ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------
NGUYỄN NGỌC HẢI
ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Hà Nội, 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------
NGUYỄN NGỌC HẢI
ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số: 602256
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN KIM ĐỈNH
Hà Nội, 2012
3.1.2. Hạn chế ............................................................................................... 101
3.2. Một số kinh nghiệm ........................................................................................... 105
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 119
PHỤ LỤC ..................................................................................................................... 129
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Số lượng học sinh phổ thông toàn tỉnh (1996 – 2000).
Bảng 1.2: Kết quả thi học sinh giỏi quốc gia, quốc tế, khu vực các bộ môn văn
hóa khối trung học phổ thông (1995 – 2000).
Bảng 2.1: Số lượng học sinh phổ thông của tỉnh (2000 - 2006).
Bảng 2.2: Kết quả xếp loại hạnh kiểm của học sinh tiểu học năm học 2005 2006.
Bảng 2.3: Tỷ lệ giáo viên phổ thông đạt chuẩn (2003 - 2006)
Bảng 2.4: Kết quả xây dựng cơ sở vật chất giáo dục phổ thông (2000 – 2005)
Bảng 2.5: Kết quả xếp loại học lực khối trung học (2006 - 2010)
Bảng 2.6: Trình độ đào tạo của giáo viên phổ thông (2007 – 2008)
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử Việt Nam từ xa xưa đã chứng minh rằng: dân tộc Việt Nam là
một dân tộc hiếu học, thông minh, nhạy cảm với cái mới bất kể từ đâu đến và
biến nó thành của mình, phù hợp với mình. Nhân tố này đã ảnh hưởng không
nhỏ đến tiến trình phát triển của lịch sử đất nước nói chung và lịch sử giáo
dục Việt Nam nói riêng.
Từ sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, sự nghiệp
giáo dục và đào tạo đã được Đảng và Chính phủ đặc biệt quan tâm. Trong
phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày
03/9/1945, bàn về những nhiệm vụ cấp bách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra
Tám năm 1945 đã trải qua chặng đường gần 70 năm dưới sự lãnh đạo của
Đảng bộ tỉnh, vượt lên rất nhiều khó khăn, thử thách và đạt được nhiều thành
tích. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khóa IX, tỉnh Nam Hà được chia
tách thành 2 tỉnh Nam Định và Hà Nam vào giữa năm học 1996 – 1997. Vì
vậy, ngành Giáo dục và Đào tạo Nam Hà cũng chia tách thành hai ngành giáo
dục – đào tạo Nam Định và Hà Nam, bắt đầu làm việc theo đơn vị hành chính
mới từ ngày 01/01/1997. Phát huy truyền thống “Đất học”, dưới sự lãnh đạo
của Đảng bộ tỉnh Nam Định, giáo dục phổ thông của tỉnh đã đạt được những
thành tựu to lớn, rất đáng khích lệ, có ý nghĩa vô cùng to lớn với sự phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh nói riêng và sự phát triển của đất nước nói chung.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, giáo dục phổ thông tỉnh Nam Định
cũng còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém và vướng mắc cần tháo gỡ.
