skkn phân loại và hướng dẫn học sinh THCS làm bài tập vật lý - Pdf 33

A. MỞ ĐẦU
I.

Lý do chọn đề tài :
Trong quá trình dạy học vật lý thì bài tập vật lý được hiểu là một vấn đề

được đặt ra đòi hỏi phải giải quyết nhờ những suy luận logic của những phép toán
và thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật, các phương pháp vật lý. Hiểu theo nghĩa
rộng thì mỗi vấn đề xuất hiện do nghiên cứu tài liệu giáo khoa cũng chính là một
bài tập đối với học sinh. Sự tư duy một cách tích cực luôn luôn là việc vận dụng
kiến thức đã học để giải bài tập.
Trong quá trình dạy học môn vật lý, các bài tập vật lý có tầm quan trọng đặc
biệt. Hiện nay để việc thực hiện tốt chương trình sách giáo khoa mới và dạy học
theo phương pháp đổi mới có hiệu quả thì việc hướng dẫn học sinh biết phân loại,
nắm vững phương pháp và làm tốt các bài tập trong chương trình sách giáo khoa đã
góp phần không nhỏ trong việc thực hiện thành công trong công tác dạy học theo
phương pháp đổi mới.
§èi víi häc sinh trung học cơ sở, vấn đề giải và chữa các bài tập gặp không
ít khó khăn vì học sinh không nắm vững lí thuyết và kỹ năng vận dụng kiến thức vật
lí. Vì vậy các em giải một cách mò mẫm, không có định hướng rõ ràng, áp dụng
công thức máy móc và nhiều khi không giải được. Có thể có nhiều nguyên nhân:
— Học sinh chưa có phương pháp khoa học để giải bài tập vật lí.
— Chưa xác định được mục tiêu giải bài tập là tìm ra từ câu hỏi, điều kiện của
bài toán, xem xét các hiện tượng vật lí nêu trong bài tập để từ đó nắm vững bản chất
vật lí, tiếp theo xác định được mỗi liên hệ cái đã cho và cái phải tìm. Xuất phát từ
những lý do trên nên tôi quyết định chọn đề tài: “Phân loại và hướng dẫn học sinh
THCS làm bài tập vật lý’’để làm đề tài nghiên cứu.

1



Phương pháp dạy học có mối liên hệ biện chứng với các nhân tố khác của
quá trình dạy học. Những phương pháp dạy học phải thống nhất biện chứng giữa
việc giảng dạy của giáo viên với việc học tập của học sinh. Đồng thời góp phần có
hiệu quả vào việc thực hiện tốt các khâu của quá trình dạy học. Xác định kế hoạch
giáo dục, giáo dưỡng, phát triển bộ môn một cách nhịp nhàng, cụ thể hoá nhiệm vụ
dạy học trên cơ sở đặc điểm của học sinh, điều chỉnh kế hoạch dạy học cho sát với
diễn biến thực tế, tổ chức và hướng dẫn học sinh học tập ở trên lớp cũng như ở nhà
phù hợp với dự định sư phạm.
Đối với môn vật lý ở trường trung học cơ sở, bài tập vật lý đóng một vai trò
hết sức quan trọng, việc hướng dẫn học sinh làm bài tập vật lý là một hoạt động dạy
học, là một công việc khó khăn, ở đó bộc lộ rõ nhất trình độ của người giáo viên vật
lý trong việc hướng dẫn hoạt động trí tuệ của học sinh, vì thế đòi hỏi người giáo
viên và cả học sinh phải học tập và lao động không ngừng. Bài tập vật lý sẽ giúp
học sinh hiểu sâu hơn những qui luật vật lý, những hiện tượng vật lý. Thông qua các
bài tập ở các dạng khác nhau tạo điều kiện cho học sinh vận dụng linh hoạt những
kiến thức để tự lực giải quyết thành công những tình huống cụ thể khác nhau thì
những kiến thức đó mới trở nên sâu sắc hoàn thiện và trở thành vốn riêng của học
sinh. Trong quá trình giải quyết các vấn đề, tình huống cụ thể do bài tập đề ra học
sinh phải vận dụng các thao tác tư duy như so sánh phân tích, tổng hợp khái quát
hoá....để giải quyết vấn đề, từ đó sẽ giúp giải quyết giúp phát triển tư duy và sáng
tạo, óc tưởng tượng, tính độc lập trong suy nghĩ, suy luận.... Nên bài tập vật lý gây
hứng thú học tập cho học sinh.

