luận văn xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm khách quan dùng để phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học phần hoá học hữu cơ lớp 12 nâng cao - Pdf 15

TRƯỜNG………………………
KHOA…………………… BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

Xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập tự luận và
trắc nghiệm khách quan dùng để phát huy tính
tích cực của học sinh trong dạy học phần hoá
học hữu cơ lớp 12 nâng cao


nhiệm vụ được xác định là “Năm học đẩy mạnh công nghệ thông tin, xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
Trong quá trình dạy học ở trường phổ thông, nhiệm vụ quan trọng của
giáo dục là phát triển tư duy cho học sinh ở mọi bộ môn, trong đó có bộ môn
hoá học. Hoá học là môn khoa học thực nghiệm và lý thuyết, vì thế bên cạnh
việc nắm vững lý thuyết, người học cần phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo
mọi vấn đề thông qua hoạt động thực nghiệm, thực hành giải bài tập.
Một trong những phương pháp dạy học tích cực là sử dụng bài tập hoá học
trong hoạt động dạy và học ở trường phổ thông. Bài tập hoá học đóng vai trò
vừa là nội dung vừa là phương tiện để chuyển tải kiến thức, phát triển tư duy
và kỹ năng thực hành bộ môn một cách hiệu quả nhất. Bài tập hoá học không
chỉ củng cố nâng cao kiến thức, vận dụng kiến thức mà còn là phương tiện để
tìm tòi, hình thành kiến thức mới. Rèn luyện tính tích cực, trí thông minh sáng
tạo cho học sinh, giúp các em có hứng thú học tập, chính điều này đã làm cho
bài tập hoá học ở PT giữ một vai trò quan trọng trong việc dạy và học hoá
học, đặc biệt là sử dụng hệ thống bài tập để phát huy tính tích cực của học
sinh trong quá trình dạy học.
Đã có nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu các vấn đề về bài tập hoá
học và cũng có nhiều công trình được áp dụng ở mức độ khác nhau. Tuy
nhiên hệ thống bài tập hoá học lớp 12 NC phần hóa học hữu cơ và việc
nghiên cứu sử dụng chúng để phát huy tính tích cực của học sinh vẫn còn là
cái mới. Với mong muốn tìm hiểu và sử dụng hiệu quả các bài tập hoá học
nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trung học phổ thông, tôi đã lựa chọn đề
tài “Xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm khách
quan dùng để phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học phần hoá
học hữu cơ lớp 12 nâng cao trƣờng THPT”

3
Đây là hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm dùng để hình thành khái
niệm mới, củng cố kiến thức, nâng cao kiến thức rèn kỹ năng tư duy logic và

Nếu giáo viên nắm được nội dung phương pháp dạy học tích cực thì sẽ
biết cách thiết kế và sử dụng bài tập tự luận và TNKQ trong giảng dạy một
cách có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học hóa học, phát
triển tư duy, trí thông minh, phát huy tính tích cực của học sinh đáp ứng yêu
cầu cao về chất lượng học tập.
VI. Phƣơng pháp nghiên cứu
a. Nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các văn bản, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và
đào tạo có liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học, tâm lý học, giáo dục học
và các tài liệu liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa hoá học THPT đặc biệt là
chương trình hoá học lớp 12 NC phần hóa học hữu cơ.
- Căn cứ vào nhiệm vụ đề tài, dựa trên chương trình hoá học 12 nâng
cao, dựa trên cơ sở lý thuyết về câu hỏi TN để xây dựng hệ thống bài tập tự
luận và TNKQ nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của HS khi học phần
hóa học hữu cơ lớp 12 NC.
b. Nghiên cứu thực tiễn
Thăm dò trao đổi ý kiến với các giáo viên dạy hoá THPT về nội dung,
hình thức diễn đạt, số lượng câu hỏi tự luận và TNKQ của mỗi bài học và sử
dụng trong quá trình dạy học.
c. Thực nghiệm sư phạm
- Đánh giá hiệu quả sử dụng hệ thống bài tập tự luận và TN để phát
huy tính tích cực của học sinh trong học tập.
- Xử lý kết quả thực nghiệm bằng toán học thống kê.