Là một người con được sinh ra và lớn lên ở cái nôi của nền giáo dục
phổ thông Nam Định giàu truyền thống, xuất phát từ lòng yêu mến, tự hào và
biết ơn đối với mảnh đất hiếu học, với mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu sự
lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nam Định với sự nghiệp giáo dục phổ thông từ
năm 1997 đến năm 2010, nhằm mục đích tổng kết một chặng đường phát
triển giáo dục phổ thông của một tỉnh giàu truyền thống văn hóa, lịch sử, góp
phần làm rõ hơn vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trên mặt trận văn hóa –
giáo dục; đồng thời qua đó làm sáng tỏ hơn những thành tựu, hạn chế của
ngành giáo dục phổ thông Nam Định và rút ra một số bài học kinh nghiệm,
đề xuất một số ý kiến góp phần vào sự phát triển giáo dục phổ thông của tỉnh
trong giai đoạn mới, tôi đã chọn và giải quyết Đề tài: “Đảng bộ tỉnh Nam
Định lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 1997 đến năm 2010”
làm Luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
- Nhóm thứ nhất: Một số công trình nghiên cứu chuyên khảo viết về
dục – đào tạo thời kỳ 1991 – 2001 của Vũ Thị Huệ, Đảng bộ tỉnh Nam Định
lãnh đạo sự nghiệp giáo dục – đào tạo từ năm 1997 đến năm 2006 (Luận văn
Thạc sỹ - Trung tâm Đào tạo Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, 2011)
của Vũ Thị Huệ… Đây thực sự là nguồn tài liệu quý giá để chúng tôi tham
khảo. Tuy nhiên, nội dung mà các tác phẩm này đề cập đến còn mang tính
chất khái quát đối với toàn bộ sự nghiệp giáo dục của tỉnh, hoặc mới chỉ
nghiên cứu ở phạm vi hẹp là một huyện, thành phố, chưa đi sâu vào nghiên
cứu các chủ trương, đường lối của Đảng bộ tỉnh Nam Định trong quá trình
lãnh đạo hoạt động giáo dục đào tạo, đặc biệt trong khía cạnh cụ thể là giáo
dục phổ thông. Đây cũng chính là vấn đề mà chúng tôi tập trung làm rõ trong
Luận văn này.
- Nhóm thứ ba: những khóa luận tốt nghiệp, luận văn của sinh viên, học
viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu về sự lãnh
đạo của các Đảng bộ địa phương trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển
giáo dục và đào tạo. Một số luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam viết về lĩnh vực này: Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo sự
nghiệp giáo dục – đào tạo (Luận văn Thạc sĩ, 1998) của Lương Thị Hòe,
Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông thời kỳ
1986 – 2003 (Luận văn Thạc sĩ năm 2005) của Vũ Thị Kim Yến, Đảng bộ
tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 1965 đến năm
1975 (Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, năm 2009) của Phạm Thị Giang, Đảng bộ
tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông trong những năm
1996 – 2006 (Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, năm 2009) của Ngô Thị Thu Hà,
Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông trong
những năm 1996 – 2006 (Luận văn Thạc sĩ Lịch sử năm 2009) của Nguyễn
Thị Hồng Hạnh... Những luận văn này rất phong phú, đa dạng về nội dung và
phạm vi nghiên cứu, đều nhằm tìm phương hướng cho sự phát triển giáo dục
và đào tạo của từng địa phương cũng như cả nước, là nguồn tài liệu tham
Nam về giáo dục – đào tạo.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chính trong Luận văn là
phương pháp lịch sử, phương pháp logíc, và một số phương pháp khác như:
phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp…
Nguồn tư liệu chủ yếu được sử dụng là: các văn kiện của Đảng; văn
kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Nam Định, các nghị quyết, chỉ thị của Tỉnh ủy
Nam Định về phát triển giáo dục phổ thông; các văn bản tài liệu của Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân, Sở Giáo dục và Đào tạo Nam Định, các báo cáo
tổng kết năm học của các trường phổ thông, các huyện trong tỉnh; các
sách tham khảo, tạp chí, khóa luận, luận văn có liên quan…
6. Đóng góp của Luận văn
Hệ thống hóa lại quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện phát triển giáo dục
phổ thông của Đảng bộ tỉnh Nam Định từ năm 1997 đến năm 2010.
Nêu lên những nhận xét, đánh giá khách quan về giáo dục phổ thông
tỉnh Nam Định những năm từ 1997 đến 2010.
Luận văn được sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho công tác
nghiên cứu và giảng dạy.
7. Bố cục
Luận văn bao gồm phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu
tham khảo và 3 chương:
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo phát triển giáo dục phổ
thông sau khi tái lập tỉnh (1997 – 2001)
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo sự nghiệp phát triển
giáo dục phổ thông từ năm 2001 đến năm 2010
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm
Chương 1:
dân ở đây đã tiến hành các cuộc khai khẩn lấn biển qua nhiều thế hệ, đắp đê
ngăn mặn, đào ngòi tiêu nước, thau chua rửa mặn, cải tạo đồng ruộng. “Làm
như Nam Hạ bốc đất”, câu ngạn ngữ ấy đã khái quát được phần nào hình ảnh
người dân nơi đây và tình hình khẩn hoang ở vùng biển Nam Định xa xưa.
