đảng bộ tập đoàn dầu khí quốc gia việt nam với công tác xây dựng đảng từ nam 1991 den nam 2010 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------

NGUYỄN THỊ MINH QUÝ

ĐẢNG BỘ TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ QUỐC GIA
VIỆT NAM VỚI CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60 22 56
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Kim Đỉnh

HÀ NỘI - 2013


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.............................................................................................................

4

CHƢƠNG 1: CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG Ở ĐẢNG BỘ TỔNG
CÔNG TY DẦU MỎ VÀ KHÍ ĐỐT VIỆT NAM TỪ NĂM 1991 ĐẾN

11

NĂM 2002 ..........................................................................................................
1.1. Quan điểm của Đảng về phát triển dầu khí ở Việt Nam ...................


45

2.2. Công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Tổng Công ty Dầu khí Việt
Nam, từ năm 2003 đến năm 2006................................................................

48

2.2.1 Tổ chức Đảng bộ............................................................................

48

2.2.2 Lãnh đạo công tác giáo dục chính trị .............................................

50

2.2.3 Nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của Đảng bộ Tổng công
ty Dầu khí việt Nam .................................................................................

51

2.2.4 Lãnh đạo công tác tổ chức, đào tạo cán bộ.....................................

53

2.2.5 Lãnh đạo công tác xây dựng Đảng ................................................

58

2.2.6 Lãnh đạo các đoàn thể quần chúng.................................................


79

2.4.3 Lãnh đạo công tác tổ chức, đào tạo cán bộ.....................................

82

2.4.4 Lãnh đạo công tác xây dựng Đảng..................................................

84

2.4.5 Lãnh đạo các đoàn thể quần chúng.................................................

94

CHƢƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ...........................................

98

3.1. Một số nhận xét về mô hình tổ chức ngành, tổ chức đảng của Tập
đoàn Dầu khí Quốc Gia việt Nam từ năm 1991 đến năm 2010 ...............

98

3.1.1 Những thành tựu..............................................................................

107

3.1.2 Một số hạn chế và tồn tại............... .................................................

114

120

Kết luận..............................................................................................................

123

Danh mục tài liệu...............................................................................................

126

Phụ lục................................................................................................................

131

2


QUY ƢỚC VIẾT TẮT

CBCNV

: Cán bộ công nhân viên

CBĐV CNV

: Cán bộ, Đảng viên, Công nhân viên

CNH, HĐH

: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa


: Tổng công ty dầu khí

TCTDKVN

: Tổng Công ty dầu khí Việt Nam

TĐ DKQGVN

: Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam

TW

: Trung ương

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa

3


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dầu khí là khoáng sản quý hiếm, không tái tạo, hiện nay và trong nhiều thập
niên kế tiếp vẫn là nguồn năng lượng quan trọng của nước ta. Chưa có một khoáng
sản nào mà điạ hạt sử dụng lại rộng rãi và đa dạng như dầu khí. Với vị trí là ngành
kinh tế mũi nhọn, dầu khí có đóng góp lớn cho ngân sách Nhà nước, và được Chủ
tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm phát triển ngành dầu khí.
Trong chuyến thăm nước cộng hoà Azerbaijan (thuộc Liên Xô cũ) và tham

& Gas Corporation – Petrovietnam) được tổ chức lại trên cơ sở các đơn vị cũ của
Tổng cục Dầu khí Việt Nam. Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, bước
sang năm 2007, ngành dầu khí chuyển đổi mô hình từ Tổng công ty Dầu khí Việt
Nam sang mô hình Tập đoàn. Đây là mô hình hoàn toàn mới mẻ, thay đổi cơ bản
mục đích, tổ chức, bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, hình thức kinh doanh, sở hữu ...
Trước những bước phát triển nhanh chóng của tập đoàn và sự mở cửa, hội nhập,
hợp tác quốc tế mạnh mẽ với cả hai mặt tích cực và tiêu cực, để bảo đảm vai trò
lãnh đạo của Đảng đối với ngành dầu khí, Đảng bộ Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt
Nam phải chuyển đổi tư duy, tổ chức và phương thức lãnh đạo, phải có chất lượng
mới để đáp ứng được yêu cầu mới.
Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh
tế quốc tế, trước những vận hội và thách thức, đòi hỏi công tác xây dựng đảng phải
có sự phát triển mới, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát huy sức mạnh khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện mục tiêu ―dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh‖. Một trong những nhiệm vụ cơ bản của công tác xây
dựng đảng là củng cố tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội
X của Đảng: ―Với vị trí nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, vai trò của
tổ chức cơ sở đảng rất quan trọng. Phải dồn sức xây dựng, nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, làm cho tổ chức này thực sự trong
sạch, vững mạnh‖ [65, tr. 298]