5
VII. Điểm mới của đề tài
- Lần đầu tiên tuyển chọn và biên soạn hệ thống bài tập tự luận và
TNKQ theo các mức độ biết, hiểu, vận dụng thuộc chương trình hoá học 12

Tính tích cực con người được thể hiện trong hoạt động, đặc biệt trong
những hoạt động chủ động của chủ thể.
Tính tích cực trong hoạt động học tập, về thực chất là tính tích cực nhận
thức và được đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao
trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận thức
trong học tập không nhằm phát hiện những điều loài người chưa biết đến mà
nhằm lĩnh hội những tri thức loài người đã tích luỹ được. Tuy nhiên, trong
học tập học sinh cũng “khám phá” ra những hiểu biết mới đối với bản thân
dưới sự tổ chức và hướng dẫn của GV.
Học sinh sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã nắm được qua hoạt động
nỗ lực của chính mình. Nhưng khi đạt tới một trình độ nhất định thì sự học tập
tích cực sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và người học cũng có thể tạo ra
những tri thức mới cho khoa học.

7
I.1.1.3. Những dấu hiệu của tính tích cực học tập
Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như:
- Hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên đặt ra, tích cực bổ sung
các câu trả lời của bạn.
- Thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra và có lập luận
để bảo vệ ý kiến đó.
- Hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ
và đi sâu vào bản chất của sự kiện.
- Chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề
mới, tập trung chú ý vào vấn đề đang học.
- Kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản chí trước những tình
huống khó khăn….
Tính tích cực học tập được sắp xếp theo những cấp độ từ thấp đến cao như:
- Bắt chước: gắng sức là theo các mẫu hành động của thầy, của


I.1.1.4. Nhng nguyờn tc s phm cn m bo nõng cao tớnh
tớch cc nhn thc cho hc sinh
Qua nhng c s lý lun trờn ta nhn thy mun nõng cao tớnh tớch cc
nhn thc ca hc sinh cn dm bo nhng nguyờn tc sau:
- Vic dy hc phi c tin hnh mc gng sc i vi HS.
Cn phi lụi cun hc sinh vo hot ng nhn thc tớch cc, kớch thớch s
ham hiu bit ca hc sinh, cú chỳ trng n nng lc v kh nng ca hc
sinh sao cho mi hc sinh phi huy ng ht mc trớ lc ca mỡnh. Giỏo viờn
khụng nờn lm cho hot ng hc tp tr nờn khú khn vi hc sinh bng bi
- Khao khát học,hăng
hái trả lời câu hỏi
- Hay nêu thắc mắc
- Chủ động vận dụng
- Tập trung chú ý
- Kiên trì
Biểu hiện - Bắt ch-ớc
- Tìm tòi

Như vậy những nguyên tắc trên đều hướng tới các hoạt động điều khiển
của giáo viên nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong đó
có chú trọng đến việc dạy học sinh phương pháp học tập, phương pháp hoạt
động trí tuệ, hình thành năng lực giải quyết vấn đề và khả năng tự đánh giá
kết quả học tập của mình.
I.1.2. Phƣơng hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học hoá học
I.1.2.1. Khái niệm phƣơng pháp dạy học [16]
Phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt động của
giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục
đích dạy học.

