Một số khía cạnh kinh tế trong việc xây dựng và
hoàn thiện khung pháp lý đối với thị trờng chứng
khoán Việt Nam
Thị trờng chứng khoán là nơi phát hành (thị trờng sơ cấp) cà giao dịch
(thị trờng thứ cấp) các loại chứng khoán nh cổ phiếu, trái phiếu, phát sinh
(Derivative asset nh quyền chọn mua, quyền chọn bán). Thị trừơng chứng
khoán có 3 loại chủ thể cơ bản.
Thứ nhất là các chủ thể phát hành chứng khoán nh các doanh nghiệp,
chính quyền trung ơng và địa phơng, của nớc sở tại, kchính phủ các quốc gia
khác v.v.. các chủ thể phát hành phải tuân thủ theo những quy định rất chặt
chẽ nhằm đảm bào sự an toàn của thị trờng và quyền lợi của các nhà đầu t.
Thứ hai là các chủ thể môi giới và kinh doanh chứng khoán bao gồm các
công ty chứng khoán, ngân hàng v.v.. Các chủ thể môi giới đóng vai trò quan
trọng trong việc lu thông chứng khoán. Cũng nh các chủ thể phát hành họ phải
tuân theo những quy định nghiêm khắc của nhà nớc và các cơ quan quản lý thị
trờng chứng khoán.
Thứ ba là các nhà đầu t bao gồm các định chế đầu t nh (
) quỹ
đầu t và các nhà đaàu t độc lập. Đây là lực lợng đông đảo và cơ bản nhất của
thị trờng chứng khoán. Họ chính là động lực lớn nhất thúc đẩy sự phát triển
của thị trờng chứng khoản. Đồng thời họ cũng là đối tợng cần đợc bảo vệ nhất
trên thị trờng. Nếu quyền lợi của các nhà đầu t không đợc đảm bảo, họ sẽ rời
khỏi thị trờng rất nhanh chóng.
Một chủ thể đặc biệt và cũng rất quan trọng là các cơ quan quản lý nhà
nớc về chứng khoán (
) và các cơ quan quản lý sở giao dịch chứng
khoán ( ). Các cơ quan quản lý nhà nớc chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc
xây dựng hệ thống pháp luật cho thdị trờng chứng khoán và các hoạt động
khác nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trờng. Các cơ quan quản lý sở giao
dịch chứng khoán có chức năng tổ chức các hoạt động của sở giao dịch từ phát
hành cho tơí mua bán, thanh toán, lu ký v.v.. Các sở giao dịch có vai trò quyết
Thị tr
ờng thứ
cấp
Các nhà đầu t
+Quỹ đầu t
+Cá nhân
Sở giao dịch chứng khoán
Môi trờng pháp chế
Với một cơ chế hoạt động nh vậy, thị trờng chứng khoán có các tác dụng chủ
yếu sau đây :
Thứ nhất là phơng thức huy động vốn lớn nhất, nhanh nhất.
Thứ hai, bảo đảm nhu cầu sử dụng vốn một cách linh hoạt cho mọi đối tợng.
Thứ ba, thúc đẩy tiết kiệm và đầu t của xã hội
Thứ t, cung cấp những phơng tiện và hình thức giảm bớt rủi ro trong kinh
doanh
Thứ năm, tạo ra một thị trờng quản lý và sở hữu doanh nghiệp, gây sức
ép đối với các nhà quản lý doanh nghiệp buộc họ phải hoạt động có hiệu quả
nhất.
Hệ thống pháp luật có vai trò quyết định để đảm bảo cho thị trờng chứng
khoán có thể thực hiện ót nhất các chức năng của mình. Đối với thị trờng
chứng khoán v.v.. do mới đi vào hoạt động, nên khung pháp lý cha thật hoàn
chỉnh. Mặc dù đã có gần 30 văn bản pháp quy điều chỉnh các hoạt động có
liên quan đến chứng khoán và thị trờng chứng khoán, nhng chúng ta vẫn cha
có luật chứng khoán. Theo chúng tôi, trong thời gian tới, mục tiêu chủ yếu là
Hình phạt là một khái niệm hết sức quen thuộc mà khi nói đến hình
luật, đến tội phạm thì không thể không nhắc đến. Nói đến hình phạt là nói đến
hậu quả pháp lí mà ngời phạm tội phải gánh chịu khi thực hiện một hành vi bị
coi là tội phạm. So với Bộ luật hình sự 1985 thì chế định hình phạt trong Bộ
luật hình sự 1999 đợc sửa đổi, bổ xung với rất nhiều quy định mới nhng nổi
bật lên là một số điểm sau :
-Lần đầu tiên trong Bộ luật hình sự 1999 các nhà làm luật Việt Nam đã
dành một điều quy định khái niệm hình phạt, đó là : Hình phạt là biện pháp
cỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nớc nhằm tớc bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi
ích hợp pháp của ngời phạm tội. Việc đa ra một định nghĩa rõ ràng về hình
phạt cho thấy tính nguy hiểm của tội phạm đợc đẩy lên một bớc. Hình phạt là
sự trừng phạt nặng nề nhất, nghiêm khắc nhất mà chỉ ngời phạm tội mới phải
gánh chịu. Điều đó cũng khẳng định rõ vị trí hết sức quan trọng của luật hình
sự trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
-Bộ luật hình sự 1999 đã bổ xung thêm một hình phạt mới đó là hình
phạt trục xuất, với tính chất là hình phạt chính hạc hình phạt bổ xung (khi
không đợc áp dụng là hình phạt chính). Hình phạt này chỉ đợc áp dụng đối với
ngời bị kết án là ngời nớc ngoài (quy định cụ thể tại Điều 32).
Với xu thế hội nhập, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế nh hiện nay thì
việc bôe xung thêm hình phạt trục xuất là hết sức cần thiết. Khi nhà nớc ta
có sự chuyển đổi từ cơ chế tự cấp tự túc sang nền kinh tế thị trờng, cho phép
mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết, hợp tác đối ngoại theo xu thế hội
nhập toàn cầu thì việc ngời nớc ngoài đến làm ăn, sinh sống, định c ở Việt
Nam diễn ra hết sức phổ biến. Kéo theo đó sẽ nẩy sinh vấn đề ngời nớc ngoài
phạm tội trên lãnh thổ việt nam là không thể tránh khỏi. Mặt khác tội phạm là
ngời nớc ngoài thì tinh nguy hiểm đe doạ đến an ninh, chính trị sẽ cao hơn và
khó kiểm soát hơn. Vì lẽ đó, việc Bộ luật hình sự 1999 bổ xung thêm hình
phạt trục xuất là hoàn toàn phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội của nớc