skkn sử DỤNG PHƯƠNG TIỆN TRỰC QUAN TRONG dạy học LỊCH sử để PHÁT HUY TÍNH TÍCH cực của học SINH - Pdf 33

SKKN

Phạm Thị Ngọc Hân

ĐỀ TÀI: SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC
LỊCH SỬ ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH.
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1- Cơ sở lý luận:
- Lịch sử là một môn khoa học có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục
phổ thông. Các giáo viên giảng dạy lịch sử cần có phương pháp giảng dạy hợp lí
nhằm giúp học sinh tiếp thu một cách tốt nhất các kiến thức lịch sử.
- Một trong những nội dung hết sức quan trọng trong đổi mới phương pháp
dạy- học lịch sử hiện nay là giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình trong
SGK một cách có hiệu quả bởi vì hệ thống kênh hình trong SGK là phương tiện
trực quan có vai trò rất quan trọng, nó nhằm tái tạo, bổ sung, khắc sâu nội dung cho
kênh chữ, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách trọn vẹn, ngoài ra còn là một
trong những phương tiện quan trọng nhằm tạo biểu tượng, phát huy tính tích cực
của học sinh trong học tập.
- Từ sự phân tích trên, tôi cho rằng vấn đề sử dụng phương tiện trực quan
nhằm phát huy tính tích cực của học sinh có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao
chất lượng dạy học Lịch sử.
2- Cơ sở thực tiễn:
- Trong tình hình đổi mới hiện nay, với việc triển khai thay SGK bậc THCS
đang được tiến hành thì việc đổi mới phương pháp dạy- học, sử dụng lược đồ,tranh
ảnh lịch sử để khai thác kiến thức là vấn đề không thể phủ nhận.
- Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy ở nhiều trường THCS, giáo viên vẫn
chưa sử dụng triệt để phương tiện trực quan trong đó có kênh hình trong SGK, vẫn
còn nặng về thuyết trình kiến thức, chưa phát huy được tính tích cực của học sinh
khi sử dụng. Sở dĩ có điều đó là do nhiều nguyên nhân:
+ Bản đồ, lược đồ, tranh, ảnh lịch sử còn thiếu, chưa phục vụ đầy đủ bài dạy.

- Phạm vi: do điều kiện thời gian và cơ sở vật chất có hạn, ở đề tài này tôi xin
trình bày một số biện pháp khai thác phương tiện trực quan môn lịch sử 6,7,8,9.
V. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
- Thực hiện trong năm học 2011-2012
- Khảo sát một tiết dạy có sử dụng phương tiện trực quan và một tiết không
sử dụng phương tiện trực quan, lấy kết quả chia tỉ lệ phần trăm.

B. PHẦN NỘI DUNG
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN
Nhận thấy rõ tầm quan trọng của hệ thống kênh hình trong dạy- học lịch sử,
bản thân tôi là một giáo viên bộ môn Lịch sử ở trường THCS, trực tiếp giảng dạy
chương trình Lịch sử ở THCS tôi luôn suy nghĩ và xác định cho mình phải làm thế
nào để khai thác có hiệu quả phương tiện trực quan trong đó có hệ thống kênh hình
trong SGK theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đối với học sinh THCS và mục tiêu giáo dục
đặt ra ở đây là các em phải nắm được những kiến thức cơ bản nhất lịch sử dân tộc
cũng như lịch sử thế giới được xuyên suốt từ lớp 6 đến lớp 9. Các em phải được rèn
luyện ở mức độ cao hơn khả năng tự học, tự nhận thức và hành động cũng như có
những tìm tòi trong tư duy,sáng taọ.
So sánh kiểu dạy học truyền thống và phương pháp dạy học nhằm phát huy
tính tích cực của học sinh thông qua việc tiếp cận, làm việc với phương tiện trực
quan chúng ta thấy rõ những điều khác biệt cơ bản trong quá trình dạy và học. Tuy
nhiên nó đòi hỏi giáo viên và học sinh phải được “Tích cực hoá’’ trong quá trình
dạy- học, phải chủ động sáng tạo. Muốn đạt được điều đó giáo viên cần áp dụng
nhiều phương pháp dạy - học trong đó có phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan.
Cần phải tiếp thu những điểm cơ bản có tính nguyên tắc của cách dạy truyền thống
song phải luôn luôn đổi mới, làm một cuộc cách mạng trong người dạy và người
học để khắc phục sự bảo thủ, thụ động như: giáo viên chỉ chuẩn bị giảng những
2