Cuộc chiến đấu chinh phục và chiến thắng thiên nhiên ở vùng đất này là bản
anh hùng ca của nhiều thế hệ. Vùng đất này ngày càng mở rộng bao nhiêu thì
càng thu hút người nơi khác đến sinh cơ lập nghiệp bấy nhiêu. Họ đã hình
thành một cộng đồng đoàn kết, gắn bó keo sơn, hợp sức nhau giành giật với
đất đai, trời biển, làm ra những sản phẩm để nuôi sống mình, để tồn tại và
phát triển. Sự đoàn kết này còn làm phong phú thêm nét đẹp truyền thống văn
hóa làng xã bình dị nhưng giàu tính nhân văn.
Với những đặc điểm tự nhiên, lịch sử trên, vùng đất Nam Định thường
xuyên chứa đựng cả những yếu tố thuận lợi và khó khăn. Đứng ở thế giao hòa
giữa đất liền và biển cả, cư dân lại gồm những con người đi mở cõi, đã tạo ra
khí phách riêng của người Nam Định - rất quả cảm, thông minh, hiếu học và
ham học hỏi; cần cù và sáng tạo trong lao động; giàu nghị lực, giỏi nghề sông
nước và thạo thủy chiến. Trong cuộc chinh phục thiên nhiên, chống giặc
ngoại xâm kiên cường qua nghìn đời của cư dân đất Việt, người dân Nam
Định đã góp phần vẻ vang tạo dựng nên nền văn minh sông Hồng rực rỡ.
Không phải ngẫu nhiên mà phủ Thiên Trường là nơi phát tích của vương triều
Trần tồn tại 175 năm oanh liệt, nơi sinh thành, nuôi dưỡng và tôi luyện của
Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, những tài danh lớn,
những trạng nguyên xuất chúng như Khiếu Năng Tĩnh, Nguyễn Hiền, Lương
Thế Vinh, nhà thơ Tú Xương… Đây cũng là vùng đất sinh ra những chiến sĩ
cộng sản tiêu biểu của Đảng ta như Trường Chinh, Lê Đức Thọ… Nhân tố
này đã tác động không nhỏ tới sự phát triển của giáo dục tỉnh Nam Định nói
chung và giáo dục phổ thông nói riêng. Từ xa xưa, người dân Nam Định đã
rất hiếu học, coi trọng việc học hành, đầu tư thích đáng cho giáo dục và coi
xuyên lui tới qua đường biển vào cửa sông Đáy, sông Hồng tới sông Vị. Thế
kỷ XIX, cảng Nam Định là một cảng vào loại lớn nhất Bắc Kỳ, khi mà Phố
Hiến nằm sâu trong nội địa và cảng Hải Phòng chưa định hình.
Người Nam Định rất coi trọng thờ cúng tổ tiên, ông bà cha mẹ, các anh
hùng dân tộc, những người tài cao học rộng, những ông tổ nghề nghiệp,
những vị thần có công với nước. Những ngày giỗ, lễ tết đều được tổ chức rất
long trọng, trang nghiêm. Hai nơi có lễ hội lớn là đền Trần ở Tức Mặc, Bảo
Lộc (Mỹ Phúc) thờ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn (tháng tám) và hội
Phủ Giầy ở Kim Thái (Vụ Bản) thờ Mẫu Liễu Hạnh (tháng ba). Hầu như làng
nào ở Nam Định cũng có ngôi đình, đền, miếu, phủ, từ đường để suy tôn,
tưởng nhớ những người có nhiều công đức. Nhiều tôn giáo cũng phát triển ở
Nam Định, sớm nhất là đạo Phật, đến đạo Thiên Chúa và Tin Lành.
