skkn vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong việc giảng dạy tác phẩm tự sự để phát huy tính tích cực của hs thpt lương thế vinh - Pdf 25

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: TRƯỜNG THPT KIỆM TÂN
Mã số:……………………….
TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ
TRONG VIỆC GIẢNG DẠY TÁC PHẨM
TỰ SỰ ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
CỦA HỌC SINH
Người thực hiện: ĐINH THỊ THÚY VUI
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục
Phương pháp dạy học bộ môn
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác
Có đính kèm:
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2011- 2012
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
2
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên : ĐINH THỊ THÚY VUI
2. Ngày tháng năm sinh : 03 – 08 – 1985
3. Nam, Nữ : Nữ
4. Địa chỉ : 90/T – Gia Tân III – Thống Nhất – Đồng Nai
5. Điện thoại : ĐTDĐ 0907 016 909
6. Fax (Email) : [email protected]
7. Chức vụ : Giáo viên.
8. Đơn vị công tác : Trường THPT Kiệm Tân-Thống Nhất-Đồng Nai.
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
1. Học vị : Cử nhân Ngữ văn

Một số cách thức vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong việc giảng dạy tác phẩm
tự sự 15
Nhận xét 23
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ VÀO VIỆC THIẾT KẾ GIÁO
ÁN VÀ GIẢNG DẠY BÀI “CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” (Nguyễn Minh
Châu) 23
KẾT THÚC VẤN ĐỀ 40
I.TÍNH HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI 40
KẾT LUẬN 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
4
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ
TRONG VIỆC GIẢNG DẠY TÁC PHẨM TỰ SỰ ĐỂ PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH
PHẦN MỞ ĐẦU
ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục mang một vị trí quan trọng trong việc xây dựng một xã hôi
phát triển vì vậy việc đổi mới phương pháp giáo dục để không ngừng nâng
cao đổi mới về mọi mặt.
Những năm gần đây, ngành giáo dục đã trải qua sự thay đổi quan trọng.
Từ đó nhiều phương pháp giáo dục cũng phải đổi mới. Chương trình giáo dục
phổ thông hiện hành đã nêu rõ: “phải phát huy tính tích cực, chủ động, tự
giác, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối
tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng học sinh phương pháp
tự học khả năng hợp tác rèn luyện kĩ năng vận dụng vào thực tiễn”. Tài liệu
hướng dẫn thực hiện chương trình, SGK môn Ngữ Văn lớp 12 đã giới thiệu
một số phương pháp dạy học theo định hướng tích cực như: thuyết trình, vấn
đáp, đàm thoại, phát hiện và giải quyết vấn đề………
Ngữ Văn là một trong những môn học chính trong nhà trường, được coi

Từ thực tiễn giảng dạy, tôi đã mạnh dạn “vận dụng phương pháp nêu
vấn đề để phát huy tính tích cực của học sinh trong việc giảng dạy tác
phẩm tự sự” với mục đích nâng cao hiệu quả dạy học văn và rèn luyện một
số kỹ năng cảm thụ, tiếp nhận văn bản văn học cho học sinh thông qua việc
phát hiện và giải quyết vấn đề trong tác phẩm tự sự.
GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
- Phương pháp nêu vấn đề có thể vận dụng vào việc giảng dạy tác phẩm tự sự
cũng như trữ tình. Nhưng trong phạm vi tìm hiểu và thực tế giảng dạy.
Chuyên đề sáng kiến giới hạn trong việc “vận dụng phương pháp nêu vấn đề
trong việc giảng dạy tác phẩm tự sự” trong chương trình Ngữ Văn 12 để phát
huy tính tính cực chủ động của học sinh trong việc học tác phẩm tự sự nói
riêng và học bộ môn Ngữ Văn nói chung.
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
6
- Do nội dung khuôn khổ của sáng kiến, bản thân tôi không đi sâu vào việc
trình bày chi tiết lí thuyết về phương pháp nêu vấn đề, mà chuyên đề đi vào
nội dung cụ thể của một số tác phẩm, một số cách thức vận dụng phương
pháp nêu vấn đề - câu hỏi nêu vấn đề sao cho hiệu quả trong một số tác phẩm
cụ thể, nhằm mục đích phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong
việc học môn Ngữ Văn. Qua đó hình thành cho các em biết nhận thức vấn đề,
giải quyết vấn đề từ trong những tác phẩm tự sự, hình thành kỹ năng đọc hiểu
văn bản văn học theo đặc trưng thể loại cho các em học sinh, góp phần nâng
cao chất lượng trong việc dạy học tác phẩm tự sự.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thực hiện đề tài: từ việc thực hiện tìm hiểu đặc điểm chung về
phương pháp dạy học nêu vấn đề, giáo viên áp dụng vào một số tác phẩm tự
sự cụ thể trong chương trình Ngữ Văn 12 cơ bản.Từ đó thiết kế bài dạy và kết
quả áp dụng đề tài tại các lớp mà giáo viên phụ trách.
PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN

