ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: TS.Bùi Quang Bình
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hoá diễn ra nhanh chóng và xu thế phát triển kinh tế
lấy kinh tế tri thức, công nghệ thông tin làm động lực như hiện nay, vai trò của nhân
lực đối với phát triển kinh tế xã hội trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Con người
với khả năng nắm giữ kiến thức, kinh nghiệm đã trở thành mũi nhọn cho các công
ty, vùng lãnh thổ và các quốc gia. Việc làm rõ vấn đề con người có tác động như thế
nào, đóng góp những gì cho quá trình sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, làm sao
để những đóng góp của họ hiệu quả hơn, tức xem xét con người từ góc độ phát triển
nguồn nhân lực đang là một vấn đề bức xúc và đòi hỏi nhiều nghiên cứu từ nhiều
khía cạnh khác nhau.
Xu thế toàn cầu hoá hiện nay đã mang lại nhiều cơ hội cho tăng trưởng kinh tế
và phát triển xã hội, là một trong những nhân tố phát triển nguồn nhân lực, làm tăng
năng suất lao động và cải thiện thu nhập của người lao động. Đối với Việt Nam
cũng như các tỉnh Miền Trung-Tây Nguyên chịu tác động rất lớn của xu thế đó tới
các vấn đề về lao động, tác động đến mở rộng việc làm, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực, phát triển thị trường lao động, tăng thu nhập của người lao động trong
nhiều khu vực, ngành nghề. Năng suất lao động trong nhiều khu vực, ngành đã đạt
mức cao hơn nhiều so với trước kia.
Để hiểu rõ hơn những ảnh hưởng của nguồn nhân lực tới sự phát triển kinh tế
xã hội như thế nào, em quyết định chọn đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực với
việc phát triển kinh tế- xã hội ở các tỉnh Miền Trung- Tây Nguyên”.
Đề tài này gồm 3 phần:
1. Nguồn nhân lực và các nhân tố ảnh hưởng
2. Phát triển nguồn nhân lực
3. Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo với
phát triển kinh tế- xã hội
Mặc dù đã cố gắng nhưng khả năng hiểu biết còn hạn chế nên đề tài còn nhiều
thiếu sót, lệch lạc. Vì thế em mong thầy cô góp ý cho đề tài được hoàn thiện hơn.
Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã nhận dược sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo
NNL đều thể hiện: khả năng lao động của một xã hội, là nguồn cung cấp sức lao
động cho xã hội, là chủ thể và là động lực của quá trình phát triển, có chu kì sống và
chịu sự khống chế của phương thức sản xuất nhất định.
Nói đến NNL phải xem xét con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của các
quá trình kinh tế, xã hội. Là chủ thể, con người khai thác, sử dụng các nguồn lực
khác hiện có, đồng thời góp phần tạo ra các nguồn lực mới, để duy trì sự tồn tại và
phát triển xã hội. Là khách thể, con người trở thành đối tượng được khai thác cả về
trí lực và thể lực cho mục tiêu phát triển xã hội. Hai tư cách này tồn tại không tách
rời nhau, bởi lẽ khi khai thác các nguồn lực khác con người phải sử dụng trí lực và
thể lực của mình. Chính con người với sức lực và trí tuệ của mình quyết định mục
SVTH: Thái Thị Kiều Oanh. Lớp: 32K10 Trang- 2 -
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: TS.Bùi Quang Bình
tiêu, cách thức, nội dung và hiệu quả khai thác các nguồn lực khác. Ngược lại, quá
trình khai thác trí lực và thể lực ở con người đều có quan hệ với các nguồn lực khác
ở các mức độ khác nhau. Với ý nghĩa đó, con người là chủ thể, vừa là khách thể,
vừa là động lực, vừa là mục tiêu của các quá trình kinh tế- xã hội. Như vậy, NNL
giữ vị trí trung tâm không chỉ trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển mà còn
của chính sự phát triển xã hội.