Nam Định từ xa xưa vẫn được coi là vùng đất văn hiến mặc dù không
cổ kính lâu đời như các xứ Bắc, xứ Đông, xứ Đoài. Đặc biệt, nhà Trần là một
hiện tượng độc đáo trong các triều đại phong kiến Việt Nam, ngoài những
chiến công chống giặc ngoại xâm hiển hách, lừng lẫy trong lịch sử, thì các đời
vua đều là nhà thơ, nhiều vị uyên thâm Phật học, tiêu biểu như Trần Nhân
Tông. Thái sư Trần Thủ Độ tuy không được học hành nhiều, song khi nắm
trọng trách điều hành đất nước luôn luôn là mẫu mực cho đạo đức “cần, kiệm
liêm, chính, chí, công, vô, tư”. Các vị tướng lĩnh, công hầu trong ba lần chiến
thắng quân Mông – Nguyên hầu hết là tôn thất nhà Trần, không những giỏi
chinh chiến và còn là tác giả của những áng “thiên cổ hùng văn”, có võ tướng
thông thạo âm luật, biết nhiều ngoại ngữ…
Nam Định là vùng đất học, có trường thi lập ra từ thời Lê (kỳ thi đầu
tiên vào năm 1441) đến năm 1845 được xây trên đất làng Năng Tĩnh. Sau khi
lập vương triều, nhà Nguyễn đã tổ chức thi cử để chọn nhân tài bổ sung cho
bộ máy cai trị. Nhà Nguyễn không lấy đỗ trạng nguyên, Nam Định có Trần
Bích San (người thành phố Nam Định) đỗ Tam Nguyên (trong số ba người
mới có 1 người được đi học, hơn 90% dân số mù chữ. “Lúc đó có một nghìn
năm trăm ty rượu và thuốc phiện cho một nghìn làng trong khi chỉ có một
trường học cho bấy nhiêu làng” [2, tr. 54]. Sự thống trị của thực dân Pháp,
đặc biệt là từ sau khai thác thuộc địa lần thứ nhất đã làm cho xã hội Việt Nam
nói chung và xã hội Nam Định nói riêng nhanh chóng chuyển từ xã hội phong
kiến sang xã hội thực dân nửa phong kiến với những biến động lớn cả về kinh
tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, dưới sự lãnh đạo của
Đảng bộ tỉnh, phong trào học chữ quốc ngữ được dấy lên rộng khắp từ thành
thị đến nông thôn. Các lớp học được mở ra ngay trong nhà dân, ở đình, đền,
chùa. Với sự nỗ lực thi đua “người người đi học, nhà nhà đi học”, chỉ trong
thời gian ngắn toàn tỉnh đã thanh toán mù chữ cho hàng chục vạn người. Đến
cuối năm 1949, toàn tỉnh đã có 250.908 người thoát nạn mù chữ. Các huyện Ý
Yên, Vụ Bản, Hải Hậu đã thanh toán được 80% số người mù chữ [2, tr. 274].
Sự nghiệp giáo dục phổ thông cũng được Đảng bộ tỉnh hết sức quan tâm chỉ
đạo xây dựng hệ thống giáo dục từ tỉnh đến xã. Mỗi xã hoặc liên xã đều lập
trường cấp I và huyện nào cũng có từ một đến hai trường cấp II. Phong trào
toàn dân đi học là một trong những nét tiêu biểu của một dân tộc đang vươn
lên làm chủ đời mình.
Ở một số nơi sát đồn bốt địch, có khó khăn, phức tạp hơn về mở trường
lớp, nhưng chính quyền vẫn tìm mọi cách khắc phục để thực hiện chương
trình học tập cho học sinh. Sau khai giảng năm học mới (9/1951), các trường
phổ thông quốc lập đã có: 1 trường phổ thông cấp II (ở Ninh Cường) và 125
trường cấp I. Các trường dân lập và tư thục gồm có 2 trường cấp II và 213
trường cấp I. Các trường phổ thông có 712 giáo viên và 24.379 học sinh
[2, tr. 349]. Trường cấp II Ninh Cường là trường phổ thông cấp II đầu tiên do
tỉnh mở. Trường thu hút cả học sinh thành phố Nam Định về học. Nhiều
thanh niên, học sinh trong vùng bị địch chiếm đã ra theo học ở khu căn cứ.
Sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện của Đảng trên mọi
lĩnh vực, tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước, của địa phương
đạt được những thành tựu rất đáng phấn khởi, đời sống nhân dân được cải
thiện, nhu cầu về học tập cao hơn. Đến năm học 1994 – 1995, lần đầu tiên
giáo dục đào tạo Nam Định là đơn vị duy nhất dẫn đầu toàn quốc về các chỉ
tiêu thi đua, lá cờ đầu của toàn ngành. Giáo dục phổ thông có bước chuyển
biến mới, tăng trưởng mạnh cả về quy mô và chất lượng giáo dục:
Quy mô giáo dục đào tạo tiếp tục phát triển. Số học sinh tăng ở tất cả
các bậc học. Học sinh tiểu học đến trường ngày càng đúng độ tuổi (82,07 %
năm học 1995 – 1996), các chỉ tiêu kế hoạch phổ cập giáo dục tiểu học của
tỉnh được hoàn thành vượt mức, kết quả phổ cập giáo dục tiểu học ngày càng
vững chắc, ổn định, chất lượng ngày càng tốt hơn. Nhiệm vụ chống mù chữ
được đẩy mạnh, tiếp tục chú trọng việc thực hiện đúng độ tuổi xóa mù chữ.
Việc đa dạng hóa các loại hình và sắp xếp mạng lưới trường lớp tiếp tục có
chuyển biến mới. Ở các bậc phổ thông đã chú trọng củng cố, mở rộng nhiều
trường trọng điểm chất lượng cao, giáo dục tiểu học mở rộng số trường nhập
công nghệ giáo dục, hệ thống trường chuyên, trường năng khiếu được chăm
lo tốt hơn về đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất trang thiết bị hiện đại.
Chất lượng giáo dục đào tạo tiếp tục được nâng cao:
Giáo dục tiểu học có chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện theo hướng đổi
mới bậc học. 100% số trường dạy đủ các môn bắt buộc; đại bộ phận giáo viên
có ý thức đổi mới phương pháp dạy học; công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
được chăm lo tốt hơn, chất lượng giải trong các kỳ thi học sinh giỏi tỉnh và
quốc gia được nâng lên. Để nâng cao chất lượng giáo dục, các nhà trường đã
tích cực triển khai thực hiện tổ chức học 2 buổi trên ngày. Hoạt động ngoài
giờ lên lớp, hoạt động đội sôi nổi có tác dụng giáo dục tốt.
Giáo dục trung học phổ thông thực hiện đầy đủ chương trình và tích
cực nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; 100% số trường trung học phổ
giáo viên và thư viện trường học. Đặc biệt Sở Giáo dục và Đào tạo đã chú
trọng trang bị tủ sách giáo khoa dùng chung cho các trường ở những vùng khó
khăn để học sinh nghèo có điều kiện mượn sách giáo khoa học tập. Tuy nhiên,
cơ sở vật chất ở nhiều trường tiểu học chưa thoát khỏi tình trạng xuống cấp,
việc bảo quản, sử dụng trang thiết bị dạy học ở một số trường chưa tốt, thiết
bị thí nghiệm còn thiếu dẫn đến tình trạng “dạy chay, học chay”.
Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh vừa có diện rộng, vừa có
chiều sâu. Nhận thức về vị trí, vai trò của sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở các
địa phương ngày càng đầy đủ và đúng đắn hơn, nên việc chăm lo cho các nhà
trường ngày càng toàn diện và thiết thực. Ở các nhà trường cùng có nhận thức
đầy đủ và sâu sắc hơn về tác dụng và ý nghĩa của công tác xã hội hóa giáo dục.
Từ đó phát huy nội lực mạnh mẽ trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả
giáo dục, đáp ứng với yêu cầu của xã hội.
