PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. BỐI CẢNH ĐỀ TÀI
Trong những năm qua sự nghiệp giáo dục đào tạo của nước ta đã đạt được
những thành tựu đáng kể. Số trường lớp ngày càng tăng và đa dạng về loại hình
đào tạo.
Trong tình hình hiện nay, nền kinh tế đang phát triển cùng với sự phát triển
của xã hội thì khoa học công nghệ cũng phát triển mạnh mẽ. Xã hội đòi hỏi
người có học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức
dưới dạng có sẵn đã lĩnh hội được ở trường phổ thông mà còn phải có năng lực
chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức mới một cách độc lập, khả năng đánh giá các sự
kiện, các hiện tượng một cách chủ động trong cuộc sống. Vì vậy, đứng trước
nhu cầu tất yếu của xã hội, ngành giáo dục phải đổi mới phương pháp dạy học
theo xu hướng phát huy tính tích cực của học sinh là yêu cầu cấp bách của thời
đại, là xu thế tất yếu khách quan.
Trong luật giáo dục của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được
quốc hội thông qua tháng 12 năm 1996 ở mục II trong điều 4 đã nêu rõ: “
Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tính tự giác chủ động, tư duy
sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập, ý chí
vươn lên”.
Với sự hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức, sự nghiệp giáo dục và
đào tạo có vai trò hết sức quan trọng với sự phát triển nền kinh tế đất nước.
Trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã nêu rõ: “Giáo
dục thực sự là quốc sách hàng đầu thông qua việc đổi mới toàn diện giáo dục &
đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt
Nam. Những biện pháp cụ thể là: Đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương
pháp dạy và học, phát huy tính sáng tạo, khả năng vận dụng thực hành của người
học”. Để thực hiện được mục tiêu này chúng ta phải đổi mới phương pháp dạy
học, trong đó việc sử dụng phương tiện dạy học và thiết bị kĩ thuật để tổ chức
- 1 -
hoạt động học tập nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập là vấn
đề cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
là hình ảnh vẽ, sơ đồ bản trong, mẫu vật, mô hình….). Do đó phần nào hạn chế
về chất lượng dạy học.
III. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG:
1. Phạm vi đề tài:
Sử dụng phương tiện trực quan để phát huy tính tích cực học sinh trong dạy
bài 42, 43, 44, 50 sinh học 9
2. Đối tượng của đề tài:
Học sinh khối 9 trường trung học cơ sở Hòa Điền- Kiên Lương- Kiên Giang
IV. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
Từ những cơ sở trên và mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc tìm
tòi các biện pháp thích hợp nhằm tổ chức học sinh học tập tích cực, tiết dạy
phong phú, hấp dẫn , đồng thời nâng cao chất lượng bộ môn, qua đó giáo dục tốt
việc bảo vệ môi trường, kĩ năng sống cho học sinh nên tôi thấy việc nghiên cứu
đề tài : “ Sử dụng phương tiện trực quan để phát huy tính tích cực học tập của
học sinh trong dạy học bài 42, 43, 44, 50 sinh học 9 là việc cần thiết”.
V. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI:
Có thể nói những điểm mới của đề tài là: xác định cơ sở lí luận về cơ sở
dạy học nói chung và phương tiện trực quan nói riêng, xác định hệ thống
phương tiện trực quan để tổ chức dạy học sinh 9 và đề xuất những biện pháp sử
dụng phương tiện trực quan.
VI. TÍNH SÁNG TẠO VỀ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN
ĐỀ
Qua việc sử dụng phương tiện trực quan vào bài 42, 43, 44, 50 thấy được
kết quả đáng kể, đa số các em không còn thấy khó khăn khi giải quyết vấn đề,
hứng thú hơn trong học tập, tích cực khai thác kiến thức, đồng thời chủ động
nắm được kiến thức thông qua tranh ảnh sinh động thay vì đọc kênh chữ trong
sách giáo khoa.
