Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
––––––––––––––––––
HOÀNG ANH
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC
PHÒNG CHỐNG DỊCH TIÊU CHẢY CẤP NGUY HIỂM
TỈNH THÁI NGUYÊN NĂM 2008
L
L
U
U
Ậ
Ậ
N
N
Ọ
Ọ
C
C
THÁI NGUYÊN - 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
––––––––––––––––––––– HOÀNG ANH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC
PHÒNG CHỐNG DỊCH TIÊU CHẢY CẤP NGUY HIỂM
Ạ
C
CS
S
Ĩ
ĨY
YH
H
Ọ
Ọ
C
C HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐÀM KHẢI HOÀN
V
V
Ă
Ă
N
NT
T
H
H
Ạ
Ạ
C
CS
S
Ỹ
ỸY
Y
TỈNH THÁI NGUYÊN NĂM 2008
Chuyªn ngµnh: Y häc dù phßng
M· sè: 60.72.73
L
L
U
U
Ậ
Ậ
N
NV
V
Ă
Ă
N
NT
T
H
H
Ạ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
THÁI NGUYÊN - NĂM 2009
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Đàm Khải Hoàn,
Trưởng bộ môn Y học Cộng đồng của trường Đại học Y Dược Thái Nguyên,
đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo Trường Đại
học Y Dược Thái Nguyên, Bộ môn Y học cộng đồng Trường Đại học Y
Dược - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong
quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các cán bộ y tế của Sở Y tế, Trung tâm Y
tế dự phòng tỉnh Thái Nguyên, các Trung tâm y tế 9 huyện/thành/thị và Trạm
Y tế thị trấn Ba Hàng - Phổ Yên, Trạm Y tế phường Quang Trung - TPTN đã
giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài này.
Em vô cùng biết ơn người thân trong gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã
động viên khích lệ, ủng hộ nhiệt thành, giúp đỡ em trong quá trình học tập và
nghiên cứu. Em xin ghi nhận công lao đó.
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 10 năm 2009
Tác giả
Hoàng Anh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1.3 Điều trị bệnh tả 11
1.4 Quy định về Giám sát bệnh tả và thực tế triển khai 12
1.5 Quy định về Quy trình Phòng chống dịch tả 14
1.6 Một số yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả của công tác phòng
chống dịch tả trong khu vực và tại địa phương
17
Chƣơng 2: Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Địa bàn và thời gian nghiên cứu 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu 25
3.1 Thực trạng công tác phòng chống dịch tiêu chảy cấp nguy
hiểm tỉnh Thái Nguyên năm 2008
25
3.2 Những bất cập trong công tác phòng chống dịch tiêu chảy cấp
nguy hiểm tại tỉnh Thái Nguyên.
37
Chƣơng 4: Bàn luận 46
Kết luận 60
Khuyến nghị 61
Danh mục tài liệu tham khảo 62
Phụ lục Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
42
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6 DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 1.1: Số quốc gia/vùng lãnh thổ và số ca bệnh tả được báo
cáo hàng năm (từ 1995 - 2005) trên thế giới
6
Biểu đồ 1.2: Số ca bệnh tả được báo cáo hàng năm (1996-2007)
tại Việt Nam
7
Biểu đồ 3.1: Thực trạng các Đội cơ động Phòng chống dịch các tuyến
29
Biểu đồ 3.2: Kinh phí phòng chống dịch năm 2008 phân theo từng
hoạt động
33
Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ cán bộ khoa Truyền nhiễm được tập huấn về
phòng chống và điều trị bệnh tả
38
Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ cán bộ có chuyên môn y học dự phòng/tổng số
cán bộ thực hiện giám sát tại các tuyến 38
DANH MỤC CÁC HÌNH
tại tỉnh Thái Nguyên năm 2008.
2. Xác định những bất cập trong công tác phòng chống dịch tiêu chảy
cấp nguy hiểm trên địa bàn tỉnh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Tác dụng phụ của thuốc, phản ứng thuốc: Thuốc kháng sinh, thuốc
điều trị huyết áp, và Antacids chứa Magiê.
Các bệnh về ruột, như bệnh Crohn hoặc bệnh Coeliac.
Rối loạn chức năng co bóp ruột, như hội chứng tăng nhu động ruột.
Sau khi phẫu thuật dạ dày hoặc cắt túi mật. Gây ra sự thay đổi về thời
gian thức ăn di chuyển trong hệ tiêu hóa hoặc lượng dịch mật trong ruột.