ánh, lí giải trong tác phẩm.
CƠ SỞ THỰC TIỄN
Việc giảng dạy môn Ngữ Văn là giúp học sinh tìm hiểu về cái hay, cái
đẹp của một tác phẩm văn chương. Mỗi tác phẩm là một chỉnh thể nghệ thuật,
là một sản phẩm của nhà văn, được lựa chọn để đưa đến với người đọc là giáo
viên và học sinh. Vì vậy mỗi ý kiến của người đọc học sinh đưa ra về tác
phẩm đều đáng quý và đáng trân trọng. Để phát huy tính tích cực của học
sinh trong giờ học tác phẩm tự sự, giáo viên không nên phủ định những vấn
đề học sinh đưa ra mà cần định hướng cho học sinh cách suy nghĩ nhận xét
đúng đắn với mỗi tác phẩm văn chương. Giáo viên đóng vai trò hướng dẫn
học sinh tìm hiểu vào tác phẩm, tự khám phá ra những vẻ đẹp tiềm ẩn của tác
phẩm. Giáo viên bằng những câu hỏi đặt vấn đề, câu hỏi gợi mở, câu hỏi định
hướng khám phá, tạo điều kiện tốt nhất cho học sinh tự cảm nhận về tác
phẩm, tự nhận định về giá trị đích thực của tác phẩm.Việc dạy văn, mà đặc
biệt là việc phân tích tác phẩm văn học, để tạo sự hấp dẫn và hứng thú với học
sinh nhất định phải là việc biến học sinh thành người trong cuộc - để các em
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
8
tự phát huy năng lực tư duy của mình, tự khám phá ra những giá trị đích thực
của tác phẩm.
Trong những năm gần đây, cùng với sự đổi mới nội dung dạy học, vấn
đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy người học làm trung tâm
cũng được đặt ra. Bản chất của sự đổi mới đó là chuyển từ phương pháp
thông báo tái hiện sang việc tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức, học tập
của học sinh nhằm phát huy cao độ tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của
họ, để họ tự chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng. Để thực hiện điều đó cần phối hợp
các xu hướng: tích cực hoá, cá biệt hoá, phân hoá hoạt động nhận thức - học
tập của học sinh. Việc dạy học để phát huy tính tích cực của học sinh, đã và
đang được thực hiện. Tuy nhiên khó khăn nhất là việc vận dụng vào thực tế
giảng dạy sao cho hiệu quả. Một trong những phương pháp quan trọng trong

