Nghiên cứu và đề xuất biện pháp thi công giếng nghiêng - Pdf 33

-1-

PHẦN MỞ ĐẦU
I.

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Ngày nay, khắp nơi trên thế giới đều nhận thức rõ ràng là các công trình thủy
điện là nguồn cung cấp năng lượng vô cùng to lớn cho sự phát triển của mỗi quốc
gia.
Đối với đường hầm nhà máy thủy điện đi qua vùng có địa hình thay đổi đột
ngột, địa chất phức tạp ta phải thi công giếng nghiêng.
Tuy nhiên, công tác thi công giếng nghiêng lại hết sức khó khăn về lựa chọn
biện pháp và thiết bị thi công do đặc thù về địa hình, địa chất xung quanh khu vực
xây dựng công trình.
Đề tài “Nghiên cứu và đề suất biện pháp thi công giếng nghiêng ” là hoàn
toàn cần thiết và có ứng dụng thực tế cao trong công tác thi công tuyến năng lượng
của các công trình nhà máy thủy điện.
II.

MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

Đưa ra giải pháp thi công giếng nghiêng hợp lý nhằm giảm chi phí và đẩy
nhanh tiến độ thi công
III.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu, đề suất biện pháp thi công giếng nghiêng của công trình thủy
điện Đakđrinh bằng phương pháp đào Robin và cốp pha trượt.
IV.

1.1.4. Phương pháp đánh chìm
1.1.5. Phương pháp đào lấp
1.1.6. Phương pháp kích ép
1.2. Các công tác chính trong thi công đường hầm bằng phương pháp khoan
nổ
1.2.1. Công tác trắc đạc
1.2.2. Công tác khoan gương nổ mìn
1.2.3. Công tác thông gió
1.2.4. Công tác cấp điện, nước
1.2.5. Công tác bốc xúc vận chuyển đá sau khi nổ mìn
1.2.6. Gia cố hầm
1.2.7. Công tác thi công vỏ hầm
1.3. Kết luận


-3-

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM THI CÔNG ĐƯỜNG HẦM

2.1. Điều kiện địa chất và địa chất thủy văn công trình
2.1.1. Điều kiện địa chất công trình
2.1.2. Điều kiện địa chất thủy văn công trình
2.2. Các yêu cầu về môi trường xây dựng trong thi công đường hầm
2.2.1. Yêu cầu về nhiệt độ trong thi công
2.2.2. Yêu cầu về thoát nước trong thi công
2.2.3. Yêu cầu về thông gió và cấp khí trong thi công
2.3. Công tác an toàn lao động và vệ sinh môi trường trong thi công đường
hầm
2.3.1. An toàn trong công tác khoan
2.3.2. An toàn trong công tác nổ mìn

4.1.3. Các thông số chính của tuyến năng lượng
4.2. Tổ chức thi công đào bằng thiết bị robin
4.2.1. Tính toán và lựa chọn thiết bị đào dẫn hướng
4.2.2. Công tác đào mở rộng
4.2.3. Công tác gia cố sau khi đào
4.2.4. Công tác bốc xúc vận chuyển đất đá sau khi đào
4.3. Tổ chức thi công vỏ giếng nghiêng bằng cốp pha trượt
4.4.1. Công tác cốp pha
4.4.2. Công tác cốt thép
4.4.3. Công tác bê tông
4.5. Kết luận:


-5-

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP THI CÔNG
ĐƯỜNG HẦM
1.1.

Các phương pháp xây dựng đường hầm
Khi thi công hầm qua các vùng địa chất khác nhau người ta có những

phương pháp đào khác nhau như:
- Phương pháp đào hầm bằng khoan nổ
- Phương pháp đào hầm theo phương pháp NATM
- Phương pháp đào hầm bằng khiên và máy TBM
- Phương pháp đánh chìm
- Phương pháp đào lấp
- Phương pháp kích ép
1.1.1. Phương pháp đào hầm bằng khoan nổ


