẳng/ THCN/ CNKT. Nếu tỉ lệ này ở lực lượng lao
động Thủ đô nói chung là 1/ 0,6/ 1,4 thì ở lực lượng lao động nữ là 1/ 0,75/ 0,8,
trong khi tỉ lệ hợp lý trên thế giới phải là 1/4/10. Mặc dù thiếu hụt nghiêm trọng
lực lượng CNKT nhưng tỉ lệ nữ CNKT không có sự thay đổi đáng kể từ năm
1997 đến năm 2000 ( vẫn duy trì với tỷ trọng trên 3% và trên dưới 5%). Điều
đó cũng phản ánh phần nào thực tế lớp trẻ nói riêng và người lao động nói
chung không tha thiết với học nghề để trở thành CNKT giỏi mà còn quan niệm
nâng cao trình độ chuyên môn phải thể hiện trước hết ở học đại học hoặc cao
hơn.
Tuy trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ Hà Nội cao hơn
nhiều so với mặt bằng chung của cả nước nhưng lại luôn thấp hơn so với
nam giới. Số lượng lao động nữ không có chuyên môn kỹ thuật không chỉ
rất lớn mà còn cao hơn nam vào khoảng13% (năm 1997) và 9% (năm 2000).
Trong khi tỷ trọng lao động nữ có trình độ từ cao đẳng trở lên hàng năm đều
thấp hơn nam: năm 1996 là 12,23% so với 15,34%, năm 2000 là 17,29% so
với 19,09%. Ở trình độ chuyên môn trên đại học, tỉ lệ nữ càng thấp hơn nam.
Nữ chiếm 34,4% tổng số thạc sĩ, 15,3% tổng số tiến sĩ. Tỉ lệ thấp trong số
lao động có trình độ cao không chỉ hạn chế sự đóng góp của phụ nữ mà còn
hạn chế tiềm năng của lực lượng lao động Thủ đô nói chung.
Sự chênh lệch về trình độ học vấn còn biểu hiện ngay trong lực lượng
lao động nữ giữa thành thị và nông thôn. Do điều kiện kinh tế khác nhau,
đầu tư cho việc học tập giữa gia đình ở thành thị và nông thôn có khoảng
cách khá xa nên tỉ lệ không biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học của lực
lượng lao động nữ ở nông thôn cao hơn lực lượng lao động nữ thành thị
12,23 % (năm 1996) và 10,07% (năm 1999). Điều này chỉ rõ chính sách đào
tạo, phát triển nguồn nhân lực cần tập trung ưu tiên cho lao động nữ, mà
trước hết là nâng cao trình độ học vấn cho phụ nữ nông thôn.
KCalo/ngày), cơ cấu dinh dưỡng lại bất hợp lý (gạo chiếm trên 70%). Do thể
lực yếu so với mặt bằng chung và so với nam giới, lao động nữ kém thích
nghi trong điều kiện lao động nặng nhọc và cường độ lao động cao.
Chất lượng nguồn nhân lực nữ thể hiện ở những phẩm chất đạo đức tinh thần:
Sống trong vùng đất ″địa linh, nhân kiệt " với lịch sử ngàn năm văn
hiến, phẩm chất đạo đức- tinh thần của người Hà Nội có những đặc trưng
mang tính phổ biến đối với cả dân tộc, song có phần đậm nét, tinh tế hơn do
quá trình hội tụ, kết tinh những đặc tính vượt trội về trí tuệ và những nét văn
hoá từ bốn phương tập trung về Hà Nội trong suốt chiều dài lịch sử, từ đó
lan toả và giao lưu với các nơi khác và với quốc tế. Người dân Hà Nội có
lòng tự trọng cao, trung thực, thẳng thắn, giàu nghĩa khí, coi trọng trí tuệ và
đạo đức hơn tiền bạc và danh lợi, sáng tạo, nhạy cảm, lịch sự tinh tế trong
ứng xử, giao tiếp; xử lý các mối quan hệ một cách mềm mại, uyển chuyển
mà hiệu quả cao.