3


II.

Cơ sở thực tiển
Phần lớn học sinh của trường THCS Nguyễn Văn Đừng là học sinh thuộc


4


 Về kỹ năng :
Học sinh biết tiến hành các thí nghiệm kiểm tra hay thí nghiệm nghiên cứu
để rút ra kiến thức, vận dụng được các công thức để giải bài tập.Tuy nhiên, trong
quá trình giảng dạy môn vật lý giáo viên luôn sử dụng phương pháp chia nhóm, học
sinh thảo luận và tìm ra kết quả. Giáo viên thường kết luận đúng, sai và không
hướng dẫn gì thêm. Do đó việc giảng dạy vật lý nhất là bài tập sẽ không đạt được
kết quả cao. Vì trong lớp sẽ có nhiều đối tượng: giỏi, khá, trung bình, yếu, kém nên
khả năng tư duy cũng khác nhau. Đối với học sinh yếu, kém hay trung bình, không
thể tư duy kịp và nhanh như học sinh khá, giỏi, các em chưa thể kịp hiểu ra vấn đề.
Nhất là khi thảo luận nhóm, giáo viên lại hạn chế thời gian hoặc thi xem nhóm nào
đưa ra kết quả nhanh nhất, thường các kết quả này là tư duy của các học sinh khá,
giỏi trong nhóm.
Vì thế nếu giáo viên không chú trọng đến việc phân loại và hướng dẫn học
sinh phương pháp giải bài tập vật lý thì học sinh sẽ đoán mò không nắm vững được
kiến thức trong chương.

IV. Các biện pháp giải quyết vấn đề
Có thể có nhiều cách phân loại bài tập vật lí. Người ta có thể phân ra theo
nhiều loại bài tập Cơ- Nhiệt- Điện… Nhưng có rất nhiều bài tập có cả Cơ, nhiệt,
điện,…thì ta gọi là bài tập tổng hợp, bài tập có nội dung lịch sử, nội dung thực tế,
có bài lại giống như một câu hỏi không có số liệu cụ thể. Tuy nhiên ta vẫn căn cứ
vào dấu hiệu của từng loại, ý nghĩa vai trò của từng loại để xếp thành các dạng bài
tập sau.
1. Dạng bài tập định tính hay bài tập câu hỏi:
Đó là những bài tập vật lý mà khi giải học sinh không cần tính toán hay chỉ
làm những phép toán đơn giản có thể nhẩm được.

D. Vì không có lực nào tác dụng lên vật.
Hãy chọn đáp án Đúng.
+ ( Đáp án đúng là C)
Ví dụ 3: Định luật Jun-lenxơ cho biết điện năng biến đổi thành :
A. Cơ năng

B. Năng lượng ánh sáng

C. Hoá năng

D. Nhiệt năng

Hãy chọn đáp án đúng ?

6


Với bài tập này giáo viên nên đưa ngay sau khi học sinh học xong định luật
Jun-lenxơ.
+ (Đáp án D là đúng )
Ví dụ 4: Muốn đo khối lượng riêng của một hòn bi thủy tinh ta dùng những dụng
cụ gi?
A. Chỉ cân dùng một cái cân
B. Chỉ cần dùng một lực kế
C. Chỉ cần dùng một cái bình chia độ
D. Chỉ cần dùng một cái cân và một cái bình chia độ
Hãy chọn đáp án đúng ?
+ (Đáp án D là đúng )
 Dạng bài tập định tính phức tạp :
Đối với các bài tập dạng định tính phức tạp thì việc giải các bài tập này là

dây dẫn là như nhau.

- GV : Ta có thể nói gì về cường độ - HS : Vì nối tiếp nên cường độ dòng
dòng điện qua hai dây dẫn.

điện qua dây đồng và dây nhôm và bằng
nhau.

- GV : Điện trở của hai dây này như thế - HS: Điện trở hai dâynày tỉ lệ thuận với
nào ? Chúng phụ thuộc vào yếu tố nào?

chiều dài tỉ lệ nghịch với tiết diện và
phụ thuộc bản chất dây dẫn và nhiệt độ.