2- Phễu do lỗ mìn rãnh tạo ra

4 - Lỗ mìn sửa hoặc mìn viền

Trong đó:
W: Đường cản ngắn nhất
Lk: Bước tiến của đường hầm hay chiều dài sau một chu kỳ khoan -nổ.
α: Góc nghiêng của lỗ mìn tạo rãnh.
Trong gương đào của đường hầm, các lỗ mìn được nổ theo trình tự sau:
* Trường hợp nổ mìn sửa:
- Nổ lỗ mìn tạo rãnh (1) trước
- Sau khi tạo phễu (2) tiến hành nổ 5,4.
* Trường hợp nổ mìn viền:
- Nổ (4) trước
- Sau đó nổ (1) và (5).
Thiết bị khoan trong đường hầm hiện nay thường dùng loại máy khoan có
thể tự di chuyển hoặc được đặt trên xe. Ví dụ như khi thi công đường hầm dẫn dòng
Cửa Đạt sử dụng loại khoan xoay đập, có thể khoan trên toàn mặt gương đào (D =
9m), thí dụ loại Boomer (Thụy Điển) gồm ba cần khoan một lần. Máy khoan này
còn dùng hỗ trợ công tác cậy đá long rời, rửa đá, đặt đinh thép hoặc neo đá vào
gương đào. Chiều sâu khoan nổ tối đa để nổ theo lý thuyết bằng bán kính Tuynen
song cần tính toán nổ thử để quyết định. Kinh nghiệm ở công trình Cửa Đạt (Lk

đỡ chủ yếu bằng khối đất đá xung quanh.
Đây là khái niệm cơ bản của phương pháp NATM. Kỹ sư hầm phải biết vận
dụng khái niệm này vào công tác đào hầm. Hệ thống chống đỡ hầm chỉ nên áp dụng
hạn chế và mang tính hỗ trợ hiệu ứng tự ổn định của khối đá.


-8-

Theo phương pháp NATM, điều quan trọng là phải duy trì cường độ nguyên
thủy của khối đá. Cách chống đỡ truyền thống bằng gỗ hoặc bằng vòm thép không
thể giúp ngăn ngừa sự biến dạng của khối đá xung quanh hầm. Bê tông phải được
phun ngay sau khi đào để có thể ngăn sự biến dạng của khối đá một cách hữu hiệu.
Theo công nghệ thi công hầm truyền thống, vẫn có một khoảng trống giữa hệ
thống chống đỡ và khối đá. Khối đá xung quanh chỉ được chống đỡ thông qua các
điểm tiếp xúc nên có xu hướng biến dạng vào phía trong đường hầm nhằm lấp đầy
khoảng trống nói trên. Sự rời rạc (biến dạng) của khối đá sẽ có xu hướng phát triển
đến độ sâu h tính từ tường hầm. Theo phương pháp NATM, sử dụng bêtông phun
trực tiếp và bám chặt với bề mặt khối đá quanh đường hầm nên ngăn không cho
khối đá biến dạng.
Biến dạng của khối đá phải được ngăn chặn hợp lý vì việc khối đá rời rạc sẽ
làm cho cường độ của nó bị giảm đi. Cường độ của khối đá, phụ thuộc chủ yếu vào
lực ma sát của mỗi phân khối đá, sẽ giảm xuống khi ma sát giảm. Nguyên tắc này
áp dụng chủ yếu đối với đá cứng. Đối với đá mềm, chẳng hạn như lớp đá trầm tích
sau Kỷ Đệ Tam đến Kỷ Đệ Tứ, đặc tính của chúng sẽ phụ thuộc vào lực dính và góc
nội ma sát.
Khối đá phải được giữ trong các điều kiện ứng suất nén ba trục. Cường độ
của khối đá chịu ứng suất nén đơn trục hoặc hai trục thì thấp hơn cường độ trong
điều kiện ba trục.
Cường độ chịu nén của khối đá ở điều kiện nén nhiều trục sẽ cao hơn khối đá
trong điều kiện nén một trục. Sau khi đào hầm, vách hầm sẽ ở trong trạng thái nở

đo đạc biến dạng đường hầm để đánh giá thời gian thích hợp lắp đặt kết cấu chống
đỡ. Thời gian tự đứng vững của vách hầm, tốc độ của sự biến dạng và loại đá là
những nhân tố quan trọng để tính toán thời gian chống đỡ vách đào của khối đá.
Đối với phương pháp NATM, công việc không thể thiếu được là đo đạc
quan trắc, để đo sự biến dạng của khối đá xung quanh hầm nhằm bổ sung kết cấu
chống đỡ cần khoan sâu vào đá xung quanh gương hầm rồi đặt tensơ. Còn kiểm tra
kích thước gương hầm có đồng quy hay đo cần dùng máy trắc địa.