Phụ nữ Hà Nội ngày nay vừa được kế thừa những giá trị, phẩm chất
đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam, vừa là những người có vai trò
quan trọng trong việc gìn giữ và phát huy những nét đẹp trong đời sống văn
hoá tinh thần của người Hà thành, nhất là truyền thống ″thanh lịch" - vẻ đẹp
riêng trong tâm hồn, tình cảm, lối sống của phụ nữ Hà Nội xưa. Đức tính cần
cù, chịu khó vốn là bản chất tốt đẹp của người lao động, của phụ nữ Việt
Nam, cùng với sự tài hoa khéo léo của người Hà Nội trong ngành nghề
truyền thống là những nhân tố khẳng định thêm chất lượng của lao động nữ
Thủ đô. Những giá trị đạo đức - tinh thần giúp cho phụ nữ Hà Nội khi tham
gia vào quá trình hội nhập và phát triển có thể sáng tạo ra những giá trị kinh
tế và văn hoá tinh thần cao, là cơ sở quan trọng cho việc thúc đẩy sự phát
triển toàn diện của nguồn nhân lực nữ Thủ đô
Tuy nhiên, một bộ phận nhất định phụ nữ còn chịu ảnh hưởng nặng nề
của nếp nghĩ, tác phong làm việc tiểu nông theo kiểu sản xuất nhỏ, kém năng
Trong khối doanh nghiệp ngoài nhà nước thì tự tạo việc làm của bản
thân lao động nữ với cách thức để sinh tồn, kinh doanh cá thể và siêu nhỏ
thuộc khu vực phi chính thức đóng vai trò chủ đạo thu hút lao động nữ Hà
Nội. Đó là bộ phận lao động nữ dôi dư trong quá trình sắp xếp lại doanh
nghiệp Nhà nước và bộ phận lao động nữ bị phân công vào các công việc có
thu nhập không ổn định do cơ cấu kinh tế thay đổi trong khi nhu cầu đời
sống gia đình ngày một tăng. Đây là khu vực hoạt động với đặc trưng là
trình độ tổ chức và công nghệ thấp, là tầng trung gian giữa lao động giản
đơn và lao động có kỹ thuật tay nghề cao, góp phần ổn định đời sống nhân
dân, khắc phục tình trạng thiếu việc làm, đáp ứng nhu cầu tăng thu nhập.
Chương trình vay vốn quỹ quốc gia giải quyết việc làm được thực
hiện hiệu quả trong những năm qua đã có tác dụng lớn trong tạo việc làm
cho lao động nữ. Chỉ tính từ năm 1992 - 1999 thành phố đã xét duyệt 2880
dự án với tổng số vốn cho vay 223.261 triệu đồng; thu hút 143.556 lao động,
trong đó lao động nữ được giải quyết việc làm chiếm gần 48% tổng số lao
động được sắp xếp việc làm. Nguồn vốn này đã góp phần chuyển đổi cơ cấu
kinh tế, lao động khu vực ngoài quốc doanh phát triển mạnh, kinh tế hộ gia
đình có sự chuyển dịch rõ nét, tận dụng được nội lực trong mỗi gia đình và
doanh nghiệp trong phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao mức sống và ổn
định xã hội.
Hoạt động tạo việc làm của hệ thống dịch vụ việc làm thành phố Hà
Nội đã và đang thu được những kết quả nhất định.Trong đó số lượng phụ nữ
được tư vấn, dạy nghề, giới thiệu việc làm và cung ứng lao động chiếm tỷ
cao (46,81% - 53,28%). Khả năng nắm bắt thông tin thị trường và hoạt động
của các trung tâm, nhất là các trung tâm dành riêng cho nữ đã và đang có tác
dụng thiết thực tạo việc làm cho lao động nữ Hà Nội.
Tuy đã có nhiều cố gắng trong giải quyết việc làm cho người lao động
Hồ Chí Minh (7,04%) và mức trung bình của cả nước (7,4%) [47, tr.94]
Theo giới tính, thất nghiệp và thiếu việc làm của lực lượng lao động
nữ (thời kỳ 1996 - 2000) thấp hơn lực lượng lao động nam (4,65% so với
5,81%) trong khi trình độ học vấn, chuyên môn của nam cao hơn nữ. Điều
đó không có nghĩa là sự bất bình đẳng về giới dưới góc độ việc làm nghiêng
về phía nam giới mà là do để có việc làm, lao động nữ đã dễ dàng chấp nhận
các công việc có kỹ thuật giản đơn, điều kiện lao động kém, thu nhập thấp,
ảnh hưởng đến sự phát triển của nguồn nhân lực nữ .
