ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
……………………………………
NGUYỄN QUỲNH PHƢƠNG
SỰ CHỈ ĐẠO ĐỔI MỚI QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ
NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚ
TỪ NĂM 1968 ĐẾN NĂM 1986
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
………………………………
NGUYỄN QUỲNH PHƢƠNG
SỰ CHỈ ĐẠO ĐỔI MỚI QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ NÔNG
NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚ TỪ NĂM
1968 ĐẾN NĂM 1986
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1
Chƣơng 1: ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚ CHỈ ĐẠO QUẢN LÝ HTX
NÔNG NGHIỆP NHỮNG NĂM 1968-1976........................................................... 7
1.1. Chủ trƣơng của Đảng về phát triển HTX nông nghiệp và tình hình xây
dựng HTX nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú trƣớc năm 1968 ........................ 7
1.1.1. Chủ trương của Đảng về xây dựng HTX nông nghiệp .............................. 7
1.1.2. Tình hình xây dựng, phát triển HTX nông nghiệp ở Vĩnh Phú trước
năm 1968................................................................................................................... 15
1.2. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú chỉ đạo quản lý HTX nông nghiệp ......................... 19
1.2.1. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú chấn chỉnh công tác ba khoán và quản lý
ruộng đất trong HTX nông nghiệp (1968-1970) ......................................................... 19
1.2.2. Quá trình tiếp tục củng cố, đưa HTX nông nghiệp tiến lên theo con
đường XHCN (1971-1976) ................................................................................................ 30
Chƣơng 2: ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚ CHỈ ĐẠO “KHOÁN” TRONG
HTX NÔNG NGHIỆP NHỮNG NĂM 1977-1986 ................................................. 48
2.1. Chủ trƣơng của Đảng và Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú về phát triển HTX
nông nghiệp ............................................................................................................... 48
2.1.1. Chủ trương của Đảng về phát triển HTX nông nghiệp ............................. 49
2.1.2. Chủ trương khoán trong HTX nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh
Phú (1977-1986) ....................................................................................................... 56
2.2. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú thực hiện “khoán” trong HTX nông nghiệp .......... 62
2.2.1. Quá trình thực hiện “khoán” trong HTX nông nghiệp (1977-1979) ........ 61
2.2.2. Quá trình thực hiện khoán sản phẩm trong HTX nông nghiệp (19801986) ......................................................................................................................... 68
thực hiện đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp Việt Nam.
Thông qua việc tìm hiểu sự chỉ đạo đổi mới quản lý HTX nông nghiệp Vĩnh Phú
những năm 1968-1986, luận văn nhằm làm rõ nét táo bạo, tính độc lập của mô hình
quản lý nông nghiệp của Đảng bộ Vĩnh Phú; từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm
trong quá trình đổi mới quản lý nông nghiệp. Đồng thời, luận văn cũng góp phần nhận
định lại một số vấn đề về kinh tế nông nghiệp hợp tác hóa - tập thể hóa, nhằm phát huy
mạnh mẽ vai trò của kinh tế nông nghiệp trong nền kinh tế chung của đất nƣớc.
1
Với ý nghĩa đó, chúng tôi chọn đề tài “Sự chỉ đạo đổi mới quản lý HTX nông
nghiệp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú từ năm 1968 đến năm 1986 ” làm luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Với vai trò đặc biệt quan trọng của mình, HTX nông nghiệp đã thu hút đƣợc
sự quan tâm của Đảng và Nhà nƣớc, các cơ quan và các địa phƣơng cũng nhƣ sự
nghiên cứu, tìm hiểu của các nhà khoa học ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau. Có
thể kể đến một số công trình nghiên cƣ́u nhƣ:
“HTX nông nghiệp Việt Nam lịch sử - vấn đề - triển vọng” (1992) của Chử
Văn Lâm (chủ biên), Nxb Sự thật. Tác phẩm trình bày lịch sử phong trào hợp tác
hóa nông nghiệp ở Việt Nam, quá trình từng bƣớc cơ chế quản lý HTX nông nghiệp
và đánh giá phong trào tập thể hóa nông nghiệp.
“Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam” (1991) của Trƣơng
Thị Tiến, Nxb Chính trị quốc gia. Cuốn sách trình bày quá trình hình thành, phát
triển các HTX nông nghiệp, mô hình tổ chức quản lý, quá trình đổi mới cơ chế quản
lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam, rút ra một số kinh nghiệm từ góc độ lịch sử.
“Phá rào” trong kinh tế vào đêm trước đổi mới” (2009) của Đặng Phong,
Nxb Tri thức trình bày từ giải phóng đất nƣớc đến “cởi trói” cho sản xuất, từ xí
nghiệp “xé rào” đến nhà nƣớc sửa đổi “hàng rào”, từ tiểu nông cá thể lên sản xuất
Vĩnh Phúc những năm 60” (2000), của Trần Thị Mỹ Hƣờng, khoa Lịch sử, trƣờng Đại
học Khoa học xã hội và Nhân văn trình bày về chủ trƣơng khoán nông nghiệp của Vĩnh
Phúc những năm 60, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm chủ trƣơng khoán nông nghiệp.
Các công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau nhƣng đều khẳng định
tính đúng đắn, hợp lý của việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, đáp ứng
đƣợc những yêu cầu tình hình kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ cũng nhƣ sự phát triển
của lực lƣợng sản xuất, tạo nên những thay đổi về mọi mặt.
Tuy nhiên, đối với vấn đề đổi mới quản lý HTX nông nghiệp Vĩnh Phú của
Đảng bô ̣ tỉnh Vĩnh Phú từ 1968-1986 chƣa có một công trình nghiên cứu riêng biệt
nào mà chủ yếu mới đƣợc đề cập mô ̣t cách khái quát qua các Nghị quyết, các báo cáo
hàng năm của Tỉnh ủy, Ban nông nghiệp tỉnh. Đây là nguồn tài liệu quan trọng, cung
cấ p cơ sở lý luâ ̣n, tƣ liê ̣u và cả nhƣ̃ng gơ ̣i ý khoa ho ̣c để tác giả thƣ̣c hiê ̣n luâ ̣n văn.
3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ các vấn đề thuộc về lý luận và thực tiễn
về hợp tác hóa, tập thể hóa nông nghiệp ở Vĩnh Phú, trong đó vấn đề khoán trong
nông nghiệp là bƣớc đi ban đầu quan trọng. Đề tài cũng làm rõ các bƣớc đi mang
tính phù hợp với điều kiện Vĩnh Phú từ một nền sản xuất nhỏ đi lên xây dựng
CNXH giàu mạnh và văn minh.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài “Sự chỉ đạo đổi mới quản lý HTX nông nghiệp của Đảng bộ
tỉnh Vĩnh Phú từ năm 1968 đến năm 1986” hƣớng đến giải quyết những nhiệm vụ:
Thứ nhất, hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến đề tài bao gồm các chủ
trƣơng, chính sách của Đảng và Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú về đổi mới quản lý HTX
nông nghiệp, các báo cáo của các cấp, các ngành có liên quan đến quản lý HTX
nông nghiệp Vĩnh Phú.
Chí Minh mà chủ yếu là phép duy vật biện chứng và dựa trên cả những chủ trƣơng,
đƣờng lối phát triển HTX nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh
Vĩnh Phú. Bên cạnh đó, còn có những quan điểm của các nhà nghiên cứu về HTX
trong và ngoài nƣớc.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng chủ yếu phƣơng pháp lịch sử và phƣơng pháp lôgíc , ngoài
ra còn sử dụng ph ƣơng pháp đố i chiế u , phân tích, phê phán, so sánh, tổng hợp để
làm sáng tỏ vấn đề luận văn cần trình bày.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn hê ̣ thố ng hóa những chủ trƣơng , chính sách của Đảng Cộng sản
Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú về đổi mới quản lý HTX nông nghiệp những
năm 1968 đến 1986.