tử trong tiết dạy còn ít.
- Việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong học tập bộ môn lịch
sử còn nhiều hạn chế một phần là do nhu cầu của xã hội nên học sinh ít thích học
môn lịch sử.
III. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG MÂU THUẪN
- Trước đây, đa số các trường đều thiếu thốn về cơ sở vật chất và các thiết bị
dạy học đối với bộ môn lịch sử , chỉ có một số loại đơn giản: lược đồ, bản đồ,
...v.v.
- Theo quan niệm giáo dục trước đây cho rằng phương tiện trực quan là
phương tiện cần thiết để giáo viên truyền thụ kiến thức mới, là dụng cụ để minh
hoạ cho các kiến thức đã truyền đạt, còn đối với học sinh chỉ có tác dụng chấp nhận
và ghi nhớ.
- Theo phương pháp sử dụng này thì phương tiện trực quan chưa phát huy
hết vai trò của mình, đôi khi chưa thể hiện được tính trực quan và tính khoa học của
nó, giờ dạy Lịch sử sẽ rơi vào những hạn chế sau:
+ Giáo viên chưa phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong
việc lĩnh hội kiến thức.
3


SKKN

Phạm Thị Ngọc Hân

+ Các kiến thức lịch sử do giáo viên cung cấp học sinh sẽ không hiểu sâu,
không nhớ kỹ bằng chính các em tự nhận thức.
+ Các nguồn trí thức từ dụng cụ trực quan chưa thực sự hấp dẫn đối với các
em. Do đó không gây hứng thú học tập, không có khả năng phát triển tư duy.
+ Chưa tạo cho học sinh các kỹ năng học lịch sử quan trọng như: Đọc, chỉ
bản đồ, phân tích các sự kiện ...

thân nhận thức những vấn đề mới.
+ Thứ tư: hào hứng, say mê tiếp thu bài giảng của thầy, cô, cố gắng hoàn
thành những vấn đề được giao.
Ngoài ra còn có thể nhận biết sự tích cực của học sinh qua ánh mắt, cử chỉ,
nét mặt khi theo dõi bài giảng.
4


SKKN

Phạm Thị Ngọc Hân

Bộ môn Lịch sử có đặc trưng riêng: Quá khứ là không trực tiếp quan sát. Vì
vậy việc sử dụng và khai thác kênh hình là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại chính
xác và gần nhất. Góp phần vào sự tích cực của học sinh trong học tập, qua đó nâng
cao chất lượng nhận thức, thể hiện ở các mặt sau:
+ Ý nghĩa giáo dục:Việc khai thác kênh hình có hiệu quả góp phần tích cực
vào việc giáo dục tư tưởng tình cảm, đặc biệt là những xúc cảm thẩm mĩ cho HS.
+ Ý nghĩa phát triển: Việc khai thác tốt kênh hình giúp học sinh nhớ kỹ, hiểu
sâu những hình ảnh, kiến thức lịch sử. Kênh hình giúp học sinh phát triển khả năng
quan sát, tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của học sinh. Học sinh có hứng thú
trong khai thác tranh, ảnh. Từ đó sẽ giúp cho các em tiếp thu kiến thức một cách có
hiệu quả.
- Như vậy, khai thác và sử dụng hiệu quả kênh hình trong SGK là một trong
những phương pháp nhằm phát huy tính tích cực trong học tập lịch sử của học sinh;
đồng thời giáo viên cũng có thể gây hứng thú nhận thức cho học sinh thông qua hệ
thống kênh hình. Có nghĩa là việc khai thác tốt kênh hình sẽ giúp học sinh đi từ
chưa biết đến biết và hiểu lịch sử.
Với tất cả những ý nghĩa nói trên việc khai thác và sử dụng kênh hình trong
SGK góp phần quan trọng nâng cao chất lượng dạy- học lịch sử, gây hứng thú và