Nguyên nhân thất nghiệp và thiếu việc làm của lực lượng lao động nữ
trước hết là do cung lao động nữ vượt quá cầu lao động nữ. Trong các
nguyên nhân làm tăng cung lao động nữ Hà Nội phải nói đến hiện tượng
tăng cơ học dân số. Người lao động ở các tỉnh, số sinh viên tốt nghiệp các
trường cao đẳng, đại học ở lại Hà Nội tìm việc làm đã làm cho tổng số người
cần sắp xếp việc làm trung bình một năm của Hà Nội lên tới 123.000 người.
Trong khi đó số người được giải quyết việc làm mới đạt khoảng 35%.
Cơ cấu trình độ lao động nữ hiện có không phù hợp với cơ cấu lao
động theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội (thiếu lao động có tay nghề và
trình độ chuyên môn, thừa lao động giản đơn, thiếu CNKT) đã dẫn đến tình
trạng thất nghiệp cơ cấu do người lao động không đáp ứng được yêu cầu của
ngành nghề mới, các kỹ năng kiến thức mới và thị trường lao động. Chỉ tính
riêng số lao động dôi dư do tinh giản biên chế và cổ phần hoá doanh nghiệp
nhà nước (thời kỳ 1996 - 1999) thì lao động nữ đã chiếm tới 85,14% tổng số
lao động dôi dư. Tình hình này sẽ ngày càng trở nên khó khăn hơn đối với
lao động nữ khi đất nước và Thủ đô đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH.
Lao động nữ ít cơ hội tiếp cận các thông tin về thị trường lao động
trong khi công tác này của Thành phố vừa chậm, vừa thiếu lại phải trải qua
các khâu trung gian nên người lao động nhất là lao động nữ không nắm bắt
kịp thời thông tin thị trường lao động để tìm kiếm và chuyển đổi việc làm
nhiều hạn chế. Tình trạng này đã và đang cản trở việc đưa tiến bộ khoa học
và công nghệ vào sản xuất và chứng tỏ hiệu quả sử dụng lực lượng cán bộ có
trình độ chuyên môn kỹ thuật còn chưa cao. Chính sách tiền lương chưa tạo
động lực khuyến khích cán bộ khoa học kỹ thuật tập trung vào nghiên cứu
chuyên sâu dẫn đến sự lãng phí một cách nghiêm trọng "chất xám" trong
thời gian qua.
2.2.2.2. Tình hình quản lý nguồn nhân lực nữ ở Hà Nội
Để phát huy hiệu quả nguồn lực con người thì việc quản lý nguồn
nhân lực với những cơ chế chính sách tuyển dụng, bố trí sắp xếp, đánh giá,
đãi ngộ có vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường khai thác và phát huy
khả năng sáng tạo của người lao động. Việc theo dõi, quản lý nguồn nhân
lực trên địa bàn thành phố tương đối chặt chẽ, có sự phân công, phân cấp
cho ngành chuyên môn theo từng khu vực, đối tượng như: lao động ở khu
vực hành chính, sự nghiệp, lao động ở khu vực sản xuất kinh doanh, khu vực
tập thể và cá thể...Lực lượng lao động ở khu vực hành chính, sự nghiệp được
quản lý cụ thể đến từng người, việc tuyển dụng công chức được thực hiện
theo chế độ thi tuyển. Đây cũng là khu vực mà các quyền lợi, nghĩa vụ của
lao động nữ được đảm bảo và giải quyết đầy đủ theo quy định của Nhà
nước.