- Trên cơ sở các nguồ n tƣ liê ̣u lich
̣ sƣ̉, đặc biệt là nguồn tƣ liệu gốc, luận văn đã
trình bày quá trình Đảng bô ̣ tỉnh Vĩnh Phú chỉ đạo đổi mới quản lý HTX nông nghiệp
và nêu những nhận xét cùng một số bài học kinh nghiệm của Đảng bô ̣ tin
̉ h trong đổi
mới quản lý HTX nông nghiệp nhƣ̃ng năm 1968-1986.
- Thông qua nghiên cứu đề tài này, bƣớc đầu làm sáng rõ một số vấn đề về lý
luận và thực tiễn hình thành một cơ chế quản lý nông nghiệp thích hợp của Việt
5
Nam trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH; hơn nữa, làm rõ tính chủ động, sáng tạo
của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú trong công cuộc đổi mới quản lý HTX nông nghiệp
những năm 1968-1986. Đây là cuộc đấu tranh gay gắt giữa sáng tạo và giáo điều
trong nỗ lực vì con đƣờng hợp tác hóa nông nghiệp.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
gốc chế độ bóc lột, chặn đứng con đƣờng phát triển tự phát của CNTB ở nông thôn,
xây dựng cơ sở để tiến hành công nghiệp hóa XHCN, củng cố khối liên minh công
nông trong thời kỳ lịch sử mới, Đảng quyết định tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp
trên toàn miền Bắc coi đó là khâu then chốt trong toàn bộ công cuộc cải tạo XHCN.
Đứng trƣớc một sự nghiệp mới mẻ, phức tạp, quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với
phong trào hợp tác hóa là thận trọng, tiến hành từng bƣớc, từ thấp đến cao. Nhƣng
khi chủ trƣơng hợp tác hóa đƣa vào thực hiện đã đƣợc các tổ chức Đảng, chính
quyền địa phƣơng nhận thức, triển khai với một khí thế cách mạng đặc biệt, phong
trào hợp tác hóa nông nghiệp phát triển với tốc độ không ngờ. Sự phát triển ồ ạt với
7
một số lƣợng HTX nông nghiệp lớn hơn nhiều so với dự tính làm cho Hội nghị Ban
Chấp hành Trung ƣơng tháng 11 năm 1958 đi đến kết luận: “Hợp tác hoá là yêu cầu
phát triển khách quan của nông nghiệp và nông dân, là một nhiệm vụ kinh tế và
chính trị cǎn bản của Đảng ta trong cuộc cách mạng XHCN”. [25, tr.528]
Tháng 4 năm 1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ƣơng 16 (khóa 2), đã phân
tích toàn diện tình hình nông thôn miền Bắc và xây dựng những tƣ tƣởng cơ bản về
đƣờng lối hợp tác hóa nông nghiệp của Đảng. Hội nghị nhận định ở nông thôn miền
Bắc vào cuối những năm thập kỷ 50 có hai mâu thuẫn: Mâu thuẫn thứ nhất là giữa
hợp tác hóa với những thế lực ngăn cản nó, thể hiện chủ yếu là mẫu thuẫn giữa hai
con đƣờng; mâu thuẫn giữa tập thể với cá thể, xét cho cùng là mâu thuẫn giữa sức
sản xuất và quan hệ sản xuất. Mâu thuẫn thứ hai là giữa yêu cầu tăng năng suất lao
động và kỹ thuật lạc hậu. Từ đó, Hội nghị rút ra kết luận kiên quyết đƣa nông dân đi
vào làm ăn tập thể chính là biện pháp hữu hiệu để giải quyết những mâu thuẫn đó.
Hội nghị thảo luận về hình thức, bƣớc đi, nguyên tắc công hữu hóa tƣ liệu sản
xuất; tiêu chí đánh giá tính chất XHCN đƣợc nêu lên là tổ đổi công - mầm mống
XHCN, HTX bậc thấp - nửa XHCN, HTX bậc cao - hoàn toàn XHCN. Hội nghị
cũng nêu nguyên tắc quản lý tập trung, phân phối thống nhất, quy định về trích lập
họp. Đây là Đại hội xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nƣớc nhà.