+ Khi sử dụng câu hỏi nêu vấn đề, giáo viên chỉ hỏi mà chưa tổ chức cho học
sinh giải quyết vấn đề
2. Về phía học sinh
Trường THPT Kiệm Tân đa số học sinh có tỉ lệ đầu vào chưa cao, ý
thức trong học tập chưa tốt. Khả năng tự học còn nhiều hạn chế
+ Các em còn thụ động trong việc chiếm lĩnh tri thức. Học sinh chỉ tái hiện
kiến thức một cách thụ động, chưa biết cách trả lời, hay thậm chí còn lúng
túng trong những câu hỏi khó, chưa biết cách vận dụng vào sáng tạo trong các
tình huống của bài học
+ Học sinh vẫn còn dừng lại ở mức độ nghe và ghi chép, chưa tham gia vào
việc xây dựng bài. Khả năng khái quát , khả năng cảm nhận tác phẩm văn học
của học sinh còn nhiều hạn chế.
+ Học sinh lười xây dựng bài, chưa có ý thức tham gia vào các hoạt động dạy
và học. Như thế giờ văn của thầy và trò sẽ trở nên mệt mỏi dẫn đến kết quả
học tập bộ môn Ngữ Văn chưa đạt hiệu quả cao.
IV. ĐẶC ĐIỂM PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC TÍCH CỰC
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động
nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của
người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người
dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
10
nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động. Đặc điểm của phương pháp dạy
học tích cực:
+ Dạy học thông qua tổ chức hoạt động học tập của học sinh.
+ Dạy học chú trọng phương pháp tự học.
+ Tăng cường học tập cá thể, phối hợp học tập hợp tác.
+ Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
Hiện nay giáo dục chú trọng vào phát triển năng lực của học sinh chứ
không đơn thuần là truyền thụ kiến thức. Mà muốn phát triển năng lực của

một chuỗi những tình huống vấn đề và điều khiển học sinh giải quyết những
vấn đề đó. Vì vậy mà nó đảm bảo cho học sinh lĩnh hội vững chắc những cơ
sở khoa học, phát triển năng lực tư duy sáng tạo và hình thành cơ sở thế giới
quan khoa học cho học sinh. Phương pháp dạy học nêu vấn đề là một trong
những PPDH mà ở đó GV là người tạo ra tình huống có vấn đề, tổ chức, điều
khiển học sinh phát hiện vấn đề, học sinh tích cực, chủ động, tự giác giải
quyết vấn đề thông qua đó mà lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo nhằm đạt
được mục tiêu dạy học.
Cấu trúc của quá trình giải quyết vấn đề.
2.1 Nhận biết vấn đề: trong bước này cần phân tích tình huống đặt ra, nhằm
nhận biết được vấn đề. Trong dạy học đó là cần đặt học sinh vào tình huống
có vấn đề. Vấn đề cần được trình bày rõ ràng.
2.2 Tìm các phương án giải quyết: Nhiệm vụ của bước này là tìm các
phương án khác nhau để giải quyết vấn đề. Để tìm các phương án giải quyết
vấn đề cần so sánh, liên hệ với những cách giải quyết vấn đề tương tự đã biết
cũng như tìm các phương án giải quyết mới. Các phương án giải quyết đã tìm
ra được sắp xếp, hệ thống hóa để xử lý ở giai đoạn tiếp theo.
2.3 Quyết định phương án giải quyết: Các phương án giải quyết đã được
tìm ra cần được phân tích, so sánh và đánh giá xem có thực hiện được việc
giải quyết vấn đề hay không. Nếu có nhiều phương án có thể giải quyết thì
cần so sánh để xác định phương án tối ưu. Nếu các phương án đã đề xuất
chưa giải quyết được vấn đề thì cần trở lại giai đoạn tìm kiếm phương án giải
quyết mới.
2.4 Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt
và giải quyết vấn đề thường như sau:
- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
12
+ Tạo tình huống có vấn đề;
+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;

sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh.
2.6 Những yêu cầu chính đối với câu hỏi nêu vấn đề trong giờ dạy Ngữ
Văn
- Câu hỏi nêu vấn đề phải tạo ra tình huống có vấn đề - kích thích sự tích cực
nhận thức của học sinh
- Câu hỏi nêu vấn đề phải có sự sáng tạo
- Câu hỏi nêu vấn đề phải có tính hệ thống
- Câu hỏi nêu vấn đề phải bám sát vào văn bản nghệ thuật
- Câu hỏi nêu vấn đề phải căn cứ vào đạc điểm tâm lý tiếp nhận của học sinh
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
13
- Câu hỏi nêu vấn đề phải có mối tương quan giữa các phương pháp khác
trong một giờ dạy văn
VI. PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ VỚI VIỆC XÂY DỰNG HỆ
THỐNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ TRONG GIỜ ĐỌC HIỂU TÁC
PHẨM TỰ SỰ
1. Một số yêu cầu khi vận dụng phương pháp nêu vấn đề
- Câu hỏi nêu vấn đề phải được đặt ra từ vấn đề của tác phẩm. Để đặt
được câu hỏi phát hiện trúng vấn đề cần triển khai. Giáo viên phải tìm hiểu
thật thấu đáo tác phẩm và chỉ có hiểu tác phẩm. Giáo viên mới có thể phát
hiện được những chi tiết có khả năng trở thành vấn đề và đó là những vấn đề
thích đáng nhất. Ở tác phẩm văn xuôi, vấn đề hay tình huống tiếp nhận
thường là những nội dung khái quát về tư tưởng, chủ đề, ý nghĩa tác phẩm
hay nghệ thuật của tác phẩm…………
- Giáo viên phải hiểu được đối tượng học sinh mình giảng dạy, hiểu được
khả năng tư duy và nhận thức của các em để từ đó vận dụng phương pháp nêu
vấn đề cho phù hợp. Thực tế tâm lý lứa tuổi của học sinh THPT thích tìm tòi
khám phá những tri thức mới, thích tham gia giải thích cái mới theo quan
điểm riêng. Hoc sinh lứa tuổi này đã biết suy luận đánh giá trên cơ sở phân
tích các dữ liệu học tập. Một số học sinh thường sa vào diễn đạt lan man mà

khám phá vai trò của tình huống còn kích thích tâm lý học sinh, giúp các em
tự đặt mình vào giải quyết một tình huống mới. Cốt truyện, nhân vật và
phương thức kể chuyện là ba yếu tố tạo nên đặc trưng của tác phẩm tự sự.
Nói đến cốt truyện là nói đến nhân vật, không thể không nói đến vai trò của
tình huống, tính cách. Để tính cách vận động và phát triển, nhà văn đặt tính
cách nhân vật trong tình huống bởi qua tình huống nhân vật sẽ được thử
thách, từ đó nhân vật bộc lộ lên những tính cách của mình.
Trên thực tế, khi phân tích một truyện ngắn, nhiều bài phân tích không
đề cập đến tình huống hoặc không nhận thức được vai trò của tình huống đối
với tính cách, vì vậy nhiều tình huống có giá trị đã bị bỏ qua. Nếu như hỏi học
sinh tình huống Tràng nhặt được vợ có tác động gì đến tâm trạng bà cụ Tứ thì
không thiếu học sinh sẽ lúng lúng trong việc trả lời. Vì vậy khi giảng dạy tác
phẩm, giáo viên cần chú ý vận dụng câu hỏi nêu vấn đề trong giờ giảng văn,
để học sinh có thể tiếp nhận tác phẩm .Tình huống của tác phẩm trở thành vấn
đề tiếp nhận của học sinh.
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
15
VD: Khi đặt câu hỏi nêu ra tình huống trong truyện ngắn Vợ Nhặt (Kim Lân),
học sinh sẽ thấy được vẻ đẹp của nhân vật Tràng, từ đó cũng thấy được phẩm
chất nhân hậu, niềm tin ý thức hướng tới tương lai của bà cụ Tứ. Học sinh sẽ
thấy tác dụng và vai trò của tình huống truyện. Từ đó giáo viên có thể triển
khai câu hỏi nêu vấn đề:
+ Việc Kim Lân tạo dựng một tình huống như vậy có những ý nghĩa gì? Tại
sao giữa nạn đói năm 1945, ranh giới mong manh giữa cái chết và sự sống,
Tràng lại dám “nhặt” vợ? Việc Tràng nhặt vợ như thế có ý nghĩ như thế nào?
Qua tình huống đó, nhà văn gửi gắm ý nghĩa gì?
Từ cách nêu vấn đề như trên, giáo viên dẫn dắt học sinh tìm hiểu ý
nghĩa của tình huống truyện. Bên cạnh đó, câu hỏi còn kích thích tâm lí học
sinh, gợi ra cho các em những thắc mắc và học sinh vận dụng sự hiểu biết của
mình để giải quyết một vấn đề mới.