5


Với những lý do như trên, tôi chọn đề tài “Đảng bộ Tập đoàn Dầu khí Quốc
gia Việt Nam với công tác xây dựng Đảng từ năm 1991 đến năm 2010” làm luận
văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công tác xây dựng Đảng là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt luôn được Đảng

thực tế một số doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trên địa bàn Hà Nội.
- Tiểu ban tổng kết công tác xây dựng Đảng (1996), Báo cáo tổng kết công
tác xây dựng Đảng thời kỳ 1975 -1995, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Báo cáo đã
tổng kết công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, xây dựng đội ngũ
cán bộ; phương thức lãnh đạo của Đảng, rút ra các bài học kinh nghiệm và nêu ra
phương hướng chung về xây dựng đảng. Trong báo cáo, đã có những đánh giá mặt
tiến bộ và hạn chế của tổ chức cơ sở Đảng, những ưu, khuyết điểm trong công tác
xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và rút ra những kinh nghiệm củng cố tổ chức cơ sở
Đảng từng thời gian từ năm 1975 đến năm 1995.
Luận án :
- Hà Duy Dĩnh (2009), Chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở các đơn vị sản xuất
kinh doanh thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sỹ,
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. Tác giả đã góp phần làm
rõ đặc điểm của tổ chức cơ sở Đảng ở các đơn vị thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia
Việt Nam hiện nay. Đồng thời nêu ra quan niệm và tiêu chí đánh giá chất lượng tổ
chức cơ sở Đảng ở các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc
gia Việt Nam hiện nay, và đề xuất một số giải pháp có tính đặc thù, khả thi góp
phần nâng cao chất lượng của các tổ chức cơ sở Đảng ở các đơn vị sản xuất kinh
doanh thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đến năm 2020
- Nguyễn Minh Tuấn (2003), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp Nhà nước ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng
Ninh thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Học
viện Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh. Tác giả đã làm sáng tỏ vị trí, vai trò, chức
năng, nhiệm vụ, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng trong
doanh nghiệp Nhà nước nói chung và ở Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh nói
riêng; góp phần nâng cao nhận thức và ý thức xây dựng Đảng của các tổ chức đảng
trong doang nghiệp Nhà nước thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.

7



8


Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác xây dựng đảng của Đảng bộ
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam .
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: nghiên cứu chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng bộ Tập đoàn
Dầu khí Quốc gia Việt Nam đối với công tác xây dựng đảng.
- Về thời gian: nghiên cứu từ năm 1991 đến năm 2010 mà trọng tâm là từ
năm 2007 đến năm 2010.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận:
- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về
công tác xây dựng đảng.
Cơ sở thực tiễn: Hoạt động xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng công tác
xây dựng đảng của Đảng bộ Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam.
Nguồn tư liệu
-

Hồ Chí Minh toàn tập; các văn kiện, nghị quyết của Đảng, Nhà nước.

-

Tài liệu khai thác tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam .

-

Các văn bản, nghị quyết của Đảng ủy khối các doanh nghiệp Nhà nước.