- 10 -

Những nhân tố được nhắc đến ở trên được xác định từ kết quả đo đạc quan
trắc và những tính toán mang tính thống kê dựa trên kết quả của việc đo đạc quan
trắc rất có ích cho việc dự đoán được sự biến dạng ở bước đào hầm tiếp theo.
Nếu sự biến dạng hoặc sự tơi của khối đá được dự đoán là rất lớn, bề mặt
hầm đã đào phải được phun bê tông kín như là màn che. Kết cấu chống đỡ bằng gỗ
và thép chỉ tiếp xúc với bề mặt tường hầm ở các điểm chèn. Vì thế, đất đá giữa các
điểm tiếp xúc sẽ vẫn còn không được chống đỡ nên sự biến dạng hoặc tơi của khối
đá sẽ phát triển.
Trong trường hợp hệ thống chống đỡ (ban đầu) cần phải gia cường, các
thanh thép, khung chống thép và neo đá nên được sử dụng. Không nên tăng chiều
dày lớp bê tông vỏ hầm vì sẽ làm giảm diện tích tiết diện khai thác của hầm.
Thời gian và phương pháp thi công vỏ hầm được quyết định dựa trên kết quả
quan trắc của thiết bị.
Thông thường lớp bê tông vỏ hầm được thi công sau khi biến dạng của hầm
đã ổn định. Nếu sự biến dạng có xu hướng gia tăng, cần kiểm tra kỹ nguyên nhân.
Trong trường hợp này, lớp bê tông vỏ hầm phải được thiết kế đủ cường độ chống lại
áp lực của khối đá tác dụng lên.
Về mặt lý thuyết, cấu trúc của hầm giống như một cái ống hình trụ dày gồm
hệ thống chống đỡ và vỏ hầm cùng với môi trường đất đá xung quanh. Các cấu trúc

suất bất lợi.
Giải phóng áp lực của nước ngầm xuất hiện trong khối đá bằng hệ thống
thoát nước. Áp lực thủy tĩnh xung quanh đường hầm sẽ thay đổi tùy thuộc vào sự
biến đổi mực nước ngầm. Hệ thống thoát nước ngầm là cách làm giảm áp lực thủy
tĩnh hữu hiệu nhất.
Trình tự đào phân đoạn mặt cắt gương hầm theo phương pháp NATM tại
đường hầm Hải Vân như sau:
Bêtông phun

Neo

Bêtông phun

1

16m

2a

19m

1

2b


- 12 -

Bêtông phun


Hình 1-2: Trình tự đào phân đoạn đường hầm Hải Vân

Hình 1-3: Hình ảnh hầm Hải Vân sau khi hoàn thiện
1.1.3. Phương pháp đào hầm bằng khiên và máy TBM
1.1.3.1. Phương pháp đào hầm bằng khiên


- 13 -

Khiên là một loại kết cấu ống thép hoạt động dưới sự che chống áp lực địa
tầng lại có thể hoạt động tiến lên trong địa tầng. Đoạn đầu ống có thiết bị che chống
và đào đất, đoạn giữa của ống được lắp các kích đẩy cho máy tiến lên, đuôi của ống
có thể lắp các ống bê tông vỏ hầm đúc sẵn hoặc các vành thép để đổ bê tông vỏ
hầm. Mỗi lần khiên tiến lên cự ly một vòng, thì sẽ lắp đặt (hoặc đổ tại chỗ ) một
vòng vỏ hầm dưới sự che chống của khiên, đồng thời người ta sẽ ép vữa xi măng cát
vào khe hở đằng sau lưng các vòng bê tông để đề phòng hầm và mặt đất lún xuống.
Phản lực đẩy khiên tiến lên do vòng bê tông vỏ hầm chịu đựng. Trước lúc thi công
bằng khiên cần xây dựng một giếng đứng, lắp ráp khiên cũng tại giếng đứng, đất đá
do khiên đào xong được đưa qua giếng đứng ra ngoài mặt đất. Cũng có thể đào cửa
hầm rồi đào buồng tháo, lắp khiên ngay bên vách hầm (Trường hợp hầm dài) tránh
phải đưa ra ngoài tháo lắp khiên.