10
I.1.2.2. Phƣơng hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học hoá học [36]
Từ thực tế của ngành giáo dục, cùng với yêu cầu đào tạo nguồn nhân
lực cho sự phát triển đất nước chúng ta đang tiến hành đổi mới phương pháp
dạy học chú trọng đến việc phát huy tính tích cực, chủ động của HS, coi học
sinh là chủ thể nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học.
Nguyên tắc này đã được nghiên cứu, phát triển mạnh mẽ trên thế giới và được
xác định là một trong những phương hướng cải cách giáo dục phổ thông Việt
Nam. Những tư tưởng, quan điểm, những tiếp cận mới thể hiện nguyên tắc
trên đã được chúng ta nghiên cứu, áp dụng trong dạy học các môn học và
được coi là phương pháp dạy học tích cực.
Những quan điểm, những tiếp cận mới dùng làm cơ sở cho việc đổi
mới phương pháp dạy học hoá học:
a. Dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Đây là một quan điểm được đánh giá là tích cực vì hướng dạy học chú
trọng đến người học để tìm ra những phương pháp dạy học có hiệu quả. Quan
điểm này đã chú trọng các vấn đề:
- Về mục tiêu dạy học: Chuẩn bị cho HS thích ứng với đời sống, xã hội.
Tôn trọng nhu cầu, hứng thú, khả năng và lợi ích của HS.

các tiềm năng của mỗi cá nhân được phát huy tối đa. Tư tưởng của quan điểm
này đã được thể hiện qua các định hướng chỉ đạo hoạt động dạy học ở nước ta
với các phong trào: “ Tất cả vì học sinh thân yêu”, “ Thầy chủ đạo, trò chủ
động”, “ Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”, “học sinh là chủ
thể sáng tạo trong học tập”.
b. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hoá người học
Định hướng hoạt động hoá người học đã chú trọng đến việc giải quyết
vấn đề dạy học thông qua hoạt động tự giác tích cực và sáng tạo của người

12
học, hình thành công nghệ kiểm tra đánh giá, sử dụng phương tiện kĩ thuật,
đặc biệt là công nghệ thông tin trong quá trình dạy học.
Theo định hướng hoạt động hoá người học các nhà nghiên cứu đã đề xuất:
- Học sinh phải được hoạt động nhiều hơn và trở thành chủ thể hoạt
động đặc biệt là hoạt động tư duy.
- Các phương pháp dạy học hoá học phải thể hiện phương pháp nhận
thức khoa học hoá học như: thực nghiệm hoá học, phân tích lí thuyết, dự đoán
lí thuyết, mô hình hoá… và tận dụng khai thác nét đặc thù của môn hoá học để
tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng phong phú của học sinh trong giờ học.
- Chú trọng dạy học sinh phương pháp tự học, phương pháp tự nghiên
cứu trong quá trình học tập.
Nét đặc trưng cơ bản của định hướng hoạt động hoá người học là sự
học tập tự giác và sáng tạo của học sinh. Để học sinh học tập tích cực, tự giác
cần làm cho học sinh biết biến nhu cầu của xã hội thành nhu cầu nội tại của
bản thân mình. Để có tư duy sáng tạo thì phải tập luyện hoạt động sáng tạo
thông qua học tập. Như vậy ngay trong bài học đầu tiên của môn học phải đặt
học sinh vào vị trí của người nghiên cứu, người khám phá, chiếm lĩnh tri thức
mới và coi việc xây dựng phong cách “ học tập sáng tạo” là cốt lõi của việc
đổi mới phương pháp dạy học.
Biện pháp hoạt động hoá người học áp dụng trong dạy học hoá học là:

- Dạy cách học, bồi dưỡng năng lực tự học và tự đánh giá.
- Sử dụng các PPDHTC.
- Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc các phương pháp
dạy học hiện đại với việc khai thác những yếu tố tích cực của các phương
pháp dạy học truyền thống.
- Tăng cường sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học, lưu ý đến ứng
dụng của công nghệ thông tin.