giáo viên kể cho các em nghe về tiểu sử, quá trình hoạt động cách mạng và khí tiết
của người chiến sĩ cộng sản Trần Phú – Tổng bí thư đầu tiên của Đảng ta,
Có thể là hình vẽ được giáo viên chuẩn bị trước, (như hình vẽ minh hoạ các
sự kiện lịch sử , ...)
Đối với hình vẽ: Ta cần cho học sinh tiến hành theo các bước sau:
- Đọc tên và cho biết các sự kiện lịch sử trên hình vẽ .
- Tìm hiểu mốc thời gian diễn ra sự kiện lịch sử, địa phương diễn ra sự kiện
đó.
- Rút ra nguyên nhân ý nghĩa, bài học lịch sử từ sự kiện đó.
* Tranh ảnh Lịch sử :
- Đối với giáo viên: Tham khảo sưu tầm nhiều tranh ảnh, tư liệu lịch sử có
liên quan đến tiết dạy để minh hoạ trên lớp .
- Đối với học sinh: Ngoài việc làm bài tập và học ở nhà học sinh sưu tầm
trên sách báo, những tranh ảnh liên quan đến bài học .
Tranh ảnh trong sách giáo khoa là một phần đồ dùng trực quan trong quá
trình dạy học. Từ việc quan sát, học sinh sẽ đi tới công việc của tư duy trừu tượng.
Thông qua quan sát miêu tả, tranh ảnh học sinh được rèn luyện kỹ năng diễn đạt ,
lựa chọn ngôn ngữ. Từ việc quan sát thường xuyên các tranh ảnh lịch sử , giáo viên
luyện cho các em thói quen quan sát và khả năng quan sát vật thể một cách khoa
học, có xem xét, phân tích, giải thích để đi đến những nét khái quát rút ra những kết
luận lịch sử .
Ví dụ : Khi dạy bài “Hoạt động của Nguyễn ái Quốc ở nước ngoài (19191925)’’ giáo viên cho học sinh quan sát bức ảnh lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đang phát
biểu ý kiến tại đại hội Tua (12- 1920). Sau khi tường thuật giáo viên cho học sinh
cảm nhận được việc Nguyễn Ái Quốc bắt đầu tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê nin để
truyền bá vào Việt Nam từ đó có tình cảm tự hào về con người Nguyễn Ái Quốc
hoặc là bài 19 “Phong trào cách mạng trong những năm 1930 -1935” mục “II.
Phong trào cách mạng 1930 -1931 giáo viên cho các em quan sát bức ảnh Xô Viết
Nghệ Tĩnh các em sẽ hiểu sâu sắc hơn không khí cũng như tinh thần đấu tranh của
nhân dân Nghệ Tĩnh và từ đó các em rút ra ý nghĩa của phong trào...
Khi dạy về cách mạng tư sản Pháp (1789 – 1794) về tình cảnh xã hội Pháp

cụ của thời tiền sử.
+ Từ các mô hình giáo viên giúp học sinh hiểu và nắm chắc các kiến thức
Lịch sử ...
+ Cách sử dụng có hiệu quả:
- Giáo viên cho học sinh quan sát nhận biết đó là mô hình gì?
- Mô hình đó gắn với sự kiện nào.
- Rút ra ý nghĩa, bài học từ mô hình.
* Bản đồ:
Bản đồ là phương tiện trực quan rất quan trọng và sinh động trong dạy học
lịch sử. Trên bản đồ lịch sử các sự kiện luôn được thể hiện một không gian, thời
gian, địa điểm cùng một số yếu tố địa lí nhất định
Ví dụ: Nếu chỉ dùng lời giáo viên khó có thể tạo cho học sinh biểu tượng về
tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mà thực dân Pháp và cố vấn Mĩ cho là “một pháo
đài bất khả xâm phạm”, “một cối xay thịt Việt Minh”. Nếu giáo viên biết kết hợp
sử dụng bản đồ chiến trường Đông dương 1953-1954, bản đồ chiến dịch Điện Biên
Phủ và một số hình ảnh khác thì học sinh có thể hiểu được khá rõ về vấn đề này:
Điện Biên Phủ có núi cao bao bọc, hiểm trở, là vị trí chiến lược có thể kiểm soát cả
chiến trường Lào và Bắc bộ .
Thông qua quan sát bản đồ, đọc kí hiệu, liên hệ với kiến thức địa lý đã học,
nội dung lịch sử được biểu diễn trên bản đồ sẽ được học sinh nhanh chóng nắm bắt,
việc sử dụng bản đồ lịch sử còn góp phần phát triển khả năng quan sát, trí tưởng
tượng, tư duy và ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng đọc bản đồ, củng cố thêm kiến thức
về Địa lí .
Chú ý: Khi sử dụng bản đồ nhất thiết phải giới thiệu cụ thể cho các em kí
hiệu ghi trên bản đồ, đồng thời tập cho các em quan sát, đọc bản đồ và tìm hiểu nội
dung lịch sử được thể hiện trên bản đồ .
Việc học lịch sử nhất thiết phải có bản đồ: “Có bản đồ là có địa lý”. Vậy học
địa lý nhất thiết phải có bản đồ. Bản đồ vừa là phương tiện giúp các em khai thác
kiến thức và là nguồn tri thức địa lý phong phú, nội dung địa lý đã được mã hoá
trở thành một thứ ngôn ngữ đặc biệt đó là ngôn ngữ bản đồ.

