VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN ĐỂ GIỚI THIỆU VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ, DANH NHÂN VĂN HÓA ĐỊA PHƯƠNG - Pdf 33

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KIM THÀNH
TRƯỜNG THCS KIM ANH

BÀI DỰ THI
VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN
ĐỂ GIỚI THIỆU VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ, DANH NHÂN
VĂN HÓA ĐỊA PHƯƠNG

THÔNG TIN NHÓM HỌC SINH
- Họ và tên: Dương Thị Quỳnh Hân
Sinh ngày 24-10-2002. Lớp 7B
- Họ và tên: Dương Thu Ngân
Sinh ngày 27-10-2002. Lớp 7B
- Họ và tên: Nguyễn Minh Hiếu
Sinh ngày: 2003. Lớp 6B

Năm học 2014-2015


VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN LỊCH SỬ - NGỮ VĂN
ĐỂ GIỚI THIỆU VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - DANH NHÂN VĂN HÓA ĐỊA PHƯƠNG

1. Mô tả tình huống.
Trong giờ học lịch sử lớp 7B, cô giáo hỏi:
- Quê em có di tích lịch sử, danh nhân văn hóa nào không?
Bạn Ngân trả lời:
- Hải Dương quê em, có rất nhiều di tích lịch sử, danh nhân văn hóa.
Cô giáo lại hỏi:
- Nếu bây giờ cô đóng vai là một khách du lịch đến thăm quê em, em sẽ giới
thiệu những gì về di tích lịch sử và danh nhân văn hóa.
Cả lớp đều đồng thanh trả lời:

- Bước 2: Chọn di tích lịch sử, danh nhân văn hóa địa phương.
- Bước 3: Tìm tư liệu lịch sử liên quan: Tư liệu viết, tư liệu ảnh, phim…
- Bước 4: Đến thực địa tìm hiểu công trình kiến trúc lịch sử, di tích lịch sử định
giời thiệu.
- Bước 5: Viết bài.
5. Thuyết minh tiến trình giải quyết tình huống.
Bước 1. Làm quen với thuật ngữ
- Muốn vận dụng kiến thức liên môn để thuyết minh về một danh lam thắng
cảnh, di tích lịch sử, danh nhân địa phương chúng em đi nghiên cứu kĩ các thuật
ngữ như danh lam thắng cảnh,di tích lịch sử, địa phương, thuyết minh, danh nhân
văn hóa…Cụ thể, qua tìm hiểu chúng em biết được:
- Danh lam thắng cảnh: Di tích thắng cảnh (danh lam thắng cảnh) là cảnh quan
thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình
kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học.
- Di tích lịch sử: Dấu vết của thời xưa
- Địa phương: Phần đất trong một nước ở về phương nào đó.
- Thuyết minh: Giải thích bằng lời những sự việc diễn ra trên màn ảnh
- Danh nhân: Người có danh tiếng
Bước 2: Chọn địa danh, nhân vật thuyết minh.
Lịch sử đã để lại cho Hải Dương 1.098 di tích lịch sử, trong đó có 133 di tích
được xếp hạng cấp quốc gia. Bên cạnh bề dày văn hóa, lịch sử, Hải Dương cũng là
miền đất sinh ra và gắn liền nhiều danh nhân tên tuổi. Như danh nhân quân sự thế
giới Trần Hưng Đạo, danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi, danh sư Chu Văn


An, Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, đại danh y Tuệ Tĩnh… Đó là lý do
mà gần như đến với bất kỳ xã, huyện nào của tỉnh được mệnh danh là xứ Đông của
miền Bắc, bạn sẽ có cơ hội tham quan hàng loạt các di tích lịch sử lớn nhỏ, nghe
hàng trăm huyền thoại về các danh nhân lớn hay được chạm tay vào các đồ vật chế
tác từ ngàn xưa. Dựa vào những dữ kiện trên, có thể chia các danh thắng của Hải

Ảnh lễ hội chùa Muống


Ảnh khuôn viên, hệ thống tháp được bảo tồn đến ngày nay


b. Về danh nhân Nguyễn Trãi.
- Tư liệu ảnh:

- Tư

liệu viết: Tạp chí Côn Sơn; Đại cương Lịch sử Việt nam quyển 2; Lịch

sử Việt Nam từ cội nguồn đến năm 1858; Những mẩu chuyện về Nguyễn Trãi...
c. Về danh sư Chu Văn An


- Tư liệu ảnh:
Đền thờ thầy giáo Chu Văn An


- Tư liệu viết: tạp chí Quê hương; Đại cương Lịch sử Việt nam quyển 2; Lịch
sử Việt Nam từ cội nguồn đến năm 1858....
Bước 3. Giải quyết tình huống.
- Sắp xếp lại các tư liệu đã sưu tầm.
- Bàn bạc thống nhất các tự liệu lịch sử sẽ đưa vào bài viết (Hình ảnh, phim,
……).
- Viết bài thuyết minh.
Bước 4. Hoàn thành sản phẩm.
a. Giới thiệu về chùa Muống.

qua chiến tranh tàn phá, chùa còn hệ thống tháp thời Lê và thời Nguyễn khá đồ sộ,
di tích đang được khôi phục với quy mô lớn, từng bước trả lại dáng vẻ ban đầu của
di tích.
Chùa Quang Khánh là nơi thờ phật theo thiền phái Trúc Lâm, đồng thời là
nơi thờ nhà sư Tuệ Nhẫn, là môn đệ trung thành của thiền phái Trúc Lâm, do vua
Trần Nhân Tông sáng lập. Đồng thời, nhà sư còn có công truyền giáo lý và xây
dựng 72 ngôi chùa lớn nhỏ. Đối với nhân dân làng Muống, nhà sư không chỉ là
người có công xây dựng chùa, mà ông còn là người đầu tiên khai khẩn đất đai, lập
nên làng Muống ngày nay, vì vậy ông lại là một vị thành hoàng được nhân dân địa
phương thờ phụng.
Lễ hội chùa Muống được bắt nguồn từ việc kỷ niệm ngày mất của nhà sư
Tuệ Nhẫn, ông là người tu hành có công chữa khỏi mắt cho vua Trần Minh Tông
và là môn đệ trung thành xây dựng nên thiền phái Trúc Lâm Việt Nam. Theo sách


"Đại Nam nhất thống chí" NXB KHXH, HN năm 1971; tr 411- 412 viết: "Chùa
Quang Khánh ở xã Dưỡng Mông, huyện Kim Thành, sư ông Mộng trụ trì ở đây, tu
luyện đắc đạo, phép thuật tinh thông. Vua Trần Minh Tông đau mắt, các thầy
thuốc điều trị không khỏi, đêm mộng thấy một thầy thuốc tự xưng là ông Mộng, khi
tỉnh dậy, không cần thuốc thang mà mắt tự khỏi, bèn lấy tên người trong mộng hỏi
khắp châu huyện, khi đến chùa này mới thấy, nhà vua sắc phong là Từ Giác Quốc
Sư, lại phát tiền kho tu bổ chùa quán, cho tên là chùa Quang Khánh, Lê Thánh
Tông có đề thơ khắc vào đá nay vẫn còn”
Vào thời Trần chùa đã được tu tạo nhiều lần, có lần vua sai Nguyễn Công
Củng là quan trong triều về chỉ đạo thi công, hoàng hậu Nguyễn Thị Lương cấp
tiền, bạc. Chùa có quy mô tới 120 gian lớn nhỏ, xây dựng theo kiểu "nội công
ngoại quốc" trên khuôn viên rộng 15.000m2, bao gồm tam quan, tiền đường,
thượng điện, nhà tổ, nhà tăng, hành lang, gác chuông, gác khánh...Chùa có 32 tháp
sư và hàng trăm pho tượng lớn nhỏ.
Trải qua thời gian, chùa Muống có khá nhiều nhà sư nổi tiếng trụ trì như sư