Đại hội khẳng định cách mạng XHCN là một cuộc cách mạng triệt để nhất và sâu
sắc nhất trong lịch sử loài ngƣời. Xóa bỏ chế độ tƣ hữu về tƣ liệu sản xuất, xóa bỏ
bóc lột và giai cấp bóc lột, thực hiện chế độ công hữu về tƣ liệu sản xuất, mở đƣờng
cho sức sản xuất từ trình độ lạc hậu tiến lên trình độ hiện đại, do đó mà phát triển
sản xuất đến cao độ, làm cho nhân dân lao động vĩnh viễn thoát khỏi cảnh nghèo
đói. Không những là một cuộc cách mạng triệt để về kinh tế, chính trị mà còn là
một cuộc cách mạng triệt để về tƣ tƣởng, văn hóa và kỹ thuật. Báo cáo cũng trình
bày đƣờng lối cách mạng XHCN ở miền Bắc là:
Công cuộc cách mạng XHCN ở miền Bắc phải là một quá trình cải biến cách
mạng về mọi mặt nhằm đƣa miền Bắc từ nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu
cá thể về tƣ liệu sản xuất tiến lên nền kinh tế XHCN dựa trên sở hữu toàn dân
và sở hữu tập thể, từ chế độ sản xuất nhỏ tiến lên chế độ sản xuất lớn XHCN,
từ tình trạng kinh tế rời rạc và lạc hậu, xây dựng thành một nền kinh tế cân đối
và hiện đại. [26, tr.455]
9
Báo cáo cũng đề ra nhiệm vụ và phƣơng hƣớng của kế hoạch 5 năm lần thứ
nhất (1961-1965) về hợp tác hóa nông nghiệp mục tiêu là hoàn thành cải tạo quan
hệ sản xuất trong nông nghiệp, hoàn thành việc hợp tác hóa ở bậc thấp, đƣa toàn bộ
các HTX bậc thấp lên bậc cao, và thống nhất các HTX bậc cao quy mô nhỏ thành
những HTX lớn.
Bƣớc vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) đồng thời với nhiệm vụ
xây dựng bƣớc đầu cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH, Đảng và Nhà nƣớc hết sức
quan tâm củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất mới đã đƣợc xác lập, đặc biệt là trên
địa bàn nông thôn. Ngày 27-1-1961, Bộ Chính trị (khóa III) đã ra nghị quyết chỉ đạo
nhằm tăng cƣờng củng cố HTX nông nghiệp nêu ra ba việc phải tập trung giải
quyết: củng cố HTX, mở rộng quy mô HTX, phát triển sản xuất nông nghiệp toàn
những tiền đề kinh tế. Phong trào phát triển nhanh chóng và đạt đƣợc thành tựu lớn,
đến năm 1965 phong trào hợp tác hóa đã thu hút 90,3% số hộ nông dân miền Bắc,
gần 80% số hộ nông dân đã đi theo con đƣờng làm ăn tập thể ở miền núi. Tuy
nhiên, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp vẫn chƣa đạt đƣợc mục tiêu xóa bỏ tận
gốc chế độ bóc lột, chặn đứng con đƣờng phát triển tự phát của CNTB ở nông thôn,
bƣớc đầu xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH, chƣa xây dựng đƣợc miền
tin vững chắc đối với nông dân. Phong trào hợp tác hóa còn tồn tại nhiều hạn chế,
xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau.