- GV: So sánh chiều dài hai dây, tiết - HS : bằng nhau
diện của hai dây.
- GV: Nhiệt độ hai dây trước khi mắc - HS : bằng nhau
vào mạch ?
- GV : So sánh điện trở xuất của nhôm - HS:

ρnhôm >ρđồng

và đồng.
+ Trên đây là một số câu hỏi gợi ý phân tích giúp các đối tượng học sinh yếu,
trung bình, có thể tìm ra câu trả lời giải nhanh chóng và dễ hiểu sau đó giáo viên có
thể đưa ra câu hỏi mang tính tổng hợp.
GV: Dây nào có điện trở lớn hơn :
HS : Dây nhôm
GV : Dây nào có nhiệt lượng toả ra lớn hơn khi có dòng điện chạy qua ?
HS: Dây nhôm vì cùng cường độ dòng điện, trong cùng một khoảng thời gian nên


-HS: D= m/v

= 0,397kg
V= 320cm3

của sữa bằng công thức nào?

= 0,000320m3

- GV: Đơn vị tính có phù hợp

Hỏi

chưa? Khi tóm tắt cần phải

D=?

làm gi ?

-HS: Đổi đơn vị
m = 397/1000 = 0,397kg
v = 320/1000000 = 0,000320m3

- GV: Hãy áp dụng để tìm D

-HS: D = m /v= 0,397 kg/ 0,000320m3

= 120,6kg/ m3


 RAB=

b,R2=?
-GV: Ta có thể tính điện trở R2 như
thế nào ?

U
I

=

U
R

6
= 12 (Ω)
0,5

- HS: Vận dụng công thức tính điện
trở tương đương của mạch nối tiếp
ta có:
Rtđ=R1+R2 =>R2=Rtđ-R1
R2=12-5=7 Ω

Ví dụ 3: Đặt vật AB cao 12cm vuông góc với trục chính của một thấu kính hội tụ
(A nằm trên trục chính) và cách thấu kính 24cm thì thu được một ảnh thật cao 4cm.
Tính khoảng cách từ ảnh đến thấu kính và tính tiêu cự của thấu kính.
*Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán , sau đó tổng hợp lại rồi giải
- Để hướng dẫn HS phân tích, tìm hiểu bài toán phải cho HS đọc kỷ đề ,ghi tóm tắt
sau đó vẽ hình.

-Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán:
*Muốn tính OA' ta cần xét các yếu tố nào?
( ∆ OAB ~ ∆ OA'B') ⇒ OA' =......
*Muốn tính OF' = f ta phải xét hai tam giác nào đồng dạng với nhau?
( ∆ OIF' ~ ∆ A'B'F')
*OI như thế nào với AB; F'A' = ?
-Hướng dẫn HS giải theo cách tổng hợp lại:
Tìm OA' → F'A' → OI → OF' ;
GIải:
*Khoảng cách từ ảnh đến thấu kính hội tụ là:
∆ OAB ~ ∆ OA'B' suy ra

AB
OA
A' B '.OA 4.24
=
⇒ OA' =
=
= 8(cm)
A' B ' OA'
AB
12

*Tiêu cự của thấu kính:
∆ OIF' ~ ∆ A'B'F' ⇒

OI
OF'
OF'
=

Bài tập thí ngiệm có tác dụng nâng cao chất lượng học tập, gây hứng thú, gắn
học với hành, lý thuyết với thực tiễn, kích thích tính tích cực, tự lập, rèn luyện trí
thông minh sáng tạo.
Để học sinh dễ dàng thực hiện được các loại bài tập thí nghiệm thì thường các
bài toán thí nghiệm vật lí phải xây dựng bằng những vật liệu dễ kiếm, rẻ tiền, dễ
làm. Mức độ chính xác về định lượng cũng vừa phải.
Ví dụ 1: Đưa một đầu thước nhựa lại gần các vụn giấy, các vụn nilông quan sát xem
có hiện tượng gì xảy ra hay không? Sau đó dùng miếng vải khô cọ xát vào thước
nhựa. Đưa thước đã cọ xát lại gần các vụn giấy và nilông, quan sát xem có hiện
tượng gì xảy ra hay không?
-HS: Thước nhựa hút các vụn giấy, nilông.
-GV: Yêu cầu từng học sinh làm thí nghiệm, đây là loại thí nghiệm đơn giản học
sinh có thể thực hiện dể dàng và nhanh chóng đưa ra kết quả.
Ví dụ 2: Để xây dựng công thức tính công suất điện giáo viên có thể tiến hành thí
nghiệm, học sinh quan sát và rút ra công thức.
-GV: Mắc sơ đồ mạch điện như hình vẽ.
-HS: Học sinh quan sát sơ đồ.
-GV: Vônkế đo hiệu điện thế ở đâu?
-GV: Số chỉ của Ampe kế cho ta biết điều gì?