Mặt khác, NNL phải được xem xét trên 2 góc độ là số lượng và chất lượng:
1.1.2.Số lượng NNL
Được xác định bởi các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ tăng của NNL. Ví dụ như
NNL tại một thời điểm xác định là bao nhiêu, chiếm tỷ lệ bao nhiêu phần trăm trong
tổng dân số, tăng trưởng là bao nhiêu phần trăm một năm..,các chỉ tiêu ảnh hưởng
trực tiếp của quy mô và tốc độ phát triển. Ở Việt Nam, độ tuổi lao động được quy
định: Nam từ 15 đến 60 tuổi, Nữ từ 15 đến 55 tuổi.
1.1.3.Chất lượng NNL
Được thể hiện bằng các chỉ tiêu về tình trạng phát triển thể lực, trình độ kiến
thức, tay nghề, tác phong nghề nghiệp, cơ cấu NNL về tuổi tác, giới tính, nghề
nghiệp, phân bố theo khu vực lãnh thổ, khu vực thành thị, nông thôn…Nó không
Chỉ số này được tính bởi 3 chỉ tiêu chủ yếu: tuổi thọ bình quân, thu nhập bình
quân đầu người, trình độ học vấn.
Như vậy chỉ số HDI không chỉ đánh giá sự phát triển con người về mặt kinh
tế, mà còn nhấn mạnh chất lượng cuộc sống và sự công bằng, tiến bộ xã hội.
1.2.Các nhân tố ảnh hưởng tới nguồn nhân lực.
1.2.1.Các nhân tố liên quan đến trình độ thể chất.
Các nhân tố này có ảnh hưởng lớn tới NNL như: yếu tố di truyền, y tế, thể
dục thể thao, môi trường sống của mỗi quốc gia. Chẳng hạn như y tế có tác động tới
sức khỏe, sức khỏe có tác động tới chất lượng NNL cả hiện tại và tương lai. Người
lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại những lợi nhuận trực tiếp hoặc gián tiếp
bằng việc nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung cao khi làm việc. Sức
khỏe có thể được đánh giá ở thể lực(chiều cao, cân nặng). Điều này lại phụ thuộc
vào chế độ dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe. Đối với người đang làm việc thể lực
của họ một mặt phụ thuộc vào yếu tố dinh dưỡng mặt khác còn phụ thuộc vào dịch
vụ chăm sóc sức khỏe thường xuyên (đặc biệt đối với những ngành nghề độc hại)
và chính sách bảo hiểm y tế đối với người lao động.
Trên thực tế hầu hết các nước đều quan tâm đến NNL trong tương lai. Thể
hiện ở việc nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe tốt cho trẻ em. Đây là cách thức để
SVTH: Thái Thị Kiều Oanh. Lớp: 32K10 Trang- 4 -
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: TS.Bùi Quang Bình
giúp cho thế hệ tương lai phát triển tốt thể lực, lành mạnh về tinh thần do đó cũng
có đủ năng lực để nhanh chóng tiếp thu những kiến thức, kỹ năng để phát triển.
Như vậy có thể nói hoạt động giáo dục và hoạt động y tế, chăm sóc sức khỏe có tác
động hỗ trợ lẫn nhau, bổ sung cho nhau trong việc cải thiện chất lượng NNL. Hay là
yếu tố môi trường sống cũng vậy nếu có một môi trường sống lành mạnh, sạch sẽ
thì con người cũng sẽ có điều kiện tốt hơn cả về thể chất lẫn tinh thần.
1.2.2.Các nhân tố liên quan đến trình độ chuyên môn
Trình độ chuyên môn của NNL nó lại phụ thuộc vào hệ thống giáo dục, đào
tạo; chính sách và biện pháp sử dụng; tập quán…
người lao động sẽ được cải thiện rất đáng kể. Một khi kinh tế đã ổn định thì sẽ là
SVTH: Thái Thị Kiều Oanh. Lớp: 32K10 Trang- 5 -
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: TS.Bùi Quang Bình
nền tảng vững chắc cho người lao động để họ làm việc thoải mái và tập trung vào
công việc.
2. PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
2.1.Khái niệm
Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực (PTNNL) được tiếp cận theo nhiều
cách khác nhau.