10


CHƢƠNG 1
CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG Ở ĐẢNG BỘ TỔNG CÔNG TY DẦU MỎ
VÀ KHÍ ĐỐT VIỆT NAM TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2002
1.1. Quan điểm của Đảng về phát triển dầu khí ở Việt Nam
Thực hiện mong ước của Bác Hồ và của cả dân tộc Việt Nam là ―xây dựng
được những khu công nghiệp dầu khí mạnh‖, ngay từ những năm đầu thập niên 60
của thế kỷ trước, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến hoạt động tìm kiếm và
thăm dò dầu khí. Ngày 27/11/1961, Đoàn Thăm dò dầu lửa (Đoàn 36 dầu lửa) được
thành lập, đánh dấu mốc lịch sử mở đầu một thời kỳ hoạt động dầu khí có tổ chức ở
Việt Nam.
Ngay sau khi nước nhà thống nhất ngày 20/7/1975, Bộ Chính trị đã xác định
đường lối phát triển ngành dầu mỏ và khí đốt Việt Nam, trong đó đã vạch ra chính
sách hợp tác với nước ngoài (quy định những nguyên tắc cơ bản về lựa chọn đối
tượng hợp tác, hình thức hợp tác và địa bàn hợp tác). Ngày 9-8-1975, Bộ Chính trị
ban hành Nghị quyết số 244-NQ/TW về việc triển khai thăm dò dầu khí trên cả
nước. Đây là văn bản đầu tiên về phát triển dầu khí, thể hiện sự sáng suốt, tầm nhìn
chiến lược của Đảng.
Nghị quyết khẳng định: ―Dầu hỏa và khí đốt là nguồn năng lượng quan trọng
của tất cả các nước công nghiệp. Ngành công nghiệp lọc dầu và hóa dầu (phân bón,
chất dẻo, sợi tổng hợp, dược phẩm, v.v.) là một thành phần cơ bản và tiên tiến của
một cơ cấu công nghiệp hiện đại.Sau khi chiến thắng đế quốc Mỹ, cả nước ta bước
vào thời kỳ phát triển kinh tế toàn diện; chúng ta phải nhanh chóng tìm ra và khai
thác dầu, khí. Dầu hỏa trở thành một vấn đề kinh tế và chính trị có ý nghĩa chiến
lược cần được Nhà nước coi làm một trọng điểm ưu tiên trong kế hoạch kinh tế tài
chính và khoa học kỹ thuật...Với kết quả thăm dò tới nay ở cả hai miền, tuy chưa
đánh giá được trữ lượng công nghiệp, nhưng đã có thể khẳng định triển vọng dầu

khai thác dầu khí đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, hình thành vào năm
2000 ngành công nghiệp Dầu khí ở nước ta bao gồm thăm dò, khai thác, chế biến,
dịch vụ xuất nhập khẩu…” [56, tr.206]
Về đẩy mạnh hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí Nghị quyết 15 NQ/TW
ngày 7/7/1988 của Bộ Chính trị đã ghi rõ: ―…đến năm 1995, đẩy mạnh công tác tìm

12


kiếm thăm dò trên toàn bộ thềm lục địa Việt nam.…” [56, tr. 206]. Thực hiện tinh
thần này, Tổng công ty Dầu khí đã:
- Triển khai công tác thăm dò dầu khí trên toàn thềm lục địa Việt nam, trong
đó các khảo sát địa vật lý và khoan thăm dò, khai thác đã được tiến hành trên tất cả
các bể trầm tích Đệ tam được đánh giá có triển vọng dầu khí như các bể Sông
Hồng, Phú khánh, Nam Côn Sơn, Cửu long, Malay-Thổ chu và vùng Tư chínhVũng mây với một khối lượng lớn: trên 260.000 km địa chấn 2D, trên 15.000 km
km2 địa chấm 3D, trên 550 giếng khoan thăm dò và khai thác với tổng số 1.200.000
m khoan, chi phí và vốn đầu tư gần 7 tỷ USD.
- Đã xác định trữ lượng và tiềm năng dầu khí của Việt Nam, ngoài biển và
trên đất liền cho con số dự báo khoảng 4 tỷ m3 dầu quy đổi, trong đó khoảng 1.100
triệu m3 dầu và 2.500 tỷ m3 khí.
- Đã phát hiện trên phần lớn thềm lục địa có chiều sâu đến 200m nước hơn
50 cấu tạo có biểu hiện dầu khí, trữ lượng xác minh khoảng 1.200 triệu m3 dầu quy
đổi, trong đó 550 triệu m3 dầu và 650 tỷ m3 khí.
- Phần lớn trữ lượng tiềm năng còn lại tập trung chủ yếu ở vùng nước sâu, xa
bờ và các vùng chồng lấn.
- Tạo công ăn việc làm, xây dựng và đào tạo một đội ngũ cán bộ KHKT, cán
bộ quản lý và công nhân dầu khí Việt Nam.
Nghị quyết 15 NQ/TW ngày 7/7/1988 của Bộ Chính trị đã ghi rõ: “…Xây
dựng và đào tạo một đội ngũ công nhân, cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý
đủ sức từng bước làm chủ ngành công nghiệp Dầu khí, tiến lên tự lực phát triển