tượng Thánh tổ Từ Giác Quốc Sư, sau cùng các Phật tử và nhân dân. Trước đây, có
3 kiệu bát cống trên có tượng Thánh Phụ, Thánh Mẫu và tượng Từ Giác Quốc Sư, 3
pho tượng này thường được rước đến tam quan chùa để làm lễ, sau đó lại rước về
an vị trong điện tổ. Lễ rước kiệu ở di tích giống như lễ rước kiệu ở các đình đền
Việt Nam.
Buổi tối ngày 26 có lễ "Mộc dục" (Lễ tắm tượng): sau khi đọc kinh, các sư
cùng các Phật tử tiến hành nghi lễ tắm tượng. Tất cả các pho tượng đều được tắm
rửa bằng nước sạch, có pha nước ngũ vị thơm lừng, nghi lễ này chỉ diễn ra một lần
trong năm và vào đúng tối 26 tháng giêng.
Ngày 27 phật tử các nơi tiếp tục đến lễ và buổi tối có đọc kinh và kết thúc lễ
hội.
Do thân thế của vị sư tổ nổi tiếng, lại được tổ chức vào đầu xuân, chùa
Muống là ngôi chùa lớn, nên lễ hội ở đây là lễ hội lớn nhất trong vùng. Khách đến
dự lễ hội đủ mọi lứa tuổi, trang phục phù hợp. Đặc biệt khách đến dự lễ được các
phật tử trong làng đón tiếp chu đáo, thân mật. Tục mời trầu khá đặc biệt: trước
cổng chùa là các cụ bà mặc áo dài thâm, nét mặt phúc hậu, tươi vui đón khách và
mời trầu với cử chỉ thân thiện như những người khách đã quen biết từ lâu, đây là cử
chỉ hiếu khách đã từng tồn tại từ bao đời nay của lễ hội này. Khách đến dự lễ không


chỉ là khách trong vùng mà còn có rất đông khách ở các tỉnh thuộc đồng bằng và
trung du Bắc bộ.
Cùng với dòng người đổ về với lễ hội, là hàng hoá muôn sắc màu tràn ngập
khắp mọi nơi, đó là các sản phẩm nông nghiệp, tò he, quần áo dành cho các phật tử,
nón, mũ và các hàng hoá thiết yếu khác.
Phần hội được tổ chức khá sôi nổi, nhiều trò chơi dân gian được tổ chức như
đấu vật, chọi gà, đánh cờ người, bịt mắt bắt dê... từ năm 2009, tại đây đã xuất hiện
những trò chơi mới như: đu quay truyền thống, xiếc người bay, mô tô bay, tàu hoả
đi trên đường ray...
Là một ngôi chùa lớn, lại có nhiều vị cao tăng trụ trì, đồng thời lại thờ Phật

thiết tha.Văn võ song toàn, cống hiến suốt đời và đóng góp to lớn cho sự nghiệp
cứu và dựng nước, đáng là bậc anh hùng của nước nhà. Với những chiến lược quân
sự tài ba, lời lẽ chau chuốt của một nhà ngoại giao chính trị, lời văn mượt mà tha
thiết của một nhà văn hóa, Nguyễn Trãi đáng là một đại văn hào của dân tộc. Tuy
nhiên, cũng giống như bao bậc hiền triết nổi tiếng khác của nhân loại, số mệnh của
phải chịu những oan khiên thảm khốc nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt
Nam.
Nguyễn Trãi (1380-1442), hiệu là Ức Trai, quê gốc ở làng Chi Ngại, sau dời
về Nhị Khê. Thân sinh là Nguyễn Ứng Long. Mẹ là Trần Thị Thái, con quan Tư đồ
Tr Nguyên Đán. Nguyễn Trãi sinh ra trong 1 gia đình mà cả bên nội cũng như bên
ngoại, đều có 2 truyền thống lớn là yêu nước và văn hoá,văn học. Thủa thiếu thời
ông cũng phải chịu những mất mát đau thương. Khi ông lên 5 tuổi thì mẹ qua đời,
10 tuổi thì mất ông ngoại. Năm 20 tuổi ông đỗ thái học sinh và ra làm quan cùng
cha dưới triều nhà lê, làm quan chưa được bao lâu thì đất nước gặp phải cảnh binh
đao loạn lạc. Năm 1407 ông bị giặc minh giam lỏng, sau khi thoát khỏi sự giam
lỏng của giặc minh, tiến vào Lam Sơn theo Lê Lợi tham gia khởi nghĩa. Sau khi đất
nước sạch bóng quân thù, thiên hạ thài bình, ông trở thành một trong những vị Khai
Quốc Công Thần đầu tiên giúp vua dựng nước. Thừa lệnh Lê Lợi, ông viết “đại cáo