Việc quản lý lao động ở khu vực sản xuất kinh doanh là do các doanh
nghiệp tự chủ cả về tuyển dụng và sử dụng lao động theo quy định của pháp
luật và có trách nhiệm báo cáo định kỳ với Sở Lao động - Thương binh và
xã hội. Việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lợi và chế độ chính sách
cho người lao động do đoàn kiểm tra liên ngành Lao động - Thương binh Xã hội, Liên đoàn lao động, Bảo hiểm xã hội chịu trách nhiệm chính. Thực
tế đã cho thấy đây là khu vực mà lao động nữ gặp nhiều bất lợi hơn lao động
nam liên quan đến việc trả công và một số chế độ chính sách khác, trong đó
có chính sách thai sản và bảo hiểm xã hội. Kết quả khảo sát ngành công
nghiệp ở Hà Nội cho thấy tổng chi phí của doanh nghiệp cho việc sử dụng
học, đến năm 1999 đã phổ cập trung học cơ sở. Chất lượng giáo dục đạo đức
và văn hóa được dần dần củng cố và có bước phát triển tốt, trong đó chất
lượng đại trà được giữ vững và chất lượng mũi nhọn được nâng cao. Các
hoạt động giáo dục văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao nhằm góp phần xây
dựng môi trường giáo dục lành mạnh, nâng cao ý thức xây dựng lối sống
văn minh thanh lịch của người Hà Nội được quan tâm phát triển. Hà Nội đã
đi trước các tỉnh, thành phố khác trong việc nâng cao trình độ học vấn của
người dân Thủ đô. Một trong những nguyên nhân dẫn đến những thành tựu
về giáo dục và đào tạo của Thủ đô là sự tập trung đầu tư cho giáo dục từ
phía thành phố. Chi tiêu công bình quân đầu người cho giáo dục ở Hà Nội
liên tục gia tăng, tốc độ gia tăng cao hơn so với các thành phố lớn khác. Nếu
năm 1991, chi bình quân cho giáo dục ở TP Hồ Chí Minh là 17.000đ, Hà
Nội 16.000đ và Hải Phòng 9.600đ thì đến năm 1998, Hà Nội đã đạt mức chi
197.000đ trong khi ở TP Hồ Chí Minh là 139.000đ và Hải Phòng là
107.000đ [52,tr.45]. Tỷ lệ giáo viên phổ thông Hà Nội đạt trình độ chuẩn
hoá khá cao với các tỉnh thành: giáo viên tiểu học, giáo viên THCS đạt 99%,
giáo viên THPT đạt 100%, cán bộ quản lý trường các cấp học được chuẩn
hoá nghiệp vụ quản lý đạt 80,6%.
Việc giảm khoảng cách bất bình đẳng giới trong giáo dục - đào tạo đã
đạt được những kết quả quan trọng, nhất là trong giáo dục phổ thông. Những
năm gần đây, tỷ lệ nữ tốt nghiệp ở các cấp học trên tổng số học sinh tốt
nghiệp ở cùng trình độ đạt mức cao. Năm 2000 - 2001, tỷ lệ nữ trên tổng số
học sinh tốt nghiệp tiểu học là 50,5%, ở cấp trung học cơ sở là 48,2% và cấp
trung học phổ thông là 50,8%. Việc đảm bảo tỷ lệ tốt nghiệp các cấp cao và
cân bằng của cả nam và nữ là rất quan trọng, đặc biệt là đối với nữ. Đây
không chỉ là cơ sở nâng tỷ lệ nữ ở bậc cao đẳng, đại học mà còn là điều kiện
để phụ nữ tham gia vào các hình thức đào tạo nghề, đào tạo CNKT sau này,
giúp phụ nữ nắm bắt được cơ hội và tham gia vào đào tạo nâng cao trình độ
đình mà cả trong xã hội còn có những trở ngại đối với việc đẩy nhanh công
tác đào tạo, bồi dưỡng đối với lực lượng lao động nữ. Phụ nữ ít có cơ hội
tiếp cận với các hình thức đào tạo và tiếp tục có nguy cơ bị tụt hậu xa hơn so
với nam giới. Có thể khẳng định rằng chính sách của thành phố hoàn toàn
không có sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong vấn đề giáo dục và đào tạo.
Tuy nhiên chính sách chung mới chỉ tạo được môi trường chung cho cả phụ
nữ và nam giới. Trong khi đó, phụ nữ có những khó khăn trở ngại riêng mà
nếu thiếu các chính sách và biện pháp cụ thể, phù hợp thì bản thân họ khó có
thể nắm bắt được các cơ hội do chính sách chung tạo ra. Đây là điểm mà Hà
Nội có thể đã quan tâm song, có lẽ còn thiếu các biện pháp mang tính hệ
thống tác động cả trong gia đình, cơ quan quản lý và xã hội cũng như các
hình thức kiểm tra đôn đốc nhằm khuyến khích lao động nữ nâng cao trình
độ chuyên môn đáp ứng các yêu cầu phát triển của thành phố.