+ Sau đó giáo viên làm thí nghiệm với hai bóng đèn 6V-5W và 6V-3W.

12


Lần 1: Làm với bóng đèn 6V-5W, đóng khoá K đèn sáng, điều chỉnh biến trở để
Vônkế có chỉ số 6V, đọc kết quả của Ampekế.
Lần 2: Làm với bóng đèn 6V-3W tiến hành tương tự đọc số chỉ của Ampekế.
Ta có kết quả trong bảng sau:
Số liệu

lớn hơn điện trở của dây điện rất nhiều. Nói cách khác, mức độ thuận lợi để dòng
điện “chảy” qua cơ thể của chim là kém hơn rất nhiều so với việc “chảy” qua sợi
dây điện làm bằng hợp kim. Do vậy, điện sẽ không đi qua người chim và chim sẽ
không bị giật.
Loại bài kích thích tính tò mò, hiếu kỳ của học sinh.
Ví dụ 2 : Tại sao con người chịu nóng ở 600C trong không khí mà lại bị bỏng trong
nước cũng ở nhiệt độ đó ?
GV: Vì ở nhiệt độ cao trong không khí, cơ thể người đổ mồ hôi và bốc hơi trên da ,
khi đó nhiệt lượng bay hơi lấy từ cơ thể làm nhiệt độ cơ thể giảm nên da không bị
bỏng. Trong nước nóng không thể có sự bay hơi, qua đó không có sự giảm nhiệt độ
của da nên da bị bỏng.

13


5. Bài tập có nội dung thực tế:
Là loại bài tập có liên quan trực tiếp tới đời sống thực tế, kĩ thuật, sản xuất, các
hiện tượng thiên nhiên và đặc biệt là thực tế lao động, sinh hoạt hàng ngày (mà học
sinh thường gặp).
Ví dụ: Khi thầy giáo giảng bài trên lớp, âm thanh do thầy giáo phát ra đã truyền
từ môi trường nào đến tai học sinh.
GV: Môi trường truyền âm là không khí, khi nói chuyện, khi giảng bài, âm thanh đã
được không khí truyền từ thầy giáo đến tai học sinh.
Bài tập này giáo viên cho học sinh thực hiện ngay khi học xong bài môi trường
truyền âm.
6. Bài tập có tính nghịch lý, nguỵ biện, bài tập tính lịch sử:
Các hiện tượng xảy ra trong thiên nhiên, các trường hợp thường gặp trong đời
sống kĩ thuật đều tuân theo quy luật khoa học và giải thích theo tri thức vật lí đã
biết. Tất nhiên có rất nhiều hiện tượng, sự kiện để giải thích chi tiết, cặn kẽ lại
không đơn giản. Thoạt nhìn có thể giải thích sai, lí luận không chặt chẽ, tưởng đúng

của trường.
Kết quả đạt được như sau:
Chất lượng môn vật lý 7 tháng 9 + 10
Số
liệu
Lớp
7a1

Số
bài
kiểm
33

SL
2

%
6,1

SL
7

%
21,2

Trung
bình
SL
%
15 45,4


3

9,1

6

18,1

Giỏi

Khá

Yếu

Kém

SL
8

%
24,2

SL
2

%
6.1

33,4


9,1

Chất lượng môn vật lý 7 Học kỳ I
Số
liệu
Lớp

Tổng
số
học
33

SL
4

%
12,1

SL
18

%
54,5

Trung
bình
SL
%
11 33,4

33

8

24,2

18

54,6

Giỏi

Khá

15

Yếu

Kém

SL
0

%
0

SL
0

%

0

0

0


C. KẾT LUẬN
I. Ý nghĩa của đề tài công tác
Bài tập vật lí giúp các em hiểu, khắc sâu thêm phần lý thuyết và đặc biệt giúp
học sinh có phương pháp giải bài tập.
Biết vận dụng kiến thức vật lí để giải quyết các nhiệm vụ học tập và những
vấn đề thực tế của đời sống.
Bài tập vật lí giúp các em hiểu sâu hơn những quy luật vật lí, những hiện
tượng vật lí, tạo điều kiện cho học sinh vận dụng linh hoạt tự giải quyết những tình
huống cụ thể khác nhau để từ đó hoàn thiện về mặt nhận thức và tích luỹ thành vốn
riêng của mình.