Vấn đề sử dụng pương tiện dạy học hiện nay là phổ biến nhưng quan trọng
phải sử dụng như thế nào là hiệu quả, phương tiện đó có đáp ứng nhu cầu của
- 3 -
Hoành “Rèn luyện trí thông minh cho học sinh qua chương trình di truyền và
biến dị” (nghiên cứu giáo dục số 18-1986) Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành – 2000,
phương pháp tích cực trong dạy học ở trường trung học cơ sở đã đề cập đến thực
trạng kênh hình: “ Phim, đèn chiếu…” Sử dụng công tác độc lập với sách giáo
khoa để phát huy tính tích cực của học sinh: “Nguyễn Văn Vinh, Đặng Thị Dạ
Thủy – luận án thạc sĩ, khoa học tâm lí 1977, Đinh Quang Báo”, “hình thành
biện pháp học tập trong dạy học sinh giáo sư Trần Bá Hoành- nghiên cứu giáo
dục số 1-1994”. Dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
Nguyễn Kì “ thiết kế bài học theo phương pháp tích cực” và một số hội thảo
về đổi mới phương pháp dạy học đã được tổ chức như: “ hội thảo phương pháp
dạy học phổ thông’’ Do hội tâm lí học- giáo dục tổ c hức tại Hà Nội….
Năm 1995-1996, Bộ Giáo Dục đào tạo có chương trình nghiên cứu “ đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hóa người học”.
Hầu hết các công trình nêu trên đều đi sâu nghiên cứu cơ sở lí luận một số đề
tài theo hướng vận dụng vào giảng dạy các phân môn sinh học ở trường phổ
thông. Song còn ít số lượng và thiếu sự tập trung vào những phần trọng tâm của
chương trình.
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ:
Sinh học là một môn học không khó đối với học sinh THCS , nó là môn học
được tổng hợp từ kiến thức của cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, vì thế
học sinh chưa thấy được tầm quan trọng nên còn lúng túng, thờ ơ đối với tiết
học.
Mặt khác, chương trình sinh học phổ thông là những kiến thức đại cương về
sinh học từ trước tới nay của nhân loại. Là môn khoa học thực nghiệm, phương
tiện dạy học là điều cần thiết để giáo viên chuyển tải kiến thức đến học sinh.
Tuy nhiên ở thực tế trường, các phương tiện trang thiết bị cần thiết cho bộ môn
còn thiếu thốn vì vậy việc đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên còn
- 5 -
gặp rất nhiều khó khăn, hậu quả là tỉ lệ học sinh hứng thú học sinh học còn rất
thấp.
thoái về mọi mặt mà tác nhân chủ yếu là do con người trong quá trình khai thác
sử dụng không biết tiết kiệm và gìn giữ. Do đó việc đưa chương trình môi
trường vào bài dạy là hết sức thiết thực.
Nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng phát triển, nhiều gia đình cũng quan
tâm đến việc đầu tư cho việc học tập của con em nhiều hơn nhưng đối với bộ
học bài như môn sinh ở cấp trung học cơ sở lại ít được chú trọng, quan tâm nên
phần nào ảnh hưởng đến chất lượng bộ môn, bên cạnh đó việc tiếp thu kiến
thức giáo dục môi trường cho học sinh vẫn còn hạn chế. Vì thế việc đầu tư cho
tiết dạy nhằm thu hút sự chú ý của học sinh là hết sức quan trọng.
Những hạn chế, khó khăn khi giải quyết vấn đề :
* Thuận lợi :
Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, đời sống giáo viên ngày một nâng
cao. Bên cạnh đó, hằng năm sở giáo dục và đào tạo tỉnh Kiên Giang không
ngừng bồi dưỡng chuyên môn, rèn luyện tay nghề cho giáo viên đứng lớp trong
các lớp tập huấn ngắn hạn.
Được sự quan tâm từ Ban Giám Hiệu nhà trường và Ủy Ban Nhân Dân xã
Hòa Điền đã tạo điều kiện và giúp đỡ những em học sinh có hoàn cảnh khó khăn
được đến lớp.