Hình 1-4: Sơ đồ thi công bằng khiên
Mỗi loại khiên đào được dùng trong phạm vi nhất định của điều kiện địa chất
và có giới hạn sử dụng hiệu quả nhất. Vì vậy để có thể lựa chọn được loại khiên đào


- 14 -

phù hợp nhất cần phải làm sáng tỏ phạm vi sử dụng và sử dụng hiệu quả nhất của


TBM là thiết bị đào hầm hiện đại được sử dụng để đào các đường hầm có tiết
diện tròn trong các điều kiện địa chất không tồn tại đứt gẫy. Máy có thể được sử
dụng để đào hầm ở vùng đá cứng, đất hoặc cát có lẫn các loại tạp chất. Đường kính
đào hầm bằng máy TBM có thể thay đổi từ 1m đến 15m. TBM là tổ hợp máy đào
hiện đại, toàn bộ các dây truyền công nghệ đều được cơ giới hoá từ khâu đào, xúc,
vận chuyển đều được các thiết bị chuyên dùng thực hiện.
Khi thi công bằng thiết bị này thực chất là quá trình vò nát, cắt rời đá bởi các
đầu cắt bằng đĩa vừa quay vừa ấn vào mặt đá. Máy sẽ trực tiếp đào đất bằng mũi
khoan (lưỡi dao) được lắp phía đầu và chuyển đất đá ra ngoài bằng hệ thống băng
tải, trong khi đó phần đuôi máy sẽ thực hiện việc lắp ghép các vỏ hầm bằng bê tông
đúc sẵn được đưa từ ngoài vào.

Hình 1-5: Máy đào đường hầm TBM.
1.1.4. Phương pháp đánh chìm
Công nghệ thi công hầm dìm là biện pháp thi công hầm đặt dưới nước (như
hầm qua sông, qua biển...). Phần thân hầm được đúc sẵn trên cạn thành từng phân
đoạn, các đoạn này được làm cho nổi lên, được kéo dắt ra rồi dìm xuống vị trí đã
định.
* Công nghệ hầm dìm được trình bày chi tiết hơn như sau
Nạo vét dưới đáy sông ( kênh, biển ...) thành đường hào tại vị trí đặt hầm.


- 16 -

Các đốt hầm được thi công trên cạn, chẳng hạn như trong một bể đúc, một
bãi đúc, trên một bệ có thể nâng hạ được.
Hai đầu của các đốt hầm được khép kín tạm bằng vách ngăn (tạo thành hộp
kín, giúp chúng có thể nổi trong nước).
Lần lượt mỗi đốt hầm được vận chuyển ra vị trí hầm, thông thường bằng

Kết cấu bảo vệ thành hào có thể được thu hồi sau khi thi công kết cấu công trình
ngầm nhưng cũng có thể được giữ lại làm một bộ phận quan trọng của kết cấu công
trình ngầm. Chẳng hạn hình dáng các công trình có thể kiến trúc phù hợp với các
yêu cầu của kỹ thuật giao thông, trong đó các giải pháp tối ưu về liên kết các hệ
thống giao thông với đoạn đường chuyển giao ngắn, cũng như liên kết tốt giữa các
điểm đi và đến. Chênh lệch về độ cao có thể bố trí ở mức nhỏ.
Phương pháp thi công hở còn cho phép xây dựng các mặt bằng đi bộ rộng
liên kết với các công trình thương mại, nhà hàng, công trình văn hóa và liên kết hợp
lý với phương tiện giao thông trên mặt đất (Nút giao thông Ngã Tư Sở, hầm chui
Kim Liên). Tuy nhiên để áp dụng phương pháp thi công hở cần chú ý các điều kiện
sau:
- Để thi công cần thiết phải có mặt bằng tự do trên mặt đất vừa đủ, như tại
các quảng trường, nút giao thông của các đường lớn, chẳng hạn một sân ga tàu điện
ngầm có chiều dài khoảng 120m, tàu tốc hành khoảng 210m.