2.2 Kết cấu và nghệ thuật sử dụng chi tiết tác phẩm tự sự là một khía
cạnh để giáo viên nêu vấn đề trong giờ đọc hiểu văn bản
Kết cấu là sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục của tác
phẩm, là sự tổ chức sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội dung của
tác phẩm trên cơ sở khách quan và theo một chiều hướng tư tưởng nhất định
Kết cấu làm nhiệm vụ sắp xếp các sự kiện, nhân vật, tình tiết, chi tiết các lớp
cảnh, chương hồi một cách lôgíc để cốt truyện bộc lộ được nội dung ý nghĩa
tác phẩm, thể hiện ý nghĩa tư tưởng của tác giả
VD 1: Trong truyện ngắn “Rừng xà nu” để định hướng cho học sinh phát
hiện tư tưởng và chủ đề của tác phẩm từ hình thức nghệ thuật. Giáo viên
có thể đặt ra câu hỏi nêu vấn đề:
+ Mở đầu truyện ngắn “Rừng xà nu” của nhà văn Nguyễn Trung Thành là
hình ảnh rừng xà nu, kết thúc tác phẩm là hình ảnh rừng xa nu nối tiếp trải dài
đến tận chân trời? Vậy theo em hình ảnh đó lặp lại cuối tác phẩm có ý nghĩa
gì?
+ Hình ảnh cánh rừng xà nu trải ra hút tầm mắt chạy tít đến tận chân trời xuất
hiện ở đầu và cuối tác phẩm gợi cho anh (chị) ấn tượng gì?
+ Từ những chi tiết vừa phân tích em có nhận xét gì về nghệ thuật miêu tả
hình tượng cây xà nu của Nguyễn Trung Thành?
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
17
 Câu hỏi trên nhằm mục đích định hướng tiếp nhận cho học sinh, giúp
học sinh phát hiện được hình thức nghệ thuật lặp chi tiết của tác phẩm. Bằng
cách hỏi như thế học sinh từ việc tìm hiểu ý nghĩa tượng trưng của hình tượng
rừng xà nu. Câu hỏi đó cũng giúp học sinh tìm tòi phát hiện, phát huy được
tính chủ động và khả năng sáng tạo qua họat động tiếp nhận. Từ việc gợi nhắc
cho học sinh tìm hiểu hình thức nghệ thuật bằng câu hỏi nêu vấn đề. Học sinh
sẽ nhận biết được rằng, hình tượng rừng xà nu được tái hiện cuối tác phẩm
không chỉ là biểu tượng con người ở làng Xôman hẻo lánh mà là biểu tượng
của cả Tây Nguyên, của cả miền Nam, của cả dân tộc Việt Nam trong thời kì

 Trong tác phẩm văn xuôi, hình thức lạ hóa kết cấu, lặp chi tiết như một
điểm sáng nghệ thuật độc đáo có tính hiệu quả cao. Từ những biện pháp
nghệ thuật này học sinh có thể nắm bắt được tư tưởng và chủ đề của tác
phẩm. Nhưng trong quá trình giảng dạy, phần lớn học sinh chưa chú ý đến
kết cấu và những chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm. Phần nhiều do các em
còn hạn chế về trình độ nhận thức, vốn sống, năng lực; các em chỉ có thể
nắm được nội dung cốt truyện mà chưa thể phát hiện được các hình thức
nghệ thuật của tác phẩm. Từ cơ sở đó giáo viên có thể sử dụng câu hỏi nêu
vấn đề vào những hình thức nghệ thuật, để định hướng tiếp nhận cho học
sinh, khơi gợi được hứng thú cho học sinh khi giảng dạy tác phẩm tự sự
2.3 Điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần thuật trong tác phẩm tự sự
Trong tác phẩm tự sự, nội dung trần thuật phải được thể hiện từ điểm
nhìn, bằng quan điểm trần thuật nào đó. Xác định điểm nhìn trần thuật nghĩa
là chỉ ra vị trí từ đó người trần thuật nhìn ra và miêu tả sự vật, tường thuật
câu chuyện trong tác phẩm. Nó chính là cách kể, phương thức kể, là tình
huống diễn ngôn. Như thế, điểm nhìn trần thuật có mối quan hệ mật thiết với
cấu trúc nghệ thuật, giọng điệu của tác phẩm, với cách cảm thụ thế giới, thái
độ của nhà văn. Nếu kể ở ngôi thứ nhất, tác giả hoặc vai trần thuật xưng tôi,
còn kể ở ngôi thứ ba xưng “hắn”, “nó”. Trong ngôi thứ nhất, tác giả và vai
trần thuật là nhân vật chính, trực tiếp tham gia vào các sự kiện hoặc kể lại câu
chuyện của mình. Ở ngôi thứ ba, người kể giấu mặt, đứng ngoài câu truyện
nhưng lại biết tất cả câu chuyện, biết những nỗi niềm sâu kín của nhân vật.
Trong thể tự sự, có nhiều ngôi kể, lời kể mà còn có nhiều cách kể: có
khi tác giả tách ra khỏi nhân vật để kể về nhân vật hay để vai trần thuật hoặc
nhân vật cùng tham gia kể; khi tác giả hòa vào nhân vật, kể bằng ngôn ngữ
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
19
của nhân vật…Cách tác giả không tham gia kể mà để cho vai kể và nhân vật
kể lại câu chuyện là một hình thức nghệ thuật nhằm thu hẹp lại lời kể, mở
rộng tính khách quan và tăng tính thuyết phục của đối tượng được miêu tả.