14
I.1.3. Phƣơng pháp dạy học tích cực [36]
I.1.3.1. Khái niệm phƣơng pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực là khái niệm nói tới những phương pháp
dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học.
Vì vậy phương pháp dạy học tích cực thực chất là các phương pháp dạy học
hướng tới việc giúp học sinh học tập chủ động, tích cực, sáng tạo chống lại
thói quen học tập thụ động.
Phương pháp dạy học tích cực chú trọng đến hoạt động học và vai trò của
người học trong quá trình dạy học theo các quan điểm, tiếp cận mới về hoạt động
dạy học như: “ Lấy người học là trung tâm”, “Hoạt động hoá người học”
I.1.3.2. Đặc trƣng cơ bản của phƣơng pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực có những dấu hiệu đặc trưng cơ bản như:
- Dạy học có chú trọng đến việc tổ chức, chỉ đạo để người học trở
thành chủ thể hoạt động, tự khám phá những kiến thức mà mình chưa biết.
Trong giờ học học sinh được tổ chức, động viên tham gia vào các hoạt động
học tập qua đó vừa nắm được kiến thức, kĩ năng mới vừa nắm được phương
pháp nhận thức, học tập. Trong phương pháp dạy học tích cực việc tổ chức để
học sinh học được tri thức, kĩ năng, phương pháp học tập luôn gắn quyện vào
nhau theo quá trình học kiến thức- hoạt động đến biết hoạt động và muốn hoạt
động, qua đó mà phát triển nhân cách người lao động tự chủ, năng động và
sáng tạo. Người học- đối tượng của hoạt động “ dạy” đồng thời là chủ thể của

được với các phương tiện hiện đại trong xã hội phát triển.
- Dạy học có sử dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá đa dạng,
khách quan, tạo điều kiện để học sinh được tham gia tích cực vào hoạt động
tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau. Nội dung, phương pháp, hình thức kiểm tra
đánh giá phải đa dạng, phong phú với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật,

16
máy tính và phần mềm kiểm tra để đảm bảo tính khách quan, phản ánh trung
thực tình trạng kiến thức của học sinh và quá trình đào tạo. Sự thay đổi khâu
đánh giá sẽ có tác dụng mạnh mẽ là động lực để đổi mới phương pháp dạy
học theo hướng dạy học tích cực.
I.1.3.3. Sự đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng dạy học tích cực
Sự đổi mới phương pháp dạy học hoá học theo hướng dạy học tích cực
được dựa trên cơ sở quan niệm về tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh
và dạy học hướng vào học sinh. Dạy học tích cực áp dụng trong dạy học hoá
học được đặt ra do yêu cầu đổi mới mục tiêu giáo dục, đổi mới nội dung môn
học và được tiến hành đồng bộ với đổi mới kiểm tra - đánh giá kết quả học
tập của học sinh.
Như vậy đổi mới phương pháp dạy học có quan hệ mật thiết với việc đổi
mới mục tiêu, nội dung dạy học và cách thức tổ chức dạy học nhằm phát huy
tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
a Đổi mới hoạt động dạy của giáo viên
Hoạt động dạy học hoá học không chỉ là quá trình truyền thụ kiến thức,
thông báo thông tin mà chủ yếu là quá trình giáo viên thiết kế, tổ chức, điều
khiển các hoạt động học tập của học sinh để đạt được các mục tiêu cụ thể ở
mỗi bài học.
Như vậy hoạt động cụ thể của giáo viên sẽ là:
- Thiết kế giáo án (kế hoạch giờ dạy) gồm các hoạt động của học sinh
theo những mục tiêu cụ thể của mỗi bài học mà học sinh cần đạt được.
- Tổ chức các hoạt động trên lớp để học sinh hoạt động theo cá nhân

của cá nhân hoặc nhóm của mình
- Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã có để giải thích hiện tượng hoá học xảy
ra trong đời sống, sản xuất và giải các dạng bài tập hoá học.