Theo cách tiếp cận của các nhà kinh tế hiện đại: Con người là mục tiêu của sự
phát triển chứ không phải là nhân tố sản xuất thông thường. Vì vậy, việc phát triển
con người là sự mở rộng các cơ hội lựa chọn, nâng cao năng lực nhằm hưởng thụ
một cuộc sống hạnh phúc, ấm no và bền vững. Vì thế việc phát triển con người
không chỉ là sự gia tăng về thu nhập, của cải vật chất mà còn bao gồm cả việc mở
rộng khả năng của con người, tạo cho con người có thể tiếp cận nền giáo dục tốt
hơn, chỗ ở tiện nghi hơn và việc làm có ý nghĩa hơn.
Theo UNESCO: PTNNL là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn phù
hợp với sự phát triển của đất nước.Và chỉ nên giới hạnn trong phạm vi kỹ năng lao
động và thích ứng với nhu cầu việc làm.
Theo tổ chức lao động thế giới: PTNNL không chỉ là sự chiếm lĩnh trình độ
lành nghề hay gay cả vấn đề đào tạo nói chung mà còn phát triển năng lực, phát
triển năng lực đó của con người đêr tiến tới có việc làm hiệu quả, cũng như thoả
mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.
Theo tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO): Phát triển con
người một cách hệ thống vừa là mục tiêu, vừa là đối tượng của sự phát triển một
quốc gia. Nó bao gồm mội khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội như khả năng cá
nhân, tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo, bồi dưỡng chức năng chỉ đạo
thông qua giáo dục, đào tao và hoạt động thực tiễn.
Như vậy, có thể thấy PTNNL là quá trình biến đổi cả về số lượng và chất
lẫn nhau cho nên phải giải quyết một cách đồng bộ.
SVTH: Thái Thị Kiều Oanh. Lớp: 32K10 Trang- 7 -
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: TS.Bùi Quang Bình
- Tăng cường thể lực: Đó là những chính sách chăm sóc, bảo vệ và tăng cường sức
khỏe cho mọi người, đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện con người. Không chỉ tập
trung vào thế hệ hiện tại mà cần chú ý chăm lo cho thế hệ tương lai cải thiện thể
chất và thể lực.
- Phát triển kỹ năng và trí lực:
Trước hết cần giáo dục cơ bản, nó là nền móng, tiền đề cần thiết cho đào tạo
nguồn nhân lực và là một nhân tố cơ bản của phát triển nguồn nhân lực. Vì vậy,
trong việc đánh giá phát triển nguồn nhân lực của quốc gia, trước hết người ta dựa
vào trình độ giáo dục phổ thông (tỷ lệ biết chữ, trình độ giáo dục phổ cập- số năm
giáo dục bắt buộc, tỷ lệ đi học của trẻ em trong các nhóm tuổi của mỗi cấp học).
Tiếp theo là phải phát triển đào tạo nguồn nhân lực (phát triển kỹ năng ). Điều tiết
quy mô đào tạo chung và của từng cấp độ đào tạo khác nhau. Chính sách tài chính
trong PTNNL có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong chính sách phát triển nguồn
nhân lực. Đa dạng hóa các nguồn tài chính nhằm huy động ngày càng nhiều và đa
dạng các nguồn tài chính cho phát triển đào tạo. Ưu tiên chi ngân sách nhà nước cho
phát triển đào tạo nguồn nhân lực. Lựa chọn các lĩnh vực ưu tiên để phân bổ các
nguồn tài chính cho đào tạo nguồn nhân lực.
Tạo môi trường việc làm và đãi ngộ cho con người: Cần có các chính sách thu
hút và sử dụng lao động. Nó sẽ tác động trực tiếp đến quá trình quản lý nguồn nhân
lực. Kích thích điều tiết phát triển thị trường lao động phục vụ lợi ích chung và lợi
ích của người lao động. Cần có các chính sách riêng để quản lý và thúc đẩy sự phát
triển của các loại thị trường đặc biệt.
2.3.Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục- đào tạo.
2.3.1.Nguyên nhân phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và
đào tạo
Đóng góp chính của PTNNL cho quá trình công nghiệp hoá chính là đào tạo