Trong những năm 1968-1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc của nhân
dân ta diễn ra quyết liệt trên cả hai miền đất nƣớc: Miền Nam đấu tranh chống lại
chiến lƣợc “Chiến tranh cục bộ” và chiến lƣợc “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế
quốc Mỹ. Miền Bắc chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất và
cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, tiếp tục xây dựng CNXH,
làm nghĩa vụ hậu phƣơng. Trƣớc cục diện mới và yêu cầu mới của sự nghiệp chống
Mỹ cứu nƣớc, miền Bắc phải ra sức khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh
đồng thời khắc phục những mặt yếu kém trong nền kinh tế, sớm chuyển biến tình
hình làm đà cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trƣớc mắt.
Từ năm 1964, đế quốc Mỹ đã huy động một lực lƣợng lớn không quân, hải
quân đánh phá miền Bắc nhằm tiêu diệt tiềm lực kinh tế, quốc phòng của miền Bắc,
chặn đứng sự chi viện từ hậu phƣơng lớn vào tiền tuyến lớn miền Nam. Để đối phó
và đánh bại chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, Hội nghị Ban Chấp
11
hành Trung ƣơng 11,12 (năm 1965) đã quyết định chuyển hƣớng về tƣ tƣởng, tổ
chức, kinh tế, quốc phòng, tiếp tục xây dựng nhà nƣớc XHCN khi cả nƣớc có chiến
tranh và Miền Bắc phải vừa xây dựng kinh tế vừa phòng thủ chiến tranh, luôn giữ
vai trò là hậu phƣơng lớn đối với miền Nam. Để thực hiện nhiệm vụ ấy, Miền Bắc
phải tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật vòng hai.
một bƣớc chuyển biến căn bản trong đời sống kinh tế - xã hội ở hậu phƣơng miền Bắc.
Đầu năm 1971, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ƣơng 19 (khóa III) đề ra chủ trƣơng tổ
chức lại sản xuất đƣa nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn XHCN đã khẳng định:
Ở nƣớc ta vốn chƣa trải qua thời kỳ phát triển tƣ bản chủ nghĩa, đấu tranh giữa
hai con đƣờng chủ yếu là đấu tranh giữa hai khả năng phát triển của sản xuất
nhỏ: sẽ đi lên CNTB hay sẽ đi lên CNXH? Vì vậy, trên mặt trận kinh tế, vấn
đề cơ bản nhất đối với chúng ta là đấu tranh đƣa sản xuất nhỏ cá thể lên sản
xuất lớn XHCN. [29, tr.109]
Tháng 1-1974, Trung ƣơng Đảng họp Hội nghị 22 khẳng định và cụ thể hóa một
bƣớc chủ trƣơng tổ chức lại sản xuất đƣa nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn XHCN. Hội
nghị nhấn mạnh sự cần thiết phải chấn chỉnh và tăng cƣờng hoạt động của HTX, có kế
hoạch chuẩn bị mở rộng quy mô HTX một cách hợp lý, có lãnh đạo chặt chẽ. Cuối
năm 1974, Ban Bí thƣ Trung ƣơng ra chỉ thị 208-CT/TW nêu rõ những nội dung cơ
bản của việc tổ chức lại sản xuất và cải tiến quản lý nông nghiệp bao gồm vấn đề xây
dựng cấp huyện là cấp thực hiện tiến hành ba cuộc cách mạng ở nông thôn, chủ trƣơng
quy hoạch lại HTX, hƣớng dẫn tiến hành cải tiến quản lý HTX.
Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã đƣa dân tộc ta bƣớc vào kỷ nguyên cả nƣớc
thống nhất đi lên CNXH. Đồng thời với việc tích cực thống nhất đất nƣớc về mặt nhà
nƣớc, Đảng và nhân dân đặc biệt chú trọng xây dựng thống nhất về cơ cấu kinh tế - xã
hội. Miền Bắc vẫn tiếp tục mở rộng cuộc vận động tổ chức lại sản xuất, cải tiến quản lý
nông nghiệp ở các HTX, miền Nam từng bƣớc triển khai công cuộc hợp tác hóa nông
nghiệp. Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng lần thứ 24 (29/9/1975) của Ban Chấp hành
Trung ƣơng Đảng Lao Động Việt Nam khẳng định:
Với thắng lợi rực rỡ mùa Xuân năm 1975, cách mạng Việt Nam đã chuyển
sang giai đoạn mới: Từ chiến tranh chuyển sang hoà bình, từ một nửa nƣớc bị
chủ nghĩa thực dân mới chia cắt và thống trị sang cả nƣớc độc lập và thống
13
14
1.1.2. Tình hình xây dựng, phát triển HTX nông nghiệp ở Vĩnh Phú trước
năm 1968
Trƣớc năm 1968, tỉnh Vĩnh Phú bao gồm hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc.