mạnh việc hợp tác và liên doanh với nước ngoài thăm dò, khai thác và chế biến dầu
khí. Xây dựng công nghiệp lọc, hóa dầu theo công nghệ hiện đại kéo theo sự phát
triển một số ngành khác đi từ nguyên liệu dầu và khí‖ [32, tr 168]. Thăm dò, khai
thác, chế biến dầu khí và một số loại khoáng sản được coi là một trong bốn lĩnh vực
kinh tế có điều kiện và cần phải tăng trưởng mạnh trong thập kỷ 1990 để thúc đẩy
và hỗ trợ các ngành khác.
Để bảo vệ, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên dầu khí nhằm
phát triển kinh tế quốc dân, mở rộng hợp tác với nước ngoài, Luật Dầu khí được
Quốc hội thông qua năm 1993 đã thể hiện rõ việc Nhà nước luôn kịp thời thể chế

14


hóa chủ trương, đường lối của Đảng bằng luật pháp. Luật Dầu khí được ban hành
đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cả Petrovietnam cũng như các đối tác trong việc
tiến hành các hoạt động dầu khí trong đất liền cũng như trên biển, trong vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, được các công ty nước ngoài hoan
nghênh. Tuy vậy, sau một thời gian thực hiện Luật, qua xem xét, nghiên cứu thực
tiễn hoạt động tìm kiếm, thăm dò dầu khí của Petrovietnam và các công ty dầu khí
nước ngoài, Chính phủ đã đề nghị Quốc hội sửa đổi Luật Dầu khí để thích hợp với
các hoạt động tìm kiếm thăm dò tại các vùng nước sâu, xa bờ, có nhiều khó khăn.
Để kịp thời đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tế, trong khi chờ Quốc hội sửa đổi
Luật, ngày 7-11-1998 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 216/QĐ-TTg về
khuyến khích đầu tư đối với các hoạt động dầu khí tại các vùng nước sâu, xa bờ và
khu vực có điều kiện địa lý, địa chất, kinh tế, kỹ thuật đặc biệt khó khăn.
Năm 2000, Quốc hội đã thông qua Luật Dầu khí sửa đổi và đã được các nhà
thầu nước ngoài hết sức hoan nghênh. Đây là một sự việc minh chứng cho sự cầu
thị và phản ứng kịp thời của Nhà nước Việt Nam trong hoạt động kinh tế đối ngoại
trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi.
Đối với đất nước nói chung và đối với ngành Dầu khí nói riêng, chủ trương,

hoạt động của Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam có những biến chuyển
mạnh theo hướng tiến tới mô hình doanh nghiệp nhà nước, phi hành chính hóa. Đó
là xu thế chung của sự chuyển đổi mô hình hoạt động sản xuất - kinh doanh trong
cả nước sau khi đường lối đổi mới của Đại hội lần thứ VI của Đảng bắt đầu được
triển khai và lan tỏa trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Với việc thành lập Tổng
cục Dầu mỏ và Khí đốt đánh dấu ngành Dầu khí Việt Nam đã bước sang một trang
sử mới, chấm dứt thời kỳ hoạt động của các tổ chức riêng rẽ thuộc Tổng cục Địa
chất, Tổng cục Hóa chất… Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam là tổ chức nhà
nước đầu tiên quản lý một ngành kinh tế kỹ thuật thống nhất trong cả nước ( trừ
phần hoá dầu do Tổng cục Hóa chất phụ trách ). Việc thành lập Tổng cục Dầu mỏ
và Khí đốt là một trong những sự kiện lớn của đất nước về các mặt lịch sử, chính trị
và kinh tế. Bắt đầu từ đây, ngành Dầu khí Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển
phi mã với việc chuyển hướng trọng tâm thăm dò khai thác vào phần thềm lục địa
phía Nam. Hàng loạt dự án thăm dò được triển khai đi kèm với nó là hàng loạt
công trình phục vụ khai thác dầu khí được xây dựng trên quy mô hiện đại. Dấu mốc