18
- Tự đánh giá và đánh giá việc nắm kiến thức của bản thân, của bạn, của nhóm.
Như vậy sự đổi mới phương pháp dạy học hoá học là cần phải làm cho học
sinh được hoạt động nhiều hơn, tư duy một cách tích cực chủ động hơn trong
việc chiếm lĩnh kiến thức và kỹ năng. Học sinh phải luôn có ý thức và biết cách
vận dụng kiến thức hoá học vào thực tế đời sống. Thông qua các hoạt động điều
khiển của giáo viên, học sinh không chỉ nắm được các tri thức, kĩ năng hoá học
mà còn nắm được kĩ năng hoạt động tìm tòi, phát hiện vấn đề học tập và kĩ năng
hoạt động tích cực để giải quyết vấn đề một cách linh hoạt và sáng tạo.
Cùng với sự đổi mới hoạt động dạy, hoạt động học thì cũng cần có sự
đổi mới hình thức tổ chức dạy học.
c. Đổi mới hình thức tổ chức dạy học và sử dụng phương tiện dạy học
Theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học thì hình thức tổ chức dạy
học cũng cần thay đổi cho phù hợp với các phương pháp dạy học được sử
dụng trong bài học. Hình thức tổ chức lớp học phải đa dạng phong phú cho
phù hợp với việc tìm tòi của cá nhân, hoạt động nhóm và cả lớp. Địa điểm học
của HS không chỉ diễn ra trên lớp mà còn thực hiện ở phòng bộ môn, phòng
học đa phương tiện, ở ngoài trường học…HS thu nhận thông tin qua nhiều
kênh khác nhau như SGK, băng, đĩa, mạng internet…
Khi lựa chọn các hình thức tổ chức lớp học giáo viên cần chú ý tạo ra
môi trường học tập đảm bảo được mối liên hệ tương tác giữa hoạt động của
giáo viên, hoạt động của học sinh và nhằm đảm bảo cho học sinh tiến hành
các hoạt động học tập có hiệu quả, chất lượng cao.
Các phương tiện dạy học được đa dạng hóa , không chỉ là phấn, bảng,
sách vở…mà còn là dụng cụ thí nghiệm, mô hình , mẫu vật, máy chiếu, bản
trong, máy tính, phần mềm ứng dụng dạy học. Phương tiện dạy học, thí

pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy tích cực, sáng tạo, được chuẩn bị
một năng lực thích ứng với đời sống xã hội: phát hiện kịp thời và giải quyết

20
hợp lí các vấn đề nảy sinh.
- Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ: Lớp học được chia thành từng
nhóm nhỏ từ 4 đến 6 em. Tuỳ mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các
nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ ý, được duy trì ổn định hoặc
thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hoặc
những nhiệm vụ khác nhau bằng phiếu giao việc. Nhóm cử nhóm trưởng phân
công mỗi người một phần việc. Trong nhóm, mỗi thành viên đều phải làm
việc tích cực. Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra
trong không khí thi đua với các nhóm khác.
I.2. BÀI TẬP HOÁ HỌC TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC [30]
I.2.1. Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hoá học trong dạy học tích cực
Trong dạy học hoá học, bản thân bài tập hoá học đã được coi là phương
pháp dạy học có hiệu quả cao trong việc rèn luyện kỹ năng hoá học. Nó giữ
vai trò quan trọng trong mọi khâu, mọi loại bài dạy hoá học. Song tính tích
cực của phương pháp này còn được nâng cao hơn khi được sử dụng như là
nguồn kiến thức để học sinh tìm tòi chứ không phải để tái hiện kiến thức.
Với tính đa dạng của mình bài tập hoá học có tác dụng:
- Đối với học sinh, nó là phương pháp học tập tích cực, hiệu quả và
không có gì thay thế được giúp học sinh nắm vững kiến thức hoá học, phát
triển tư duy, hình thành kĩ năng, vận dụng kiến thức hoá học vào thực tiễn, từ
đó làm giảm nhẹ sự nặng nề căng thẳng của khối lượng kiến thức lý thuyết và
gây hứng thú say mê học tập cho học sinh.
- Đối với giáo viên, bài tập hoá học là phương tiện, là nguồn kiến thức để
hình thành khái niệm hoá học, tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh
trong quá trình dạy học. Cụ thể là:
+ Bài tập hoá học được sử dụng như là nguồn kiến thức để học sinh tìm