1.1.3. Các thể lâm sàng của tiêu chảy
Tiêu chảy có thể phân biệt thành 4 thể lâm sàng:
Tiêu chảy cấp (bao gồm cả bệnh tả) thường kéo dài từ vài giờ đến
dưới 14 ngày. Mối nguy hiểm chính là tình trạng mất nước rất nhanh, trụy
mạch dẫn đến tử vong nếu không được điều trị kịp thời.
Tiêu chảy phân có máu (liên quan đến hội chứng lỵ): mối nguy hiểm
chính là tổn thương ruột, nhiễm trùng và suy dinh dưỡng.
Tiêu chảy mãn tính: kéo dài từ 14 ngày trở lên. Mối nguy hiểm chính
là suy dinh dưỡng, viêm ruột nặng, mất nước cũng có thể xảy ra.
Tiêu chảy kèm theo suy dinh dưỡng nặng: thường xảy ra ở trẻ em, với
biểu hiện ở hai thể suy dinh dưỡng Marasmus và Kwashiorkor.
1.1.4. Điều trị tiêu chảy
Điều trị tiêu chảy cơ bản dựa vào phòng chống mất nước của cơ thể. Sử
dụng dung dịch ORS nhằm bù nước và điện giải đóng vai trò vô cùng quan
trọng. Theo khuyến cáo mới của Tổ chức Y tế thế giới, các trường hợp tiêu
chảy nên được dùng ORS áp lực thẩm thấu thấp, đối với trẻ em dưới 5 tuối
cần được uống bổ sung kẽm để điều trị và phòng chống tiêu chảy.
1.2.1. Tình hình dịch tả trên thế giới
Trong lịch sử nhân loại đã từng xuất hiện nhiều vụ đại dịch tả [18], [70]:
- Vụ đại dịch lần đầu tiên ghi nhận vào năm 1817 tại khu vực châu thổ
Sông Hằng, sau đó lan tới nhiều nước thuộc châu Á và châu Phi.
- Vụ đại dịch 2 tại Bắc Mỹ năm 1832.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
- Vụ đại dịch 3: tại nước Anh. John Snow có phát hiện quan trọng về
dịch tễ học: bệnh tả lan truyền theo đường nước sinh hoạt bị ô nhiễm.
- Vụ đại dịch 4: xảy ra tại vùng New Oleans và Ohio (Mỹ)
- Vụ đại dịch 5: Dịch tả lan tới Trung cận Đông, sau đó lan tới Mỹ, gây
tử vong cao tại các nước nam Mỹ. Robert Koch đã phân lập được vi khuẩn tả
từ phân của bệnh nhân mắc bệnh tả. Và 1 năm sau đó, Ferran là người đầu
tiên đã gây miễn dịch dự phòng bệnh tả bằng vắc xin.
- Vụ đại dịch 6: gây các vụ dịch lớn ở Trung cận Đông và bán đảo Ban
căng, dịch lưu hành chủ yếu ở Đông Nam Á và Châu Á.
- Vụ đại dịch 7: Bắt đầu từ năm 1961, hoành hành dữ dội tại Châu Âu,
Châu Á và Châu Phi với nhiều vụ dịch lớn, có thể dẫn đến đại dịch lần thứ 8.
Biểu đồ 1.1: Số quốc gia/vùng lãnh thổ và số ca bệnh tả được báo cáo hàng
năm (từ 1995 - 2005) trên thế giới (Nguồn: Tổ chức Y tế Thế giới) [72]
Trong những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 dịch tả ngày càng trở
nên nghiêm trọng. Bệnh tả xảy ra ở tất cả các châu lục, tập trung chủ yếu ở
các nước đang phát triển, tỷ lệ tử vong rất cao ở các nước nghèo, khu tập
trung đông dân cư, vệ sinh thấp kém và thiếu nước sinh hoạt, vùng bị lụt lội...
7 13
219
176
16
321
343
67
0 0
1991
0
500
1000
1500
2000
2500
1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
Đến ngày 9/11/2007, Bộ trưởng Bộ Y tế thông báo đã có 1.378 ca
TCCNH, trong đó 159 trường hợp là bệnh nhân mắc tả [43], [61].
Theo tác giả Nguyễn Trần Hiển: Đây là đợt dịch tả lớn nhất từ trước
đến nay. Bởi cùng một lúc, dịch bùng lên ở nhiều nơi khác nhau, diễn tiến
nhanh và bệnh cảnh điển hình. Trong tuần đầu tiên có 33 ca bệnh thì ở 33 nơi
khác nhau, không có liên hệ về nguồn nước, không tiếp xúc với nhau.