16


quan trọng nhất trong giai đoạn này là Hiệp định Hợp tác trong thăm dò khai thác
dầu khí giữa Việt Nam và Liên Xô được ký kết.
1.2.1.2 Mô hình Tổng công ty Nhà nước trực thuộc Chính phủ từ từ năm 1992 đến
năm 1995
Tháng 5 năm 1992 Tổng công ty Dầu khí được tách khỏi Bộ Công nghiệp
nặng và trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng và có tên giao dịch quốc tế là
PetroVietnam. Đây là thời kỳ chuyển đổi cơ chế quản lý từ một Tổng cục như một
cơ quan quản lý nhà nước chuyển thành một Tổng công ty hoạt động mang tính
chất sản xuất kinh doanh như một doanh nghiệp Nhà nước. Song thực tế ở giai đoạn
này Tổng công ty Dầu khí vẫn là một cơ quan mang nặng về quản lý nhà nước chứ
không phải một Tổng công ty hoạt động mang tính chất sản xuất kinh doanh như

công ty Dầu khí không trực thuộc Thủ tướng chính phủ nữa để trở thành một doanh
nghiệp đặc biệt không làm chức năng quản lý nhà nước về dầu khí, trở thành một
Tổng công ty mạnh. Nghị định 38/CP ngày 30-5-1995 của Thủ tướng Chính phủ đã
ban hành chức năng, điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty. Trong đó quyết
định Tổng công ty Dầu khí là Tổng công ty nhà nước, là doanh nghiệp hoạch toán
độc lập , có tư cách pháp nhân, có vốn và tài sản riêng, có bảng cân đối tài sản
riêng, hoạt động theo luật pháp Việt Nam.
Điểm nổi bật của giai đoạn này là hoạt động của Tổng công ty đã hoàn toàn
chuyển sang cơ chế tự chủ tài chính, được nhà nước giao vốn và chịu trách nhiệm
bảo toàn và phát triển nguồn vốn được giao. Đây là giai đoạn các dự án lớn đòi hỏi
số vốn đầu tư rất lớn bắt đầu được triển khai ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất
từ khâu đầu – tìm kiếm thăm dò, đến khâu giữa – khai thác và khâu sau – chế biến.
Về sản phẩm sản xuất, hiện nay sản phẩm chủ yếu của Tổng công ty bao
gồm : dầu thô; khí đốt; các sản phẩm lỏng LPG, condensate; xăng; dầu nhớt và
phân đạm…vv.
Về quy mô, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam là tổng công ty 90, được tổ
chức theo mô hình liên kết hỗn hợp, (giữa các doanh nghiệp thành viên tồn tại cả
hai hình thức liên kết là liên kết theo chiều ngang và liên kết theo chiều dọc). Cơ
cấu tổ chức bộ máy quản lý gồm có : Hội đồng quản tri, Ban kiểm soát, Ban Tổng
giám đốc và các Ban chức năng.