- Bài tập về nồng độ dung dịch

22
*Bài tập thực nghiệm: là dạng bài tập có liên quan đến kĩ năng thực
hành như:
- Lắp dụng cụ thí nghiệm.
- Quan sát để mô tả, giải thích các hiện tượng thí nghiệm.
- Làm thí nghiệm để nghiên cứu tính chất của một chất hoặc một hiện
tượng hóa học.
- Phân biệt các chất.
- Tách các chất ra khỏi hỗn hợp…
*Bài tập tổng hợp: là dạng bài tập có tính chất gồm các dạng trên.
I.2.2.2. Dựa vào hình thức thể hiện có thể phân bài tập hoá học
thành 2 loại [41]
*Bài tập trắc nghiệm khách quan: là loại bài tập hay câu hỏi có kèm
theo câu trả lời sẵn và yêu cầu học sinh suy nghĩ rồi dùng 1 ký hiệu đơn giản
đã quy ước để trả lời.
Các dạng bài tập trắc nghiệm khách quan:
- Điền khuyết.
- Đúng sai.
- Ghép đôi.
- Nhiều lựa chọn.
Ưu điểm nổi bật của bài tập TNKQ là:
- Trong một thời gian ngắn có thể kiểm tra được nhiều nội dung kiến
thức, tránh được tình trạng học tủ, học lệch.
- Việc chấm điểm là khách quan, không phụ thuộc vào người chấm nên
độ tin cậy cao hơn các phương pháp kiểm tra đánh giá khác.
- Rèn luyện cho học sinh khả năng nhận biết, khai thác, xử lý thông tin
và khả năng tư duy phán đoán nhanh.
- Giúp người học tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập kết quả của mình

các môn học khác thông qua con đường quy nạp từ các hình mẫu - kiến thức,
hay từ sự phân tích tính chất, hoặc so sánh đối chiếu rồi tổng hợp. Các khái
niệm được hình thành phải chính xác, nhất quán để gây ấn tượng mạnh, nhớ

24
lâu cho học sinh. Vì vậy khi hình thành khái niệm hoá học, ta có thể xây dựng
hệ thống các bài tập, câu hỏi về nội dung của khái niệm có liên quan chặt chẽ
với nhau để học sinh tìm hiểu một cách đầy đủ khái niệm đó.
I.3.2. Tăng cƣờng sử dụng bài tập thực nghiệm hoá học
Trong mục tiêu môn học có nhấn mạnh đến việc tăng cường rèn luyện kĩ
năng hoá học cho học sinh, trong đó chú trọng đến kĩ năng thí nghiệm hoá học.
Bài tập thực nghiệm là một phương tiện có hiệu quả cao trong việc rèn luyện kĩ
năng thực hành, phương pháp làm việc khoa học, độc lập cho học sinh. Giáo
viên có thể sử dụng bài tập thực nghiệm khi nghiên cứu, hình thành kiến thức
mới, khi luyện tập, rèn luyện kĩ năng cho học sinh, trong giờ thực hành….
I.3.3. Tăng cƣờng sử dụng bài tập thực tiễn
Theo phương hướng dạy học tích cực giáo viên cần tăng cường sử dụng,
giúp học sinh vận dụng kiến thức hoá học giải quyết các vấn đề thực tiễn có
liên quan đến hoá học. Thông qua việc giải bài tập thực tiễn sẽ tạo cho học sinh
hứng thú, say mê trong học tập hoá học. Các bài tập có liên quan đến kiến thức
thực tế còn có thể dùng để tạo tình huống có vấn đề trong dạy học hoá học. Các
bài tập này có thể ở dạng bài tập lí thuyết hoặc bài tập thực nghiệm.
I.3.4. Sử dụng sơ đồ, đồ thị trong việc giải, chữa bài tập
Sử dụng bài tập có hình vẽ, mô hình, sơ đồ, đồ thị để tổ chức các hoạt
động học tập của học sinh có tác dụng phát triển năng lực quan sát tư duy trừu
tượng và khả năng vận dụng kiến thức một cách tổng hợp.
Có thể sử dụng sơ đồ ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình dạy học đặc
biệt ở giai đoạn ôn tập, củng cố, hoàn thiện, hệ thống hoá kiến thức.
I.3.5. Sử dụng các bài toán có nội dung biện luận để tăng cƣờng tính suy
luận cho học sinh khi học tập hoá học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status