cũng có thể đánh giá được khả năng lĩnh hội của các em và có hướng điều chỉnh,
sửa chữa kịp thời cho các em và đây cũng là phương pháp kích thích khả năng tìm
tòi, sáng tạo của các em.
2- Phát huy tính tích cực của học sinh thông qua việc khai thác và sử
dụng băng video:
Là loại phương tiện và thiết bị kỹ thuật hiện đại, tạo cho học sinh có những
phương pháp học tập mới, biết quan sát, nghe, nhìn; có khả năng lĩnh hội kiến thức
với chất lượng cao, tốc độ nhanh. Với loại phương tiện này người giáo viên đòi hỏi
phải có sự chuẩn bị công phu: Phòng tối, tivi, đầu video... và cơ bản là phải hướng
dẫn, chỉ đạo tốt học sinh mới lĩnh hội chắc kiến thức.
Ví dụ: Khi dạy bài Chiến cuộc đông xuân 1953-1954 giáo viên sử dụng băng
video học sinh rất dễ dàng hiểu được quá trình chuẩn bị của quân và dân ta cũng
như diễn biến của chiến dịch, HS tiếp thu bài nhanh, rất hứng thú với bài học hoặc
bài 30 “Hoàn thành giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 1973 - 1975” giáo
viên sử dụng băng video thì học sinh dễ cảm nhận được hào khí của dân tộc, của 5
cánh quân cùng lúc vượt qua tuyến phòng thủ bên ngoài của địch tiến vào trung
tâm Sài Gòn..., Diễn biến của chiến dịch như thế học sinh sẽ tiếp thu bài rất nhanh
và sẽ nhớ lâu những hình ảnh mà mình đã được xem qua băng hình...
3-Phát huy tính tích cực của học sinh thông qua việc sử dụng đèn chiếu
8


SKKN

Phạm Thị Ngọc Hân

Sử dụng đèn chiếu là một phương pháp mới trong dạy học lịch sử. Một số
tranh ảnh, phần bài học quan trọng giáo viên có thể pho to hoặc viết vào giấy trong
sau đó đưa lên máy chiếu học sinh sẽ thấy thích thú hơn, nhớ lâu hơn khi được học
trên máy chiếu .

*CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRƯỚC KHI SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN
TRỰC QUAN:
Phương tiện trực quan được sử dụng tốt sẽ huy động được sự tham gia của
nhiều giác quan, sẽ kết hợp chặt chẽ cho được hai hệ thống tín hiệu với nhau: tai
nghe, mắt thấy tạo điều kiện cho học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, phát triển năng lực chú
ý quan sát, hứng thú của học sinh. Tuy nhiên nếu không sử dụng tốt, đúng mức và
bị lạm dụng thì dễ làm học sinh phân tán sự chú ý, không tập trung vào các dấu
9