- 18 -

- Do thời gian thi công lâu và diện tích sử dụng lớn, nên gây ảnh hưởng lớn đến
giao thông đi lại trên mặt đất. Do vậy nhất thiết phải chú ý đến các giải pháp giảm
ảnh hưởng đến giao thông trên mặt đất.
- Phương pháp xây dựng này cần loại trừ các mối nguy hiểm đối với các công
trình kiến trúc lân cận, chẳng hạn do gây lún sụt, dịch chuyển đất (ảnh hưởng lún từ
biến). Vì vậy khi độ sâu thi công lớn, chẳng hạn 25m, khoảng cách đến các công
trình kiến trúc không xa thì nhất thiết phải áp dụng các biện pháp đặc biệt (tường
cọc nhồi, tường hào nhồi - tường cừ có neo...).
- Với phương pháp thi công hở thì các tác động xấu đến môi trường sống, như
tiếng ồn, bụi bẩn, ảnh hưởng đến việc đi lại, là khó tránh khỏi. Do vậy cần phải có
các giải pháp hợp lý nhằm giảm thiểu các tác động này.
- Trong nhiều trường hợp phải tính đến các điều kiện của công trình kiến trúc,

1.2.

Các công tác chính trong thi công đường hầm bằng phương pháp
khoan nổ

1.2.1. Công tác trắc đạc
1.2.1.1. Khái quát chung


- 20 -

Nhiệm vụ chủ yếu của trắc địa trong xây dựng đường hầm là bảo đảm đào
thông hầm đối hướng với độ chính xác theo yêu cầu. Ngoài ra còn phải đảm bảo
xây dựng đường hầm, các công trình kiến trúc trong hầm đúng với hình dạng, kích
thước thiết kế và còn phải quan trắc biến dạng công trình trong lúc thi công cũng
như khi sử dụng đường hầm. Để đảm bảo các yêu cầu đó, cần làm các việc sau:
- Xây dựng hệ thống khống chế mặt bằng trên mặt đất: Khống chế mặt bằng
trên mặt đất có thể có thể thành lập dưới dạng tam giác đo góc, lưới đo cạnh, lưới
đo góc- cạnh hoặc hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning System – GPS).
Các điểm chủ yếu của đường trục hầm phải được bao gồm trong lưới khống chế đó.
- Định hướng cơ sở trắc địa trong hầm: được thực hiện qua cửa hầm, hầm
bằng, giếng đứng, giếng nghiêng.
- Thành lập khống chế mặt bằng trong hầm: Thành lập dưới dạng đường
chuyền (đường chuyền tiệm cận để dẫn về đường hầm chính, đường chuyền thi
công thường là cạnh ngắn để chỉ đạo đào hầm, đường chuyền cơ bản là trên cơ sở
của đường chuyền thi công nhưng có cạnh dài hơn để bảo đảm độ chính xác về
phương vị, đường chuyền chủ yếu là trên cơ sở đường chuyền cơ bản nhưng có
cạnh dài hơn).
- Thành lập hệ thống khống chế cao độ. Trục đường hầm và các kiến trúc
trong hầm được xác định và bố trí trong không gian 3 chiều. Để bảo đảm thông hầm

sát cửa hầm

1.2.2. Công tác khoan gương nổ mìn
1.2.2.1. Công tác khoan hầm
Hộ chiếu khoan nổ được thiết kế theo đặc điểm địa chất của từng dạng với độ
cứng của đá f: 5-10 (Tức là cường độ nén của đá từ 500kg/cm2 – 1000kg/cm2).
Đo và vẽ hộ chiếu thiết kế lên gương hầm đảm bảo đúng khoảng cách giữa
các hàng và các lỗ, tiến hành công tác khoan bằng máy khoan hai cần (đường kính
lỗ khoan D45). Công tác này rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của công


- 22 -

tác nổ mìn, tiến độ thi công và hiệu quả kinh tế trong thi công. Công tác khoan các
lỗ khoan hàng biên được đặc biệt lưu ý vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của
khối đá xung quanh đường hầm và công tác lẹm khi đào hầm.
Sử dụng máy khoan hiện đại tiên tiến có năng suất và độ chính xác cao tuy
nhiên công tác khoan phải được đặc biệt lưu ý, không phó mặc công tác khoan cho
máy tự hoạt động mà kỹ sư khoan nổ, ca trưởng (phối hợp cùng bộ phận kỹ thuật,
thiết bị) phải phụ trách trực tiếp điều chỉnh hướng khoan, góc khoan để đúng chính
xác theo hộ chiếu. Một điều quan trọng khác của công tác khoan nổ là góc mở tối
thiểu của cần khoan khi khoan biên. Góc mở của cần khoan ảnh hưởng rất lớn đến
việc nổ lẹm (lẹm âm hoặc lẹm dương) dẫn đến phài bù bê tông hoặc phải đục tẩy thì
mới đạt được biên thiết kế.
1.2.2.2. Công tác nạp mìn, lấp bua
Kết thúc công tác khoan người chỉ huy nổ mìn phải tiến hành kiểm tra chiều
sâu lỗ khoan, khoảng cách giữa các hàng các lỗ để có những điều chỉnh phù hợp sau
đó mới cho công nhân tiến hành công tác nạp mìn. Nguyên tắc chung và cơ bản
nhất của công tác nạp mìn là thuốc nổ trong lỗ phải được nổ hết (đối với nạp phân
đoạn hay không phân đoạn thì kíp phải kích hoạt được tất cả các thỏi thuốc đều nổ)