Trường, lớp khang trang tương đối đầy đủ cơ sở vật chất, phục vụ tốt cho
việc dạy và học.
Giáo viên có ý thức học hỏi phấn đấu, trao đổi nghiệp vụ, tích lũy chuyên
môn để phục vụ giảng dạy.
Các đồng nghiệp trong tổ nhiệt tình đóng góp ý kiến, trao đổi kinh nghiệm
giảng dạy qua các tiết dự giờ, thao giảng, có sự chỉ đạo, giúp đỡ kịp thời của tổ
chuyên môn, BGH nhà trường.
* Khó khăn :
Giáo viên còn thiếu tài liệu tham khảo, đồ dùng dạy học dùng cho môn học
còn thiếu nhiếu, chưa trang bị được phòng thực hành.
- 7 -
Một số bộ phận học sinh còn xem nhẹ môn học cho rằng đây là môn học phụ
Yếu 5% 10% 15%
III. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH:
Trong quá trình giảng dạy tôi luôn tìm tòi, nghiên cứu để lựa chọn nội dung cơ
bản của tiết dạy, chọn phương pháp phù hợp để học sinh tiếp thu kiến thức của
bài học một cách thoải mái, không bị gò bó, thụ động, gây được sự hứng thú học
đối với học sinh. Từ đó đã định ra những kiến thức cần chuẩn bị cho học sinh.
Những thao tác tư duy cần được sử dụng thành thạo, những đơn vị kiến thức cần
truyền thụ trao đổi với các đồng nghiệp trong nhóm, tổ chuyên môn, từng bước
thử nghiệm qua từng bài dạy, chuẩn bị các kiến thức cơ bản cho nội dung bài
này. Giảng kỹ các kiến thức đã dạy, đặc biệt là kiến thức cơ bản, trọng tâm trong
những chương trình sinh học THCS.
Qua quá trình dạy lớp tôi nhận thấy việc sử dụng phương tiện trực quan vào
bài dạy 42, 43, 44,50 sinh học 9 là hết sức thiết thực vì nội dung bài trừu tượng,
khó hiểu. Nếu chỉ sử dụng kênh chữ, học sinh khó có thể nắm được kiến thức
một cách hoàn chỉnh mà phải bằng hình ảnh thật sinh động giúp học sinh so
sánh đối chiếu, từ đó hình thành nên những khái niệm cụ thể, lấy được những ví
dụ trong thực tế. Nếu chỉ sử dụng những hình ảnh trong tranh của sgk để học
sinh quan sát thì chưa thực sự thuyết phục tính tích cực sáng tạo của học sinh, từ
đó tôi đã thiết kế nội dung bài giảng của mình chú trọng việc tự làm đồ dùng dạy
học bằng cách sưu tầm, phác họa lại tranh, sơ đồ có liên quan đến nội dung bài
dạy để học sinh hứng thú hơn trong tiết học.
Tôi xin phép được trình bày một số kinh nghiệm nhỏ trong việc sử dụng
phương tiện trực quan trong dạy học bài 42, 43, 44, 50 sinh học 9, cụ thể như
sau:
* Bài 42: Ảnh hưởng của ánh sáng lên đời sống sinh vật
Dạy mục I- Ảnh hưởng của ánh sáng lên đời sống thực vật :
- 9 -
Để chứng minh được ánh sáng có ánh hưởng đến hoạt động sinh lí thực vật,
ngoài tranh ảnh sgk, ta có thể cho học sinh quan sát một số hình ảnh sau:
động vật vào nhóm hoạt động ban ngày và nhóm hoạt động về đêm.
Từ đó học sinh nêu được đặc điểm khác nhau giữa hai nhóm động vật:
+ Động vật ưa sáng: Gồm những động vật hoạt động ban ngày
Ví dụ:
+ Động vật ưa tối: Gồm những động vật hoạt động ban đêm, sống trong hang,
hốc đất.