Quán triệt chủ chƣơng của Đảng, trong những năm 1958-1967, phong trào hợp tác
hóa - tập thể hóa đã diễn ra nhanh chóng trên địa bàn hai tỉnh.
Đối với nông nghiệp, ngay từ năm 1956, Trung ƣơng đã chọn Vĩnh Phúc, Phú
Thọ làm nơi xây dựng HTX nông nghiệp thí điểm để rút kinh nghiệm, chuẩn bị cho
những bƣớc tiếp theo. Trƣớc khi bƣớc vào thực hiện Kế hoạch 3 năm (1958-1960)
cải tạo XHCN đối với nông nghiệp, hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú thọ đã xây dựng thí
điểm đƣợc 18 HTX nông nghiệp bậc thấp với quy mô xóm, công tác xây dựng tổ
đổi công trong nông thôn đƣợc đẩy mạnh. Tính đến đầu năm 1958, tỉnh Vĩnh Phúc
đã xây dựng đƣợc 11.192 tổ đổi công gồm 72.779 hộ, chiếm 66,09% tổng số hộ
nông dân, ở Phú Thọ có 66.211 hộ tham gia tổ đổi công, chiếm 76,6% tổng số hộ
nông dân.[3, tr.40]. Phong trào đổi công trong nông nghiệp ở hai tỉnh đã tạo tiền đề
thuận lợi để thực hiện hợp tác hóa nông nghiệp.
Năm 1958, phong trào hợp tác hóa đƣợc phát động khá rầm rộ ở cả hai tỉnh và
xuất hiện những điển hình tiên tiến nhƣ HTX Lai Sơn (Tam Dƣơng, Vĩnh Phúc),
thôn Nậm Bổng (Cổ Tiết, Phú Thọ). Đến cuối năm 1960, công cuộc cải tạo XHCN
đối với nông nghiệp ở hai tỉnh cơ bản hoàn thành, ở Vĩnh Phúc lập đƣợc 1.350 HTX
gồm 107.944 hộ nông dân, đạt 92,68% tổng số hộ nông dân toàn tỉnh, đƣa 20 HTX
lên bậc cao, gần 100 HTX liên thôn, HTX toàn xã. Ở Phú Thọ đã xây dựng 1.376
HTX, đạt 89,9% tổng số hộ nông dân lao động, có 189 HTX bậc cao, 27 HTX liên
thôn và 11 HTX toàn xã. [3, tr.44]
Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), hai tỉnh tiếp tục thực hiện
cải tạo XHCN đối với nông nghiệp, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới
nhằm đƣa những hộ làm ăn riêng lẻ vào HTX, tập trung củng cố HTX về hai mặt
chất lƣợng quản lý và quy mô HTX và đặc biệt chú ý đến công tác đào tạo cán bộ
Thƣợng (Vĩnh Tƣờng), HTX Đông Xuân (Lập Thạch), HTX số 1,2,3,4 xã Đại Đồng
(Vĩnh Tƣờng).Trên cơ sở sơ kết các điểm làm thử, Tỉnh ủy rút ra một số kết luận:
khoán theo phƣơng pháp mới tận dụng đƣợc lao động, kích thích tính tự giác của
lao động đồng thời có thể áp dụng các chỉ tiêu kỹ thuật vào sản xuất và đã thực hiện
16
đƣợc phân phối sản phẩm tƣơng đối công bằng, hợp lý, khắc phục đƣợc một số tiêu
cực; do vậy, tạo nên động lực đƣa năng suất cây trồng, vật nuôi tăng lên, đời sống
ngƣời lao động sẽ đƣợc cải thiện. Tuy nhiên, khi tiến hành giao khoán cần chú ý
một số điểm nhƣ công tác giáo dục tƣ tƣởng phải làm tốt để ngƣời lao động tự giác
thực hiện, HTX phải nắm chắc lao động, tính toán định mức, chỉ tiêu kỹ thuật và
thanh toán thù lao một cách hợp lý. Tỉnh ủy khẳng định ba khoán và khoán việc cho