Các kíp điện phải luôn chập hai đầu dây với nhau trước khi tiến hành công
tác đấu mạng.
Chỉ huy nổ mìn là người cuối cùng kiểm tra các điều kiện an toàn và đấu nối
mạng nổ.
Sau khi đấu mạng nổ (các thiết bị lúc đó đã di chuyển đến khu vực an toàn)
các thiết bị điện, chiếu sáng, thông gió được tắt hết và người chỉ huy nổ mìn tiến
hành điểm hoả nổ mìn.
Nổ mìn xong chỉ huy nổ mìn vào kiểm tra gương nổ, thông gió, chiếu sáng
...và đưa các thiết bị vào bắt đầu dây chuyền chọc om, bốc xúc và vận chuyển.
1.2.3. Công tác thông gió
Ngay sau khi nổ mìn, hệ thống chiếu sáng được hoạt động trở lại và bật quạt
để thông gió trong hầm. Nếu hầm đào càng xa thì thời gian thông gió càng lâu có
thể tới 30 phút.


- 24 -

Công nhân tiến hành dùng gậy để chọc om. Mục đích là làm rơi tất cả các
hòn đá long rời bên ngoài để bảo đảm an toàn cho người và các phương tiện vào
tiến hành các công việc tiếp theo. Công nhân thực hiện công tác chọc om được trang
bị đầy đủ bảo hộ lao động, đội mũ bảo hiểm nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho
người trong quá trình chọc om.
Sau khi bốc xúc xong dùng máy đào vào cào sạch mặt gương, xử lý tối đa đá
om trên mặt gương để tránh khi khoan cần khoan bị kẹt.
1.2.4. Công tác cấp điện, nước
1.2.4.1. Cấp điện và chiếu sáng
Tùy theo trình độ cơ giới hóa thi công đường hầm được nâng cao, lượng điện
cần cho thi công ngày càng lớn. Đồng thời để đảm bảo chất lượng và an toàn thi
công. Yêu cầu cung ứng điện đảm bảo cho thi công đường hầm ngày càng cao, do
đó việc cung cấp điện cho thi công càng trọng yếu.

Hệ số dùng điện đồng 0,8 ÷ 0,9

Hệ số dùng điện đồng thời của 0,65÷ 0,75

thời của máy thông gió

cơ giới thi công dùng điện

Điện dùng để chiếu sáng so với điện động lực chỉ chiếm một tỷ lệ tương đối
nhỏ, để đơn giản tính toán, ngoài điện động lực ra chỉ gia thêm 10% ÷ 20% sẽ được
tổng lượng điện, tức:
S động =

∑P

1

ηcos φ

. K1. K2

S Chiếu sáng = (1,1 ÷ 1,2) Sđộng
Trong đó: Sđộng - Điện lượng cần thiết cho thiết bị động lực hiện trường. Các
kí hiệu khác giống như trên, khi sử dụng thiết bị dùng điện loại lớn (như máy đào),
K1 có thể lấy bằng 1,0 để tiến hành tính toán.
Cung cấp điện cho hiện trường thi công đường hầm có 2 phương thức: Công
trường tự xây dựng trạm cung cấp điện, và dựa vào mạng lưới điện cung cấp điện
của địa phương. Bình thường nên tận dùng mạng lưới cung cấp điện của địa phương
chỉ trừ trường hợp mạng lưới cung cấp điện của địa phương không đáp ứng được
yêu cầu hoặc khi ở quá xa, mới xây dựng trạm phát điện riêng. Ngoài ra công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status