SKKN

Phạm Thị Ngọc Hân

hiệu cơ bản chủ yếu. Phương tiện trực quan có nhiều loại. Mỗi loại lại có cách sử
dụng riêng, nhưng phải chú ý các nguyên tắc cơ bản sau:
1/ Phải căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ, nội dung và hình thức của các loại bài
học để lựa chọn phương tiện trực quan cho thích hợp, không nên dùng quá nhiều
phương tiện trực quan cho một tiết dạy.
2/ Phải có phương pháp thích hợp đối với mỗi loại phương tiện trực quan.
3/ Trước khi sử dụng cần phải giải thích: phương tiện trực quan này nhằm mục
đích gì? Giải quyết vấn đề gì? Nội dung gì? trong bài học.
4/ Đảm bảo tính trực quan, rõ ràng, thẩm mỹ, cần chú ý tới quy luật nhận thức,
giáo dục thẩm mỹ cho học sinh. Không nên sử dụng phương tiện trực quan quá cũ,
các hình vẽ không chính xác...
5/ Biết vận dụng, sử dụng dụng phương tiện trực quan với các phương pháp
dạy học khác: như nêu vấn đề, mô tả, diễn giải...cho nhuần nhuyễn, đạt hiệu quả
cao.
V. HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
Để rút ra nhận xét về một số biện pháp sử dụng hệ thống kênh hình ở 6,7,8, 9

14
56
7
28
1
4
8
32
15 46.9
13
40.6
3
9.4
1
3.1
9
28
6
21.4
16
57.1
5
17.9
1
3.6
TC
129
30
23.3
59

25
5
20
15
60
5
20
0
8
32
15
46.9
14
43.8
3
9.3
0
9
28
9
32.2
16
57.1
3
10.7
0
TC
129
37
28.7

trực quan, vừa đảm bảo tính khoa học. Điều đáng lưu ý là phương tiện trực quan dù
sinh động đến đâu cũng không thể giúp học học tốt nếu thiếu sự chỉ đạo tận tình
của giáo viên. Vậy với cương vị là người chỉ đạo, hướng dẫn, người giáo viên phải
luôn tác động ý thức học tập của các em, phải khơi dậy trong các em sự tìm tòi,sự
ham hiểu biết, sẵn sàng khám phá khoa học có như thế mới đem lại hiệu quả.
II. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA ĐỀ TÀI.
- Đề tài này có thế áp dụng cho tất cá các lớp 6,7,8,9 ở bộ môn lịch sử.
- Có thể áp dụng cho lớp chuyên và lớp không chuyên.
III. BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy để nâng cao chất lượng sử dụng phương
tiện trực quan, cần lưu ý những điều sau:
- Giáo viên cần hiểu rõ nội dung kiến thức phản ánh trong kênh hình thấy
được vai trò của kênh hình đối với tiết dạy.
- Giáo viên cần phải xác định được thời điểm hợp lí để hướng dẫn học sinh
sử dụng, khai thác kênh hình và phương tiện trực quan.
- Giáo viên phải xây dựng được hệ thống câu hỏi hợp lý để khai thác phương
tiện trực quan theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
- Giáo viên phải biết sử dụng kết hợp giữa kênh hình với các tài liệu khác để
tạo hứng thú học tập cho học sinh.
Để sử dung có hiệu quả phương tiện trực quan trong giảng dạy lịch sử, đòi hỏi
người giáo viên ngoài năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm thì phải có ý thức
trách nhiệm cao, phải có cái tâm mang đặc thù của nghề dạy học bởi vì phương
pháp dù hay đến mấy nhưng người thầy không có trách nhiệm cao, không yêu nghề
và thương yêu học sinh hết mực thì cũng không đem lại kết quả như mong muốn.
Có như vậy chúng ta mới góp phần đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao động
làm chủ nước nhà: có trình độ văn hoá cơ bản, phẩm chất đạo đức tốt, có sức khoẻ,
thông minh sáng tạo… đáp ứng được những yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của
11



Mục lục
A. Phần mở đầu
trang
I. Lý do chọn đề tài.........................................................................................1
1. Có lý luận.................................................................................................1
2. Có cơ sở thực tiển.....................................................................................1
II. Mục đích ....................................................................................................1
III. Phương pháp nghiên cứu...........................................................................2
IV. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.............................................................2
V.Kế hoạch thực hiện......................................................................................2
B. Phần nội dung
I. Có cơ sở lý luận............................................................................................2
II. Có cơ sở thực tiển........................................................................................3
III. Thực trạng và những mâu thuẫn.................................................................3
IV. Các biện pháp thực hiện.............................................................................4
V. Hiệu quả áp dụng........................................................................................10
C. Kết luận
I. Ý nghĩa của đề tài đối với công tác.............................................................11
II. Khả năng áp dụng.......................................................................................11
III. bài học kinh nghiệm, hướng phát triển.....................................................11
IV. Đề xuát, kiến nghị.....................................................................................12

13


SKKN

Phạm Thị Ngọc Hân

14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status