18


Tổng công ty Dầu khí Việt Nam có các đơn vị thành viên là doanh nghiệp
nhà nước hoạch toán độc lập; đơn vị hoạch toán phụ thuộc; đơn vị sự nghiệp và các
Ban quản lý dự án.Tất cả các đơn vị thành viên đều có điều lệ, quy chế, tổ chức
hoạt động riêng do Hội đồng quản trị Tổng công ty phê chuẩn. Đơn vị hoạch toán
độc lập có quyền tự chủ kinh doanh và tự chủ tài chính, chịu sự ràng buộc về quyền
lợi và nghĩa vụ đối với Tổng công ty. Đơn vị hoạch toán phụ thuộc có tư cách pháp

ban đầu Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam (1990-1995), Tổng công ty
Dầu khí Việt Nam (1995-2006). Trong giai đoạn đó, đất nước đã đi qua một đoạn
đường đầy chông gai và thử thách, nhưng cũng rất đáng tự hào, tạo nên một hình
ảnh hết sức ấn tượng đối với thế giới về tốc độ phát triển kinh tế và sự ổn định
chính trị - xã hội.
1.2.2. Tổ chức Đảng bộ
* Đảng bộ cơ quan Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam trực thuộc
Đảng bộ cơ quan Bộ Công nghiệp nặng từ năm 1990 đến năm 1992
Tháng 7-1990, Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam được thành lập.
Triển khai Nghị quyết của Đảng ủy Khối cơ quan Kinh tế Trung ương về việc thành
lập Đảng bộ cơ quan Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam. Ngày 12-9-1990,
Đảng ủy cơ quan Bộ Công nghiệp nặng đã ra Nghị quyết số 69-QĐ/ĐU về việc chỉ
định Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ cơ sở cơ quan Tổng công ty Dầu mỏ và Khí
đốt Việt Nam. Cũng trong thời gian này, để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ phát triển
ngành Dầu khí, các tổ chức đảng cơ sở tại các đơn vị dầu khí mới được thành lập ra
đời, như Chi bộ Công ty Dung dịch khoan và Hóa phẩm dầu khí, Chi bộ Công ty
Dầu mỡ nhờn VIDAMO, Đảng bộ Công ty Lọc hóa dầu... Đội ngũ cán bộ, đảng
viên phát triển nhanh chóng, gắn liền với sự lớn mạnh của đội ngũ cán bộ công
nhân viên đang thực hiện nhiệm vụ công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác, dịch vụ,
chế biến dầu khí.
* Đảng bộ cơ sở cơ quan Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt trực thuộc
Đảng bộ Khối cơ quan Kinh tế Trung ương từ năm 1992 đến năm 1995.
Theo Quyết định số 125-HĐBT ngày 14-4-1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng, Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam được tách khỏi Bộ Công nghiệp
nặng và trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng (sau là Thủ tướng Chính phủ). Ngày 5-61992, Đảng ủy Khối cơ quan Kinh tế Trung ương quyết định chuyển Đảng bộ cơ

20


quan Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam từ Đảng bộ Bộ Công nghiệp nặng


Tuy nhiên, ngành Dầu khí là ngành kinh t ế - k ỹ thuật đặc thù, mang tính
chuyên ngành độc lập cao. Lĩnh vực chính của ngành có nhiều nội dung liên quan
đến an ninh quốc gia, ít liên quan với nhiệm vụ chính trị của đảng bộ địa phương.
Do đó , một số tổ chức đảng trực thuộc cấp ủy địa phương đã gặp khó khăn trở ngại
trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và công tác tổ chức, cán bộ. Bởi các
tổ chức cơ sở đảng hoạt động phân tán, trực thuộc nhiều cấp ủy địa phương và cả
một số nước trong khu vực và trên thế giới. Không có một tổ chức đảng thống nhất
toàn ngành với đầy đủ quyền hạn, nhiệm vụ tổ chức nhân sự, phương thức hoạt
động. Tình hình đó rõ ràng không thuận lợi cho việc bảo đảm sự lãnh đạo của các
tổ chức đảng cũng như phối hợp công tác giữa thủ trưởng và cấp ủy ở các đơn vị.
Mặc dù lãnh đạo Tổng công ty đã hết sức quan tâm đến mối quan hệ và sự hợp tác
với lãnh đạo các địa phương có hoạt động dầu khí, sự phối hợp trong chỉ đạo các
đơn vị đóng tại các địa phương không tránh khỏi kém hiệu quả và đôi khi mang tính
hình thức.
Để khắc phục một bước những hạn chế, do điều kiện tổ chức đảng trong các
tổng công ty chưa tổ chức thống nhất một đầu mối, Ban Bí thư Trung ương Đảng
(khoá VII) đã có Quyết định số 71-QĐ/TW ngày 10-7-1993 thành lập Ban cán sự
đảng ở một số tổng công ty, trong đó có Tổng công ty Dầu khí. Ngày 30-12-1993,
Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định chỉ định nhân sự Ban Cán sự Đảng Tổng
công ty, Tổng Giám đốc Hồ Sĩ Thoảng là Bí thư Đảng bộ.
Việc thành lập Ban Cán sự Đảng trực thuộc Ban Bí thư là một sự kiện quan
trọng đối với Tổng công ty, thể hiện sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước đối
với ngành Dầu khí.
Ban Bí thư lập Ban Cán sự Đảng ở Tổng công ty Dầu khí nhằm bảo đảm sự
lãnh đạo của Đảng trong hoạt động dầu khí được thống nhất. Ban Cán sự Đảng đảm
nhiệm công tác tổ chức và cán bộ của toàn Tổng công ty (công tác đảng vụ thuộc
trách nhiệm của các cấp ủy cấp trên trực tiếp của các tổ chức đảng tại các đơn vị).
Nhiệm vụ quan trọng nhất của Ban Cán sự Đảng Tổng công ty là bảo đảm để các
chủ trương, đường lối của Đảng về hoạt động dầu khí được quán triệt và thực hiện