Ví dụ:
Qua việc nghiên cứu sử dụng trực quan trong bài này giúp cho học sinh biết
được ánh sáng ảnh hưởng lên sinh vật và sự thích nghi của sinh vật với môi
trường từ đó học sinh có cách chăm sóc phù hợp từng loại sinh vật, bảo vệ
chúng đúng cách. Đồng thời giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là biết tìm
kiếm, xử lí thông tin, kĩ năng hợp tác và kĩ năng tự tin trình bày ý kiến trước tổ,
nhóm lớp.
Bài 43: Ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm lên đời sống sinh vật
Dạy mục I. Ảnh hưởng của nhiệt độ lên đời sống sinh vật:
Với những hình ảnh trong sách giáo khoa không đủ để hấp dẫn được sự chú
ý của học sinh mà có thể sử dụng tranh thật có liên quan của mộn địa lí về đặc
điểm của một số loài động vật hay thực vật sống vùng nam cực, hoặc vùng nhiệt
- 11 -
đới để học sinh thấy rõ hơn về sự thay đổi đặc điểm của các lồi khi sống ở các
mơi trường khác nhau.
Ví dụ:
- Đối với thực vật:
- Đối với động vật:
ảnh các cây mọc đơn độc dễ bị đổ ngã, hay những con thú tách bầy hay gặp
nguy hiểm bởi sự tấn cơng của thú dữ v.v…
cây bạch đàn đứng riêng lẻ bò gió thổi Các cây thông mọc gần nhau trong rừng .
Trâu rừng sống thành bầy có khả năng
tự vệ chống lại kẻ thù tốt hơn.
Cũng qua những hình ảnh đó giáo viên có thể dẫn dắt cho học sinh thấy
được mối quan hệ cạnh tranh giữa cá thể cùng lồi.
* Bài 44: Ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sinh vật:
Dạy mục I- Quan hệ cùng lồi.
Để học sinh thấy rõ được mối quan hệ hỗ trợ cùng lồi có thể chiếu hình ảnh
các đàn trâu, đàn bò hay linh dương cùng đi kiếm ăn cùng chiến đấu với kẻ thù,
hay chiếu hình ảnh rừng thơng mọc san sát cùng nhau chống được gió bão, hình
- 13 -
ảnh các cây mọc đơn độc dễ bị đổ ngã, hay những con thú tách bầy hay gặp
nguy hiểm bởi sự tấn cơng của thú dữ.
Ví dụ:
Các cây thông mọc gần nhau trong rừng . cây bạch đàn đứng riêng lẻ bò gió thổi
nghiêng về một bên
Trâu rừng sống thành bầy có khả năng tự vệ chống lại kẻ thù tốt hơn.
Cũng qua những hình ảnh đó giáo viên có thể dẫn dắt cho học sinh thấy
được mối quan hệ cạnh tranh giữa cá thể cùng lồi.
Dạy mục II- Quan hệ khác lồi:
Cũng để kích thích sự chú ý học sinh , giáo viên có thể dùng phương pháp
chiếu hình ảnh các mối quan hệ như : hình ảnh vi khuẩn trong nốt sần rễ cây họ
đậu, cánh đồng lúa có nhiều cỏ dại, Rận và bét sống bám trên da trâu bò, địa y
sống trên cành cây, cá ép bám vào rùa biển, dê và bò cùng ăn cỏ trên một cánh
đồng, giun đũa sống trong ruột người, cây nắp ấm bắt cơn trùng v.v…từ đó học
sinh có thể nắm được đặc điểm của các mối quan hệ khác lồi một cách dễ dàng
hơn là phân tích từng câu chữ.
Ví dụ
- 15 -
- Các chuỗi thức ăn có thể có:
• Lá cây "sâu " cầy " đại bàng "vsv
• Lá cây "sâu " bọ ngựa " rắn "vsv
• Lá cây "sâu " chuột " rắn "vsv
• Lá cây "sâu " cầy " hổ "vsv
• Lá cây"sâu " chuột"cầy "đại bàng
- Lưới thức ăn:
bọ ngựa rắn
Lá cây sâu chuột vi sinh vật
cầy hổ
đại bàng
Qua việc sưu tầm tranh ảnh và sử dụng sơ đồ bản trong giúp học sinh thấy
được sự gắn bó của các sinh vật trong quần xã, sự gắn bó ấy thể hiện ở nhiều
mối quan hệ, trong đó quan hệ dinh dưỡng có vai trò quan trọng được thể hiện
qua chuỗi thức ăn và lưới thức ăn và giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học.