hộ, cho lao động là cách làm có hiệu quả rõ rệt, làm chuyển biến tình hình sản xuất
của HTX. Vì thế, ngay trong vụ mùa năm 1966, Tỉnh ủy chỉ đạo triển khai khoán
rộng rãi ở nhiều HTX, một số HTX còn tiến thêm một bƣớc là khoán cả trong chăn
nuôi và một số ngành nghề. Trên cơ sở làm thử ở một số HTX và qua thực tiễn
phong trào, ngày 10-9-1966 Thƣờng vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ra Nghị quyết số 68NQ/TU “Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong HTX hiện nay”.
Nghị quyết đã chỉ ra vị trí, khả năng lao động nông nghiệp của tỉnh là:
Lao động là một trong ba điều kiện cơ bản để tiến hành sản xuất, là vốn quý
không thể thiếu đƣợc. Điều kiện cơ bản quyết định nhất để tăng năng suất lao
động là con ngƣời lao động có kỹ năng, sử dụng đƣợc thành thạo công cụ sản
xuất tiên tiến, có giác ngộ cách mạng, làm việc với thái độ lao động mới.[4, tr.1]
Phƣơng hƣớng, nhiệm vụ chung là phải tạo mọi điều kiện huy động, sử dụng
đƣợc hết và tốt mọi khả năng lao động hiện có. Phải dùng mọi biện pháp để tăng
năng suất lao động trong nông nghiệp, đảm bảo nhiệm vụ trung tâm chính trị và sản
xuất, chiến đấu. Thực hiện hai nhiệm vụ lớn trên Nghị quyết nêu lên sáu nhiệm vụ
cụ thể, trƣớc mắt về quản lý lao động của các HTX, các cấp, các ngành trong đó
nhiệm vụ trọng tâm về ba khoán đƣợc Nghị quyết tập trung làm rõ thêm:
không muốn vƣơn lên thực hiện cái mới.
Nghị quyết “khoán hộ” ra đời từ thang 9-1966 nhƣng việc triển khai thực hiện
ra diện rộng cũng gặp không ít khó khăn, vì vậy, hiệu quả thiết thực của nó mới chỉ
là bƣớc đầu. Từ cuối năm 1967, sau khi đƣợc chấn chỉnh và tăng cƣờng cán bộ về
cơ sở tổ chức triển khai, Nghị quyết 68-NQ/TU về “khoán hộ” của Tỉnh ủy Vĩnh
Phúc đã đƣợc thực hiện sâu rộng hơn và thu đƣợc kết quả tốt hơn trong các HTX.
Tổng kết năm 1967, hai tỉnh có 243 HTX đạt trên 5 tấn thóc/ha cả năm (tăng gấp 4
lần so với năm 1965). Tháng 12 năm 1967, tỉnh Vĩnh Phúc công bố Bảng vàng 6
18
tấn: xã Ngũ Kiên, Tuân Chính, Vân Hội, Tam Phúc, Yên Phƣơng, Cao Đại và
Nguyệt Đức. Bảng vàng 7 tấn: Thọ Trƣng, Thôn Thƣợng, Cao Bình và Phù Lập
(Vĩnh Phúc), HTX Phƣợng Lâu, Đồng Lực (Phú Thọ). Sản lƣợng lƣơng thực quy ra
thóc năm 1967 đạt 409.528 tấn so với năm 1966 tăng 29.007 tấn, chăn nuôi phát
triển tốt [3, tr.133]. Nông nghiệp đƣợc mùa, đời sống nhân dân tuy còn khó khăn
nhƣng đã ổn định hơn trƣớc, các nghĩa vụ đối với Nhà nƣớc đều đƣợc hoàn thành
chỉ tiêu. Nguyên nhân nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc đƣợc mùa vào năm 1967 có
nhiều, trong đó việc thực hiện “khoán hộ” bƣớc đầu đạt đƣợc những thành quả nhất
định, góp phần nâng cao năng suất.