Chỉ tính từ ngày 23/10/2007 đến tháng 5/2008, tại Việt Nam đã xảy ra 3
đợt dịch TCCNH có nguyên nhân do tả, tập trung chủ yếu ở miền Bắc:
Hình 1.1: Bản đồ các đợt dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm tại Việt Nam
(Nguồn: Cục Y tế dự phòng và Môi trường Việt Nam) [36]
Bảng 1.1: Tình hình dịch Tả ở Việt Nam từ tháng 10/2007 đến T5/2008
Tình hình dịch Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3 Tổng
Ngày xuất hiện 23/10/2007 24/12/2007 5/3/2008
Tổng số mắc 1.907 58 3.480 5.445
Số dương tính (+) với tả 295 32 581 908
Số tỉnh/thành có tả (+) 14 1 18
Số tử vong 0 0 0 0
Ngày kết thúc 06/12/2007 5/2/2008 22/5/2008
(Nguồn số liệu: Cục Y tế Dự phòng và Môi trường Việt Nam) [20]
- Những đáp ứng với tình hình dịch:
Chính phủ và Bộ Y tế đã có những chỉ đạo, hướng dẫn trong công tác
phòng chống, điều trị và xử trí ca bệnh, không để dịch bệnh lây lan rộng ra
cộng đồng, hạn chế những tác động, ảnh hưởng xấu của dịch đối với sức
khoẻ, đời sống của người dân cũng như sự phát triển kinh tế, xã hội.
- Vấn đề được bàn luận nhiều là có nên hay không nên công khai thực
trạng dịch tả trên các phương tiện thông tin đại chúng, có ý kiến cho rằng đây
chính là sự phản ánh thái độ của người lãnh đạo, quản lý đối với dịch bệnh.
Trong khi có ý kiến là cần công bố một cách rõ ràng, triệt để về tình trạng
dịch tả để nâng cao tinh thần cảnh giác của người dân trong cộng đồng, tránh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
tình trạng lơ mơ, không đánh giá đúng mức độ nguy hiểm của dịch sẽ dẫn đến
tâm lý chủ quan và những hành vi không an toàn làm cho dịch bệnh có điều
kiện tồn tại và ngày càng lan rộng trong cộng đồng [30], [60]. Nhưng cũng có
ý kiến cho rằng cần hết sức thận trọng trong việc thông tin về dịch vì có thể
gây tâm lý hoảng loạn, lo lắng quá mức cho người dân, đồng thời ảnh hưởng
xấu đến các lĩnh vực nhạy cảm khác như du lịch, xuất nhập khẩu, đối ngoại...
1.2.3. Tình hình dịch tả tại tỉnh Thái Nguyên
- Ca bệnh xác định: Phân lập được phẩy khuẩn tả Vibrio cholerae nhóm
huyết thanh O1 hoặc O139 từ mẫu phân của bệnh nhân.
1.4.2.2. Thực hiện giám sát và báo cáo bệnh tả
- Theo đúng quy định về báo cáo dịch bệnh của Bộ Y tế.
- Ghi nhận ca bệnh tả và được đưa vào thống kê ca bệnh.
- Các biện pháp phòng chống dịch đã triển khai bước đầu.
- Báo cáo cho TTYT và báo cáo vượt cấp lên TTYT Dự phòng tỉnh. Cao
hơn: báo cáo ngay cho Sở y tế và UBND tỉnh, đồng thời báo cáo vượt tuyến
lên Viện VSDTTƯ/ Pasteur khu vực và Cục Y tế dự phòng - Bộ Y tế.
- Tổ chức lấy bệnh phẩm, mẫu vật xét nghiệm và xử lý ổ dịch.
1.4.3. Giám sát người lành mang trùng
Trong một vụ dịch tả, tất cả những người tiếp xúc gần gũi với bệnh
nhân tả đều cần được theo dõi sức khỏe liên tục trong vòng 5 ngày kể từ lần
tiếp xúc cuối cùng, để kịp thời phát hiện ca bệnh mới. Với những người tiếp
xúc ở đầu vụ dịch cần được lấy phân xét nghiệm tìm vi khuẩn tả. Những
người tiếp xúc gần và người lành mang vi khuẩn tả (phát hiện qua xét nghiệm
phân) phải được điều trị dự phòng bằng kháng sinh.