Mết như chiếc gạch nối giữa truyền thống bất khuất tự ngàn xưa với hiện tại
đau thương, hùng tráng. Chỉ con người như thế mới đủ uy tín, uy quyền dựng
lại lịch sử quê hương và răn dạy con cháu. Việc chọn cụ Mết làm nhân vật
người kể chuyện đã tạo nên giọng điệu sử thi trang trọng, thiêng liêng đặc biệt
cho thiên truyện. Giọng nói của cụ trầm ấm, vang vọng như tiếng nói của núi
rừng. Từ khía cạnh đó. Giáo viên cần nêu vấn đề để hỏi học sinh:
+ Trong truyện ngắn “Rừng xà nu” của nhà văn Nguyễn Trung Thành. Nhà
văn đã trao quyền cho nhân vật nào để kể về cuộc đời của Tnú- cuộc đời bi
tráng gắn liền với trang sử vẻ vang của dân làng?
+ Từ điểm nhìn trần thuật đó, câu chuyện đã đem lại ấn tượng gì và có tác
dụng như thế nào trong việc thể hiện tư tưởng chủ đề?
 Với cách thức như trên, học sinh sẽ nhận biết được giọng điệu trần
thuật của tác phẩm. Từ giọng điệu trần thuật này, người kể chuyện đã tạo nên
giọng điệu sử thi trang trọng, thiêng liêng đặc biệt cho thiên truyện
VD 3: Trong truyện “Những đứa con trong gia đình” (Nguyễn Thi), nhà
văn chủ yếu dùng thủ pháp hồi tưởng của chính người trong cuộc, đã trao
quyền trần thuật cho nhân vật Việt.
Tác phẩm được xây dựng theo kết cấu truyện ngắn hiện đại: là mạch
hồi ức của Việt, đan xen giữa quá khứ và hiện tại, nối kết một cách tự nhiên
tình cảm gia đình – quê hương – cách mạng. Không gian giàu kịch tính và
thời gian nghệ thuật của tác phẩm tạo nên sự đan cài của những câu chuyện kể
không theo trình tự tuyến tính mà có sự sắp xếp hợp lý, tạo ra sự liên tưởng
nhiều chiều. Tạo tình huống này, chọn điểm nhìn trần thuật này, Nguyễn Thi
có thể tổ chức kết cấu tác phẩm khá thoải mái, linh hoạt theo ý đồ của mình.
Câu chuyện không cần kể, cần nhớ theo trình tự thời gian. Những hồi tưởng
của Việt cứ đứt nối, tưởng chừng rời rạc, nhưng kì thực lại được chọn lọc, sắp
xếp theo ý đồ của nhà văn. Từ cách trần thuật đó giáo viên vận dụng câu
hỏi nêu vấn đề từ chính lời kể, cách kể (phương thức trần thuật)
Giáo viên hỏi học sinh: Truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình”
được trần thuật chủ yếu từ điểm nhìn của nhân vật nào? Hãy nêu tác dụng của