Đổi mới công tác quản lý giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực. Các
cấp quản lý giáo dục đã chủ động, tích cực tham mưu, đóng góp ý kiến cho
các cấp ủy, chính quyền về lĩnh vực giáo dục và đào tạo đạt kết quả tốt. Mối
quan hệ giữa ngành và địa phương ngày càng gắn bó vì sự nghiệp trồng người
và phát triển giáo dục. Cán bộ quản lý giáo dục các cấp nhìn chung năng động
trong việc quản lý giáo dục và trường học. Ở các nhà trường, cán bộ quản lý
đã chú trọng đến mặt giáo dục đạo đức và nâng cao chất lượng văn hóa, đặc
biệt chăm lo đến nhiệm vụ xây dựng đội ngũ giáo viên – yếu tố quan trọng
quyết định đến chất lượng giáo dục.
Công tác thanh tra giáo dục được coi trọng hơn. Đội ngũ làm công tác
thanh tra được bồi dưỡng nghiệp vụ nên được củng cố và tăng cường. Hoạt
động thanh tra thực sự chuyển trọng tâm sang thanh tra chuyên môn, thanh tra
quản lý. Bộ máy thanh tra giáo dục các cấp đã thanh tra toàn diện, thanh tra
chuyên đề trường học, giáo viên vượt chỉ tiêu quy định. Tuy nhiên, việc tổ
chức thanh tra ở quy mô lớn phải huy động nhiều thanh tra viên ở nhiều địa
so với yêu cầu ngày càng cao của chất lượng giáo dục; cơ sở vật chất chưa
đáp ứng được với tình hình học sinh tăng nhanh, một số trường còn phòng
học xuống cấp, gặp khó khăn trong việc nâng cao chất lượng. Nguyên nhân
bao trùm của những tồn tại này là: nhận thức về vị trí, vai trò của sự nghiệp
giáo dục đào tạo có nơi, có lúc chưa sâu sắc, do đó nguồn lực đầu tư cho giáo
dục đào tạo trong đó có giáo dục phổ thông còn hạn hẹp, chưa tương ứng với
quy mô phát triển và yêu cầu cao trong giai đoạn mới; học sinh tăng nhanh
với số lượng lớn, các địa phương và ngành chưa đủ lực để kịp thời chuẩn bị
điều kiện cho mức tăng trưởng đó.
Với truyền thống của quê hương tuy còn khó khăn về kinh tế nhưng rất
hiếu học, toàn ngành giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục phổ thông nói
riêng phát huy mạnh mẽ nội lực, đổi mới cách nghĩ, cách làm giáo dục, khai
thác tiềm năng thế mạnh của tỉnh, của ngành, năng động, sáng tạo, khắc phục
những khó khăn để phát triển, thực hiện những ý tưởng tốt đẹp vì sự nghiệp
trồng người cho quê hương, đất nước.
1.2.
Giáo dục phổ thông tỉnh Nam Định từ năm 1997 đến năm 2001
1.2.1. Đảng bộ tỉnh Nam Định vận dụng chủ trương của Đảng lãnh đạo phát
triển giáo dục phổ thông
Giai đoạn 1997 – 2001 là giai đoạn toàn ngành Giáo dục và Đào tạo
quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng “Tiếp tục sự
nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh vững bước đi lên chủ nghĩa
xã hội”. Trong đó “lấy việc phát triển nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản
cho sự phát triển nhanh và bền vững” [19, tr. 471].
Nhận thức tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục – đào tạo, Đại hội
- Nâng dần tỷ trọng chi ngân sách cho giáo dục, đào tạo, phát huy
trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền, đoàn thể đối với sự
nghiệp giáo dục – đào tạo. Động viên đúng mức sức đóng góp của mỗi nhà,
mỗi người, đồng thời thu hút vốn đầu tư từ cộng đồng, ở trong và ngoài nước
cho giáo dục – đào tạo.
Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng đã thông qua
Nghị quyết số 02-NQ/HNTW “Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục
– đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm
2000”. Hội nghị đã phân tích và đánh giá thực trạng giáo dục của nước ta
trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng VII, những thành tựu, hạn