hiệu quả thiết thực‖ [58, tr.137]. Từ khi Ban Cán sự Đảng Tổng công ty được thành
lập, hoạt động của công đoàn Dầu khí Việt Nam cũng có nhiều thuận lợi như:

23


Sự quan tâm của Ban Cán sự Đảng Tổng công ty đến công tác công đoàn và
tâm tư nguyện vọng của người lao động, yếu tố quan trọng không thể không nhắc
đến là sự phối hợp và hợp tác hết sức chặt chẽ giữa Ban Cán sự Đảng Tổng công ty
và lãnh đạo Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Ngoài ra ban cán sự Đảng Tổng
công ty còn có chức năng, nhiệm vụ chỉ đạo phát triển, sắp xếp tổ chức bộ máy của
ngành và các đơn vị thành viên; điều động, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ các cấp
trong phạm vi quyền hạn quản lý ngành dọc của Tổng công ty (TCT). Nhưng Ban
cán sự đảng Tổng công ty Dầu khí không phải là một cấp uỷ đảng nên vẫn có
những hạn chế trong hoạt động như:
Việc trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng đảng, công tác đoàn thể
và các mặt công tác khác chủ yếu do cấp uỷ đảng địa phương. Sự phối hợp giữa ban
cán sự đảng với cấp uỷ địa phương nhiều khi bị động, lúng túng, phải xin ý kiến chỉ
đạo của các ban đảng ở Trung ương. Hệ thống tổ chức đảng còn cồng kềnh, chồng
chéo về chức năng, nhiệm vụ với nhiều loại hình, chịu sự chi phối của nhiều cấp,
nhiều phía (ban cán sự đảng ngành, cấp uỷ địa phương, các đảng uỷ khối ở Trung
ương...) nên chưa phát huy tốt vai trò hạt nhân chính trị của tổ chức đảng.
Như vậy, hoạt động thực tiễn cho thấy mô hình ban cán sự đảng cũng chưa
thật phù hợp, vẫn không hoàn toàn chủ động trong triển khai nhiệm vụ với các đảng
bộ, chi bộ của các đơn vị thành viên trong nghành đang trực thuộc cấp ủy địa
phương. Mặt khác, theo quy định chức năng, nhiệm vụ Ban Cán sự đảng không có
nhiệm vụ lãnh đạo đoàn thể quần chúng. Đây là một trong những hạn chế lớn của
mô hình Ban cán sự đảng các TCT nói chung và của TCTDKVN nói riêng.
* Đảng bộ cấp trên cơ sở cơ quan Tổng công ty Dầu khí trực thuộc Đảng
bộ Khối cơ quan Kinh tế Trung ương từ năm 1995 đến năm 2002.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status