bình ngô”, nhưng về sau Lê Thái Tổ mất đi lòng tin với ông, nên ông dành cáo ẩn
về Côn Sơn. Đến năm 1440 Lê Thái Tông mời ông ra giao việc lớn, nhưng không
may oan oán Lệ Chi Viên bỗng đỗ ập xuống gia đình và dòng họ ông, ông bị ghép
tội mưu sát nhà vua, khép tội chu di tam tộc. Hơn 20 năm sau Lê Thánh Tông mới
giải tỏa nỗi oan này cho ông, sau đó cho người đi sưu tầm lại thơ văn cũa ông.
Nguyễn Trãi là 1 bậc anh hùng dân tộc, 1 nhà văn hoá lớn. Ông là tác giả xuất sắc
về nhiều thể loại văn học cả ở lĩnh vực chữ Hán và chữ Nôm. Ông để lại một khối
lượng sáng tác lớn với nhiều tác phẩm có giá trị. Đó là “Đại cáo bình Ngô”, “Quân
trung từ mệnh tập”, “Lam Sơn thực lục”, “Ức Trai thi tập”, “Quốc âm thi tập”,… là
nhà văn chính luận kiệt xuất của văn học trung đại Việt Nam. Tác phẩm Quân trung

lịch sử Việt Nam. Ông góp phần viết nên các trang hào hùng trong lịch sử giữ nước
và dựng nước và là người tiên phong cho nền móng vững chãi của văn học nước
nhà. Nguyễn Trãi luôn nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước, thương dân, gắn bó
thiết tha với cảnh vật thiên nhiên đất nước. Nguyễn Trãi được UNESCO công nhận
là danh nhân văn hóa thế giới vào năm 1980.
c. Giới thiệu về danh sư Chu Văn An.
Chu Văn An (người Thanh Đàm), tính cương nghị, thẳng thắn, sửa mình
trong sạch, bền giữ tiết tháo, không cầu lợi lộc. Ông ở nhà đọc sách, học vấn tinh
thông, nổi tiếng gần xa, học trò đầy cửa, thường có kẻ đỗ đại khoa, vào chính phủ.
Như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát đã làm hành khiển mà vẫn giữ lễ học trò, khi đến
thăm thầy thì lạy hỏi ở dưới giường, được nói chuyện với thầy vài câu rồi đi xa thì
lấy làm mừng lắm. Kẻ nào xấu thì ông nghiêm khắc trách mắng, thậm chí la hét
không cho vào. Ông là người trong sạch, thẳng thắn, nghiêm nghị, lẫm liệt đáng sợ
đến như vậy đấy. Minh Tông mời ông là Quốc Tử giám tư nghiệp, dạy thái tử học.
Dụ Tông ham chơi bời lười chính sự, quyền thần nhiều kẻ làm trái phép nước, Chu
Văn An khuyên can, không nghe, bèn dâng sớ xin chém bảy tên nịnh thần, đều là
những kẻ quyền thế được vua yêu. Người bấy giờ gọi là "Thất trảm sớ". Sớ dâng
lên nhưng không được trả lời, ông liền treo mũ về quê. Ông thích núi Chí Linh, bèn


đến ở đấy. Khi nào có triều hội lớn thì đến kinh sư. Dụ Tông đem chính sự trao cho
ông, ông từ chối không nhận. Hiến Từ thái hoàng thái hậu bảo: "Ông ta là người
không thể nào bắt làm tôi được, ta sai bảo thế nào được ông ta?". Vua sai nội thần
đem quần áo ban cho ông. Ông lạy tạ xong, liền đem cho người khác hết. Thiên hạ
đều cho là bậc cao thượng. Đến khi Dụ Tông băng, quốc thống suýt mất, nghe tin
các quan đến lập vua, ông mừng lắm. Chống gậy đến xin bái yết, xong lại xin trở về
quê, từ chối không nhận chức gì. Khi ông mất Vua sai quân đến tế, ban tặng tên
thụy, ít lâu sau có lệnh cho tòng tự ở Văn Miếu.
6. Ý nghĩa của việc giải quyết tình huống.
Qua tình huống trên, chúng em đã biết thêm về mảnh đất Hải Dương với biết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status