1.4.4. Giám sát tác nhân gây bệnh
1.4.4.1. Xét nghiệm tìm vi khuẩn tả
Được tiến hành càng sớm càng tốt, ngay sau khi có các triệu chứng khởi
phát và trước khi bệnh nhân dùng kháng sinh.
- Bệnh phẩm thu thập để xét nghiệm là phân, chất nôn, thực phẩm, nước.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
1.5.2. Báo cáo khẩn cấp
Khi có ít nhất 1 ca bệnh tả (kể cả ca xác định và ca nghi ngờ), dù ở khu
vực dịch xâm nhập hay bệnh lưu hành, y tế cơ sở nơi phát hiện phải báo cáo
ngay theo chế độ báo cáo khẩn cấp của Bộ Y tế.
+ Người lớn: Ciprofloxacine 500mg x 2 viên, uống một lần duy nhất.
+ Phụ nữ có thai: Azithromycine 500mg x 2 viên, uống một lần duy nhất
+ Trẻ em: Azithromycine 500mg x 1 viên, uống một lần duy nhất [9], [10]
1.5.4.3. Xử lý nguồn nước ăn, nước sinh hoạt, đảm bảo vệ sinh ăn uống
- Thực hiện biện pháp khẩn cấp để đảm bảo sử dụng nguồn nước sạch.
- Ở các khu vực thành phố cần đảm bảo nồng độ clo dư trong nước máy
đúng tiêu chuẩn quy định. Ở các vùng nông thôn cần kiểm soát các nguồn
nước giếng ăn, nước sông, ngòi, ao, hồ dùng để ăn và rửa thực phẩm.
1.5.4.4. Xử lý vệ sinh môi trường
- Tuyên truyền cho nhân dân về vệ sinh ăn uống, tự phòng bệnh bằng
cách vệ sinh cá nhân, rửa tay sạch sẽ trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh.
- Hạn chế hội họp, hạn chế tối đa việc tập trung ăn uống đông người.
- Tổng vệ sinh, thu gom rác, diệt ruồi. Nghiêm cấm sử dụng phân tươi.
- Kiểm tra chặt chẽ các cơ sở chế biến, kinh doanh thực phẩm, nhà máy
nước để bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh công tác phòng chống dịch tả.
1.5.4.5. Xác định ổ dịch tả chấm dứt hoạt động
Sau khi thực hiện đầy đủ các biện pháp PC dịch, ta có thể dựa vào các
tiêu chuẩn sau để xác định và thông báo ổ dịch đã chấm dứt hoạt động:
- Không có bệnh nhân mắc mới trong vòng 15 ngày kể từ khi bệnh
nhân cuối cùng ra viện (bệnh nhân ra viện xác định không còn vi khuẩn tả).
- Không tìm thấy vi khuẩn tả gây bệnh ở người tiếp xúc, ở nguồn nước
ăn uống, sinh hoạt và thực phẩm.
- Đã xử lý tiệt trùng ổ dịch, vệ sinh môi trường, điều trị dự phòng và
điều trị đặc hiệu với những người trong ổ dịch.
1.5.5. Phòng bệnh
1.5.5.1. Phòng bệnh chung
- Đẩy mạnh phong trào vệ sinh phòng bệnh trong cộng đồng. Tập trung
vào 3 biện pháp chính là ăn chín, uống sạch và vệ sinh bàn tay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
25
của dịch bệnh lại rất nhanh chóng, không chờ đợi chúng ta triển khai các hoạt
động trên cho đến lúc có hiệu quả, nhất là việc thay đổi được hành vi, thói
quen sinh hoạt và tập quán của người dân, cải thiện hệ thống nhà vệ sinh,
cung cấp nước sạch... càng đòi hỏi một quãng thời gian dài. Trên thực tế, việc
triển khai thực hiện trong từng lĩnh vực còn nhiều khó khăn, bất cập:
* Đối với công tác tuyên truyền giáo dục cộng đồng: vấn đề tên bệnh cần
được gọi như thế nào (bệnh Tiêu chảy cấp nguy hiểm hay bệnh Tả) là phù
hợp, là có hiệu quả đối với cộng đồng cũng còn nhiều ý kiến tranh luận, hay
việc giáo dục cho cộng đồng nội dung gì cũng là rất quan trọng “Chúng ta
đâu cần cấm dân sử dụng rau sống mà nên giúp dân có nhận thức và hiểu thế
nào để có được rau an toàn...” (Nguyễn Tấn Dũng). Tuyên truyền giáo dục
không chỉ cho người dân mà trước hết cần phải tuyên truyền giáo dục và làm
thay đổi thái độ của đội ngũ cán bộ chính quyền các cấp đối với dịch bệnh, kể
cả không ít cán bộ làm công tác PC dịch bệnh cũng còn tình trạng chủ quan
đối với bệnh tả. Nếu đội ngũ cán bộ có thái độ đúng đối với bệnh dịch sẽ giúp
cho địa phương có được những đáp ứng phù hợp và hiệu quả hơn.