Trên đây là một số giải pháp cho việc sử dụng phương tiện trực quan vào dạy
học ở một số bài sinh học lớp 9 mà bản thân tôi đã vận dụng và đạt một số kết
quả như mong đợi. Để có được kết quả trên tôi đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
1. Nghiên cứu lí thuyết: Tìm hiểu mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học
nói chung và dạy học sinh học nói riêng.
2. Tìm hiểu cơ sở lí luận và các biện pháp phát triển tính tích cực của học
sinh.
3. Quan sát sư phạm: Dự giờ, tìm hiểu tình hình sử dụng phương tiện dạy
học ở bộ môn sinh học.
4. Phương pháp điều tra: Tìm hiểu tình hình thực tế về sử dụng phương tiện
dạy học( vẽ, bản trong, mô hình, mẫu vật…) qua dạy sinh học 9 trung học
Ứng dụng lí luận để thiết kế bài dạy có sử dụng phương tiện trực quan nhằm
phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh:
- 17 -
Bài mẫu : Bài 42:
ẢNH HƯỞNG CỦA ÁNH SÁNG LÊN ĐỜI SỐNG SINH VẬT
I Mục tiêu:
1. kiến thức
- HS nêu được ảnh hưởng của nhân tố sinh thái đến các đặc điểm của nhân tố
sinh thái, giải phẫu sinh lí và tập tính của sinh vật
- Giải thích được sự thích nghi của sinh vật với môi trường.
2.Kỹ năng: Rèn kỹ năng quan sát, phân tích , tái hiện tư duy logic.
Rèn kĩ năng tìm kiếm, xử lí thông tin
Kĩ năng hợp tác, lắng nghe tích cực
Kĩ năng tự tin, trình bày ý kiến trước tổ, nhóm, lớp.
3. Thái độ: Giáo dục ý thứcbảo vệ sinh vật.
II. Chuẩn bị:
1. GV: a/ PP: Đàm thoại, thảo luận nhóm, học sinh đọc sgk, quan sát .
b/ ĐDDH: Bảng phụ
2. HS: Đọc SGK trước, phiếu học tập
III. Các bước lên lớp:
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Nội dung ghi bảng
1.Ổn định:
2.Kiểm tra bài cũ:
+ Thế nào là môi trường
sống của sinh vật? Kể
tên các loại môi trường?
+ Phân biệt các loại
nhân tố sinh thái?
3.Dạy bài mới:
*
- Người ta phân biệt cây
ưa bóng và cây ưa sáng
dựa vào tính chất nào?
- Quan sát, trả lời:
+ Có hình thái khác
nhau: mọc trong bóng
râm có lá to và màu
xanh rõ hơn.
- Đọc thông tin, hoàn
thành bảng
- Đại diện nhóm trình
bày.
- Lắng nghe
- Quan sát, trả lời:
+ Cây lá lốt: Lá xếp
nằm ngang để nhận
nhiều ánh sáng
+ Cây lá lúa: lá xếp
nằm nghiêng tránh tia
nắng chiếu thẳng góc.
- Giúp thực vật thích
nghi với môi trường.
- Dựa vào khả năng
thích nghi của chúng
với điều kiện chiếu
sáng của môi trường.
Ánh sáng ảnh hưởng tới
hoạt động sinh lí của thực
vật như: quang hợp, hô
hấp, hút nước của cây
vật hoạt động vào nhiều
thời gian khác nhau.
- Y/c hs lấy ví dụ chứng
minh ánh sáng có ảnh
hưởng lên đời sống
- Quan sát và phân
loại, từ đó nêu đặc
điểm.