16


Muốn làm được được bài tập vật lí, phải biết vận dụng các thao tác tư duy,
biết phân loại các dạng bài tập khác nhau so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát
hoá... Để xác định bản chất vật lí trên cơ sở đó chọn ra các công thức thích hợp cho
từng bài tập cụ thể. Vì thế bài tập vật lí còn là phương tiện rất tốt để phát triển tư
duy, óc tưởng tượng, sáng tạo, tính tự lực trong suy luận.
Bài tập vật lí là hình thức củng cố, ôn tập, mở rộng hoặc đi sâu vào các
trường hợp riêng lẻ của định luật.
Khi làm bài tập, học sinh bắt buộc phải nhớ lại kiến thức đã học và vận
dụng, đào sâu kiến thức, do vậy, đứng về mặt điều khiển hoạt động nhận thức thì

IV.Một số kiến nghị:
Việc dạy học môn vật lý trong trường phổ thông là rất quan trọng, giúp các
em biết cách tư duy logic, biết phân tích tổng hợp các hiện tượng trong cuộc sống.
Vì vậy giáo viên giảng dạy môn vật lý cần không ngừng học hỏi, sáng tạo để tìm ra
những phương pháp giảng dạy phù hợp nhất với từng đối tượng học sinh. Để giúp
HS hứng thú và đạt kết quả tốt trong việc giải bài tập vật lý, điều cơ bản nhất mỗi
tiết dạy giáo viên phải tích cực, nhiệt tình, truyền đạt chính xác, ngắn gọn nhưng
đầy đủ nội dung, khoa học và lô gích nhằm động não cho HS phát triển tư duy, độ
bền kiến thức tốt.
Những tiết lý thuyết, thực hành cũng như tiết bài tập GV phải chuẩn bị chu đáo
bài dạy, hướng dẫn HS chuẩn bị bài theo ý định của GV, có như vậy giáo viên mới
cảm thấy thoải mái trong giờ giải và sửa các bài tập vật lý từ đó khắc sâu được kiến
thức và phương pháp giải bài tập của HS.
Thường xuyên nhắc nhở các em yếu, động viên, biểu dương các em khá giỏi,
cập nhật vào sổ theo dõi và kết hợp với GV chủ nhiệm để có biện pháp giúp đỡ kịp
thời, kiểm tra thường xuyên vở bài tập vào đầu giờ trong mỗi tiết học, làm như vậy
để cho các em có một thái độ đúng đắn, một nề nếp tốt trong học tập.
Đối với một số HS chậm tiến bộ thì phải thông qua GVCN kết hợp với gia
đình để giúp các em học tốt hơn. Từ đó gây sự đam mê, hứng thú học hỏi bộ môn
vật lý.
Qua năm tháng áp dụng việc phân loại và hướng dẫn học sinh giải bài tập ở
trên tôi nhận thấy HS say mê, hứng thú và đã đạt hiệu quả cao trong giải bài tập
nhất là bài tập vật lý. Trên đây là một số giải pháp và bài học kinh nghiệm nhỏ của

18


bản thân, dù sao nó cũng góp một phần nhỏ trong việc nâng cao chất lượng dạy và
học ở trường chúng tôi.


C.KẾT LUẬN......................................................................................................................16
I.Ý nghĩa của đề tài công tác............................................................................................16
II.Khả năng áp dụng.........................................................................................................17
III.Bài học kinh nghiệm...................................................................................................17
MỤC LỤC............................................................................................................................19
*TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................................20

*TÀI

LIỆU THAM KHẢO

- Sách giáo khoa vật lý 9 -NXB_GD Năm 2005
- Sách bài tập vật lý 9 - NXBGD năm 2005
- Sách giáo viên vật lý 9 - NXBGD năm 2005
- Sách giáo khoa vật lý 8 -NXB_GD Năm 2005
- Sách bài tập vật lý 8 - NXBGD năm 2005
- Sách giáo viên vật lý 8 - NXBGD năm 2005
- Sách giáo khoa vật lý 7 -NXB_GD Năm 2005
- Sách bài tập vật lý 7 - NXBGD năm 2005
- Sách giáo viên vật lý 7 - NXBGD năm 2005
- Sách giáo khoa vật lý6 -NXB_GD Năm 2005
- Sách bài tập vật lý 6 - NXBGD năm 2005
- Sách giáo viên vật lý 6 - NXBGD năm 2005
-Sách kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kỳ vật lý 6,7,8,9- NXBGD

20


- Phương pháp giảng dạy vật lý ở trường phổ thông, tập 1 - NXBGD-1979
- Phương pháp dạng bài tập vật lý – NXBGD


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status