* Công tác giám sát bệnh dịch tả (cũng như các bệnh dịch nguy hiểm
khác) đòi hỏi một hệ thống tổ chức hoàn chỉnh, đội ngũ cán bộ có trình độ và
năng lực phù hợp đều khắp ở các tuyến. Đồng thời cần có các phương tiện hỗ
trợ tích cực cho việc giám sát và báo cáo, thông tin kịp thời, hiệu quả theo yêu
cầu như: Các biểu mẫu giám sát, phương tiện thông tin liên lạc, trang phục
bảo hộ, trang thiết bị, dụng cụ lấy mẫu, xét nghiệm... và cao hơn nữa là sự
phối hợp hiệu quả giữa các đơn vị, ban ngành, đoàn thể xã hội và chính quyền
các cấp. Trong khi đó, theo những thông tin sơ bộ đã có, Thái Nguyên cũng
giống như nhiều tỉnh thành khác trong cả nước, còn gặp rất nhiều khó khăn
trong công tác giám sát dịch bệnh do thiếu trang thiết bị, thiếu kinh phí, thậm
chí cả trong vấn đề nhân sự thực hiện giám sát, phòng chống dịch bệnh.
Cán bộ tổ chức, thực hiện PC dịch: 07 cuộc (1 tuyến tỉnh, 2
tuyến huyện, 2 tuyến xã và 2 y tế thôn bản).
Cán bộ giám sát chương trình: 01 cuộc
Cán bộ chính quyền cơ sở: 02 cuộc
Người dân tại cộng đồng: 04 cuộc
Cách chọn mẫu: chọn chủ đích 2 huyện/thành có dịch là thành phố Thái
Nguyên và huyện Phổ Yên, mỗi huyện chọn 1 cán bộ TTYT huyện, 1 cán bộ
trạm y tế xã, 1 YTTB, 1 lãnh đạo chính quyền cơ sở và 2 người dân.
- Định lượng: Các số liệu năm 2008 về bệnh TCCNH và hiện trạng các
trang thiết bị phục vụ công tác PC dịch hiện có của hệ thống y tế dự phòng.
2.3.3. Các chỉ số/chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.3.1. Nhóm chỉ số về nguồn lực
- Nhân lực, tổ chức mạng lưới phòng chống dịch và hệ thống Y tế dự
phòng các tuyến.
+ Số lượng các Ban chỉ đạo phòng chống dịch đã được thành lập ở cấp
tỉnh và huyện/thành (Có quyết định thành lập BCĐ, có số lượng thành viên và
thành phần theo đúng quy định của Bộ Y tế).
+ Số lượng các BCĐ có hoạt động thường xuyên (Có tổ chức họp BCĐ,
ra các văn bản chỉ đạo triển khai công tác phòng chống dịch trong năm).
+ Số lượng cán bộ làm công tác giám sát và PC dịch tại tuyến tỉnh và
mỗi huyện (Nhân lực về giám sát và PC dịch là những cán bộ của Trung tâm
YTDP tỉnh, TTYT huyện/thành thường xuyên thực hiện nhiệm vụ điều tra, thu
thập, phân tích, xử lý số liệu, viết báo cáo và PC dịch tại địa phương).
+ Số lượng các Đội phòng chống dịch cơ động cấp tỉnh và cấp
huyện/thành đã được thành lập (có quyết định, có số lượng thành viên, thành
phần đúng theo quy định, hướng dẫn của trung ương) và số lượng cán bộ
được huấn luyện về công tác PC dịch (được tham gia và hoàn thành khoá tập
huấn, thực hành, diễn tập về công tác PC dịch).
- Hướng dẫn phỏng vấn sâu (thiết kế phù hợp cho từng nhóm đối tượng).
- Phiếu thu thập thông tin nghiên cứu trường hợp.