+ Ưa bóng: Lá lốt, vạn
niên thanh, gừng, trầu
bà…
+ Ưa sáng: Bạch đàn,
lá lúa, ngô, xà cừ…
- Hs khác nhận xét, bổ
sung
- Ghi nhận thông tin
- Đọc thí nghiệm, trả
lời câu hỏi:
Chứng tỏ, ánh sáng
giúp nhận biết, định
hướng di chuyển trong
không gian.
- Quan sát
- Lấy ví dụ: Gà
thường đẻ trứng ban
ngày, vịt đẻ trứng ban
II. Ảnh hưởng của ánh
sáng lên đời sống động
vật:
nhớ cuối bài.
- Nêu ảnh hưởng của
ánh sáng lên đời sống
động, thực vật?
5.Hướng dẫn bài học ở
nhà:
Học bài, trả lời các
câu hỏi sgk, xem trước
bài 43, chuẩn bị phiếu
học tập.
đêm, mùa xuân nếu có
nhiều ánh sáng, cá
chép đẻ trứng sớm
hơn.
- Lắng nghe, trả lời:
+ Ảnh hưởng đến sự
sinh trưởng và sinh
sản
+ Chiếu sáng để cá đẻ,
tạo ngày, đêm nhân
tạo để gà, vịt đẻ nhiều
trứng.
- Đọc ghi nhớ
- Trả lời nội dung vừa
học
IV. Rút kinh nghiệm:
- 21 -
Khi chọn lớp thực nghiệm dạy bài 42, 43, 44, 50 so với lớp đối chứng thì các
em học có hiệu quả hơn thông qua kết quả khảo sát như sau:
Bảng kết quả đánh giá xếp loại bài kiểm tra qua tiết thực nghiệm:
- 22 -
- Phải chăm chỉ và có niềm vui trong học tập
- Biết vận dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống từ đó có thói quen
bảo vệ môi trường
Như vậy, việc sử dụng phương tiện trực quan trong giảng dạy để đạt hiệu quả
cần có sự nỗ lực rất lớn của thầy và trò.
III. Kết luận:
Hiện nay, đất nước ta ngày một phát triển và đang chuyển mạnh sang nền
kinh tế thị trường, việc đô thị hóa, nông nghiệp hóa, công nghiệp hóa v.v…đã
không khỏi làm nảy sinh những vấn đề khí quyển, nước uống, thức ăn, lương
thực…Từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, sự phong phú
của giới động thực vật, sự suy thoái về tài nguyên thiên nhiên, sự mất cân bằng
sinh thái đang diễn ra hàng giờ …làm cho cảnh quan thiên nhiên không còn đa
dạng và tươi đẹp. Vì thế, trong dạy học hiện nay nói chung và đối với bộ môn
sinh học nói riêng việc giáo dục bảo vệ môi trường là một vấn đề hết sức cần
thiết đối với giáo viên. Người giáo viên phải biết sử dụng phương tiện trực quan
và kết hợp các phương pháp dạy học linh hoạt để học sinh tiếp thu kiến thức tốt,
nhằm vận dụng kiến thức và kĩ năng vào việc chăm sóc, giữ gìn, bảo tồn, sử
dụng môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai.
Học sinh dựa vào các phương tiện trực quan sẽ chủ động tìm tòi kiến thức, biết
cách tự học để có thể học tập suốt đời. Có một kiến thức vững chắc như vậy sẽ
là hành trang cho các em có một tương lai tốt đẹp góp phần rất lớn trong việc
xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh.
Việc nghiên cứu tìm ra các phương tiện và sử dụng các phương tiện trong
dạy học bài 42, 43, 44, 50 là điều có ý nghĩa rất lớn, góp phần nâng cao chất
lượng bài dạy, từ đó mở rộng cho việc nghiên cứu sử dụng trực quan phát huy
tính tích cực học sinh trong toàn chương trình sinh học lớp 9 đặc biệt những bài
trừu tượng, nhiều kênh chữ…mở rộng hơn là áp dụng hướng sáng kiến kinh
nghiệm này cho các bài dạy ở bộ môn sinh học của chương trình trung học cơ sở
nói chung.