giảng dạy phần lớn các em chưa nhận thức được giá trị của các thủ pháp
nghệ thuật đó. Học sinh chỉ chú trọng đến từ ngữ, hình ảnh và các nghệ
thuật quen thuộc, còn lời kể, cách kể, chỉ phân tích qua loa hời hợt. Vì vậy
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
22
việc đặt câu hỏi nêu ra phương thức kể chuyện là một biện pháp tích cực để
học sinh tự mình tiếp cận tác phẩm dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Nhận xét
- Trong thực tiễn dạy học, bất kỳ một giờ dạy nào cũng có sự phối hợp, kết
hợp một vài phương pháp. Hơn nữa, bản thân các phương pháp dạy học đều
thâm nhập vào nhau để thể hiện tác động giữa giáo viên và học sinh. Giáo
viên không chỉ sử dụng một phương pháp dạy học mà còn phải kết hợp với
các phương pháp dạy học khác.
- Phương pháp dạy học nêu vấn đề sử dụng trong sự phối hợp đa dạng các
phương pháp khác như diễn giảng, đọc diễn cảm, trực quan…… Các câu hỏi
nêu vấn đề được đặt trong một hệ thống và thống nhất với mục tiêu bài học.
Trong quá trình học sinh tư duy đôi khi giáo viên phải dẫn dắt gợi ý cho học
sinh suy nghĩ tìm tòi để nhận ra những điều cần làm sáng tỏ.
- Việc vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong thực tế giảng dạy, hình thức
diễn đạt hay nội dung câu trả lời có thể khác đi vì vậy giáo viên phải chú ý
lắng nghe và phân tích câu trả lời của học sinh để có hành động cho phù hợp.
Câu hỏi được nêu ra ở từng mức độ hướng tới số đông học sinh.
- Giáo viên sử dụng linh họat các hình thức tổ chức cho học sinh nắm bắt vấn
đề như: thảo luận nhóm, thuyết trình, đóng vai Đối với giờ dạy học vận
dung theo phương pháp nêu vấn đề không khí lớp học nhẹ nhàng thoải mái.
Câu hỏi đa dạng theo từng mức độ khiến học sinh hào hứng trước vấn đề đưa
ra, như thế mục tiêu và kiến thức của bài học học sinh sẽ tiếp thu tốt hơn rất
nhiều.
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ VÀO VIỆC THIẾT
KẾ GIÁO ÁN VÀ GIẢNG DẠY BÀI “CHIẾC THUYỀN NGOÀI

- Để vận dụng phương pháp nêu vấn đề đạt hiệu quả cao, học sinh phải tổng
hợp được nhiều nguồn kiến thức. Vì vậy trước khi triển khai ở trên lớp cần có
hệ thống câu hỏi phụ để giúp học sinh bước đầu tìm hiểu về truyện
“Chiếc thuyền ngoài xa” để học sinh chuẩn bị bài ở nhà bên cạnh hệ thống
câu hỏi hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa.
Thiết kế giáo án:
Tiết: 70 – 71
CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
24
(Nguyễn Minh Châu)
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
Giúp học sinh:
- Hiểu được quan niệm của nhà văn về mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ
thuật, về cách nhìn đời và nhìn người trong cuộc sống;
- Thấy được những nét đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm và bắt đầu nhận diện
được một số đặc trưng cơ bản của văn xuôi Việt Nam sau năm 1975.
1/ TRỌNG TÂM KIẾN THỨC
- Những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và nghệ thuật: phải
nhìn nhận cuộc sống và con người một cách đa diện; nghệ thuật chân chính
luôn gắn liền với cuộc đời, vì cuộc đời.
- Tình huống truyện độc đáo, mang ý nghĩa khám phá phát hiện về đời sống.
Điểm nhìn nghệ thuật đa chiều. Lời văn giản dị mà sâu sắc.
2/ TRỌNG TÂM KĨ NĂNG: Đọc hiểu truyện ngắn hiện đại.
B/ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
Sách giáo khoa Ngữ Văn 12- HKII; sách giáo viên Ngữ Văn 12 HKII;
sách tham khảo, bảng phụ, tranh ảnh ……
C/ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
Giáo viên tổ chức giờ học bằng cách sử dụng phương pháp nêu vấn đề
phối kết hợp với các phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học khác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status