Tình hình HTX nông nghiệp hai tỉnh trƣớc năm 1968 trải qua nhiều bƣớc khác
nhau, bên cạnh những thành tựu đạt đƣợc vẫn còn những hạn chế nhất định không
thể tránh khỏi. Từ thực tế phong trào hợp tác hóa - tập thể hóa của hai tỉnh trƣớc
năm 1968 để lại những kinh nghiệm, bài học thiết thực cho công tác củng cố, phát
triển HTX nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phú những năm 1968-1986.
1.2. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú chỉ đạo quản lý HTX nông nghiệp
1.2.1. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú chấn chỉnh công tác ba khoán và quản lý
ruộng đất trong HTX nông nghiệp (1968-1970)
Ngày 26-1-1968, Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 504/NQ-QH
2- Quản lý lao động là sử dụng lao động hợp lý, định chế độ công điểm, định
mức lao động đúng chính sách, đẩy mạnh khoán việc cho nhóm, cho lao động làm đòn
bẩy tăng hiệu suất và tăng năng suất lao động để phát triển nông nghiệp toàn diện.
3- Quản lý tiền vốn và vật tư để thực hiện huy động và sử dụng vốn đúng hƣớng,
tập trung vào những khâu chính nhằm thâm canh và tái sản xuất mở rộng làm cho của
cải vật chất của tập thể ngày càng tăng; kiện toàn sổ sách theo đúng chế độ, nguyên tắc;
thực hiện tài chính công khai, đảm bảo quyền làm chủ của xã viên.
4 - Quản lý dân chủ từ khâu sản xuất đến khâu chi tiêu, thu hoạch phân phối theo
chế độ quản lý dân chủ trong nội bộ HTX nông nghiệp.
Củng cố và tăng cƣờng phát huy cơ sở vật chất kỹ thuật, đẩy mạnh phong trào cải
tiến kỹ thuật, thực hiện các biện pháp thâm canh để phát triển sản xuất và tăng năng
suất cây trồng và gia súc.
20
Bồi dƣỡng, đào tạo cán bộ, nâng cao trình độ quản lý kinh tế tập thể và nghiệp vụ
kỹ thuật quản lý đáp ứng với yêu cầu phát triển của phong trào.
Sửa chữa và nghiên cứu thống nhất việc chấp hành các chế độ, chính sách trong
nội bộ HTX nông nghiệp cho phù hợp với tình hình nhằm khuyến khích lao động sản
xuất và tăng cƣờng đoàn kết nội bộ. Tiếp tục làm cuộc vận động cải tiến quản lý
HTX trong những huyện chƣa làm xong.
Tháng 10-1968, Tỉnh ủy ra Nghị quyết số 14-NQ/TU “Về phương hướng phát
triển kinh tế và triển khai một số nhiệm vụ lớn trong năm 1969”. Phƣơng hƣớng
tổng quát đƣợc xác định là:
Ra sức phát triển mạnh mẽ kinh tế địa phƣơng, vừa tích cực phát triển nông
nghiệp toàn diện theo hƣớng thâm canh, vừa chú trọng phát triển nhanh hơn
công nghiệp địa phƣơng, cung cấp ngày càng nhiều lƣơng thực, thực phẩm,
trâu bò cày kéo, nguyên liệu cho công nghiệp và hàng xuất khẩu cho Nhà
nƣớc, tích cực cải thiện đời sống của nhân dân trong tỉnh. [5, tr.394]