Thứ hai, vấn đề chăm sóc sức khoẻ với việc phát huy nguồn nhân lực
nữ ở Hà Nội
Đối với mỗi cộng đồng và mỗi quốc gia, sức khoẻ (thể lực) của các
thành viên là một nguồn lực đặc biệt. Mặc dầu chúng ta thường nhấn mạnh
khía cạnh nguồn vốn tri thức khi đề cập đến nguồn vốn con người song,
không thể coi nhẹ khía cạnh sức khoẻ, vì một lẽ đơn giản là nếu thiếu sức
khoẻ thì không thể phát huy vốn tri thức, thậm chí không thể thực hiện nhu
cầu lao động sản xuất thông thường của con người. Mối liên hệ giữa sức
khoẻ của phụ nữ với sự phát triển kinh tế - xã hội được thể hiện ở ba điểm
sau:
Sức khoẻ của phụ nữ liên quan mật thiết đến sức khoẻ của trẻ em và
có ảnh hưởng đến khả năng lao động của thế hệ tương lai.
Sức khoẻ của phụ nữ có quan hệ chặt chẽ với năng suất lao động của
lực lượng lao động nữ.
Sức khoẻ của phụ nữ có tác động đến sức khoẻ của các thành viên
của phụ nữ và trẻ em. Đó là vấn đề nạo hút thai (với tỉ lệ cao gấp rưỡi số ca
sinh) nhất là ở lứa tuổi vị thành niên, tình hình lây nhiễm HIV/AIDS tăng
nhanh chóng; sự chênh lệch về chất lượng chăm sóc sức khoẻ giữa đô thị và
nông thôn, tốc độ giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trong bụng mẹ còn chậm và vẫn
duy trì ở mức độ tương đối cao (5,3%/năm). Thực trạng này tất yếu ảnh
hưởng tiêu cực đến tầm vóc và thể lực của lao động Hà Nội trong những
năm tới. Bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ của phụ nữ là vấn đề mang tính chiến
lược, có quan hệ đến chất lượng nguồn nhân lực của Hà Nội. Vì vậy, chăm
sóc sức khoẻ phụ nữ cần được đặt thành một trong những ưu tiên của Thành
phố.
Lực lượng lao động nữ ở Hà Nội chiếm khoảng 49% tổng số lao động.
Từ góc độ chính sách của thành phố, chăm sóc sức khỏe của lao động nữ là
một sự đầu tư trực tiếp nhằm nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực một
cách lâu dài. Tuy nhiên, nhận thức lợi ích của việc chăm sóc sức khoẻ lao
động nữ với việc thực hiện trong thực tế đang còn có những bất cập lớn. Các
cuộc khảo sát và nghiên cứu gần đây cho thấy thể lực của lao động nữ đang
chịu những ảnh hưởng tiêu cực của nhiều yếu tố:
- Đó là việc tăng ca dẫn đến thời gian lao động kéo dài. Theo khảo sát
tuy rằng lương tăng ca được tính 150% - 200% so với định mức, nhưng do
mức khoán cao và phải làm liên tục, nhiều công nhân không đảm bảo mức
khoán dẫn đến việc làm thêm giờ chỉ tính phụ vào giờ khoán đủ, thu nhập
của công nhân không cao, không cho phép công nhân tái tạo sức lao động
một cách hợp lý chưa nói đến việc bồi dưỡng để nâng cao thể lực nói chung.
Thời gian lao động kéo dài còn tác động tiêu cực đến việc bố trí sắp xếp
công việc gia đình, chăm sóc các thành viên trong gia đình của nữ công
nhân, hạn chế các nhu cầu nâng cao năng lực và đời sống tinh thần.
- Điều kiện,vệ sinh an toàn lao động chưa đảm bảo. Trong khu vực
thành thị, ngoại trừ một số cơ sở được trang bị mới, tại nhiều cơ sở công