Bộ
BỌGIÁO
GIÁODỤC
DỤCVÀ
VÀĐÀO
DÀOTẠO
TẠO
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ LÊ
NGUYỄN THỊ LÊ
MỘT SÓ BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ TRONG
DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG
MỘT só BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ TRONG
TRƯNG HỌC PHỔ THÔNG
DẠY HỌC HÓA HỌC ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHÕ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Cao Cự Giác
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU......................................................................................................................8
1.
Lí do chọn đề tài.............................................................................................................. 9
2.
Lịch sử vấn đề............................................................................................................... 9
3.
Mục đích nghiên cứu................................................................................................... 10
4.
Nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................................. 11
5.
Khách thể và đối Lrợng nghiên cứu ......................................................................... 11
6.
Phuơng pháp nghiên cứu............................................................................................ 11
7.
hiệu đảnh giả tư duy phát triến...................................................................................... 34
1.2.10.........................................................................................................................................Moi
quan hệ giữa hứng thủ và tư duy................................................................................... 35
1.3. Thực trạng của việc gây húng thú trong dạy học hóa học ở trường THPT....35
1.3.1 . Mục đích điều tra.............................................................................................................. 35
1.3.2...........................................................................................................................................Nội
dung điều tra................................................................................................................. 35
1.3.3...........................................................................................................................................Đoi
tượng điều tra................................................................................................................ 35
1.3.4....................................................................................................................Phưong pháp điều tra
........................................................................................................................................ 35
1.3.5.............................................................................................................................Kết quả điều tra
........................................................................................................................................ 36
TIỂU KÉT CHƯƠNG 1 ...............................................................................................39
CHƯƠNG 2: MỘT SÓ BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ TRONG DẠY HỌC
HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG.......................................................................40
2.1. Các biện pháp gây húng thú trong dạy học hóa học.........................................40
2.1.1.............................................................Gây hứng thủ bằng cách sử dụng phương pháp dạy học
........................................................................................................................................ 40
2.1.2........................................................Gây hứng thủ bằng cách sử dụng các phương tiện dạy học.
........................................................................................................................................ 50
2.1.3....................................................................Gây hứng thủ bằng cách khai thác các yếu to tâm lí
........................................................................................................................................ 71
2.1.4....................................................Gây hứng thủ bằng cách liên hệ kiến thức hỏa học với thực tế
...................................................................................................................................... 104
2.1.5..................................................................Gây hứng thủ bằng cách sử dụng các bài tập hỏa học
....................................................................................................................................... 142
hoạch bồi dưỡng thế hệ trẻ từ những ngày còn trên ghế nhà trường, khi mà người học
vừa mới tiếp cận với kiến thức khoa học cơ bản và quan trọng hơn cả là phải đổi mới
tư duy dạy học.
Có thể nói dạy và học ngày nay về cơ bản là dạy cách tư duy, học cách tư duy.
Mục đích cao nhất của việc dạy học là phát triển tư duy cho người học. Kiến thức lâu
ngày có thê quên (khi cần có thẻ đọc sách), cái còn lại là năng lực tư duy. Nhà Vật lý
nổi tiếng N.I.Sue nói: “Giáo dục - đó là cái được giữ lại khi mà tất cả những điều học
thuộc đã quên đi”. Khổng Tử, nhà Triết học cố đại của Trung Quốc đã rất coi trọng
việc dạy tư duy. Ông nói “Vật có bốn góc, dạy cho biết một góc mà không suy ra ba
góc kia thì không dạy nữa”.
Như vậy, mặc dù vai trò của người học được nâng cao, giáo dục đòi hỏi người
học phải là cá nhân tích cực, chủ động sáng tạo trong quá trình học, nhưng vai trò và
nhiệm vụ của người thầy trong thời đại ngày nay không hề mờ nhạt mà còn được coi
trọng hơn và đòi hỏi cũng cao hơn trước đây. Trong “Thư gửi các thầy giáo, cô giáo,
các bậc cha mẹ và các em học sinh, sinh viên nhân ngày nhà giáo Việt Nam 20-112007”, bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo - PGS.TS Nguyễn Thiện Nhân đã nhắn nhủ:
“Trong thế kỷ 21 của hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, của xã hội thông tin và kinh tế
tri thức, thời gian là tài nguyên vô giá, không tái tạo được... Hãy làm sao mỗi giờ các
em tới trường là một giờ khám phá, nhận thức được nhanh, sâu sắc thế giới tự nhiên,
8
chương trình, mà còn phải mở rộng, nâng cao cho người học tiếp cận với các vấn đề
khoa học theo nhiều khía cạnh khác nhau, đặt ra các tình huống có vấn đề đòi hỏi
người học phải tư duy để giải quyết và tỉm ra các tri thức mới, giúp các em tìm được
hứng thú trong học tập. Từ đó, các em có thể tự tìm hiểu những điều mới lạ của cuộc
sống và thế giới xung quanh cho mình.
Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, có vai trò quan trọng trong cuộc sống và
cần thiết đối với các ngành khoa học khác. Kho tàng kiến thức hóa học là vô cùng to
lớn và ngày càng được mở rộng cùng với sự phát triển của nhân loại. Vì thế, nhiệm vụ
của mỗi giáo viên hóa học càng nặng nề hơn khi gánh trên vai trọng trách “trồng
phạm TP HCM (năm 2000).
- Khóa luận tốt nghiệp: “Tạo hứng thủ học tập môn hóa học cho học sinh ở
trường phô thông” của sinh viên Phan Thị Ngọc Bích — khoa Hóa học - Đại học Sư
phạm TP HCM (năm 2003).
- Khóa luận tốt nghiệp: “Thiết kế một so hoạt động dạy học gây hứng thủ nhận
thức trong môn hóa học lóp 10” của sinh viên Tô Quốc Anh - khoa Hóa học - Đại học
Sư phạm TP HCM (năm 2007).
Và một số đề tài khoa học khác...
Trong các tài liệu trên đã trình bày được cơ sở lý luận về hứng thú và thực trạng
của việc gây hứng thú trong dạy học hóa học. Các tác giả đã xây dựng và sưu tầm được
một số biện pháp gây hímg thú trong dạy học hóa học. Tuy nhiên, hầu hết các tài liệu
đều sử dụng phương tiện dạy học là chủ yếu và mang tính sưu tầm, chưa có sự sáng tạo
của riêng mình, các biện pháp gây hứng thú còn giới hạn. Có một số tài liệu còn sơ sài,
nội dung chủ yếu tập trung vào phần lý luận chưa đi sâu vào nội dung chính của đề tài,
chưa thật sự bám sát chương trình sách giáo khoa, chưa áp dụng các biện pháp gây
hứng thú vào quá trình dạy học cụ thế, hầu hết các tài liệu đều không đưa ra giáo án
thực nghiệm của đề tài.
3.
Mục đích nghiên cứu
10
- Vận dụng một số biện pháp gây hứng thú vào quá trình dạy học hóa học nhằm
nâng cao hiệu quả dạy học.
Nhiệm vụ nghiên cứu
11
- Thăm dò ý kiến của học sinh về hứng thú học tập môn hóa học.
- Thông qua TNSP đánh giá chất lượng và hiệu quả hệ thống kiến thức, kế
hoạch giảng dạy đã xây dựng nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh, sau đó sử dụng
phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục đế xử lí kết quả TNSP.
7.
Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học nếu giáo viên vận dụng một cách hợp lí các biện pháp
gây hứng thú học tập cho học sinh thì sẽ góp phần:
- Đem lại niềm vui, hứng thú vr kết quả học tập tốt cho học sinh
- Giúp học sinh nhớ được các kiến thức hóa học một cách dễ dàng
- Phát huy tính tích cực tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh
- Hình thành cho học sinh phương pháp tự học, tự rèn luyện kĩ năng, vận dụng
kiến thức vào thực tiễn.
8.
a)
Dóng góp mới của đề tài
về mặt ỉỷ luận
- Hoàn thiện hơn khái niệm tư duy và hứng thú học tập thông qua quá trình đào
tạo và quan điểm tiếp cận hệ thống.
hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, nó phản ánh một cách khách quan thái độ
đang tồn tại ở con người. Khái niệm hứng thú được xét dưới nhiều khái cạnh khác nhau
như:
Theo khía cạnh nhận thức:
- V.N.Miasixep, V.G.Ivanôp, A.Gackhipop coi hứng thú là thái độ nhận thức tích
của cá nhân với những đối tượng trong hiện thực khách quan.
- A.A.Luiblinxcaia đã khẳng định hứng thú là thái độ nhận thức, thái độ khao
khát đi sâu vào một khía cạnh nhất định của thế giới xung quanh.
- P.A.Rudich coi hứng thú là sự hiểu biết của xu hướng đặc biệt trong sự nhận
thức thế giới khách quan, là thiên hướng tương đối ốn định với một loại hoạt động nhất
định.
Theo sự lựa chọn của cả nhân đoi với thế giới khách quan
- X.L.Rubinstêin đưa ra tính chất hai chiều trong mối quan hệ tác động qua lại
giữa đối tượng với chủ thể. Nếu như một vật nào đó mà tôi chú ý có nghĩa là vật đó rất
thích thú đối với tôi.
- A.N.Lêônchiev cũng xem hứng thú là thái độ nhận thức nhưng đó là thái độ
nhận thức đặc biệt của chủ thế đối với đối tượng hoặc hiện tượng của thế giới khách
quan.
- P.A.Dudich cho rằng hứng thú là biêu hiện xu hướng đặc biệt của cá nhân
nhằm nhận thức những hiện tượng nhất định của cuộc sống xung quanh, đồng thời biêu
hiện thiên hướng tương đối ốn định của con người đối với các hoạt động nhất định.
- A.V.Daparôzét coi hímg thú là khuynh hướng lựa chọn của sự chú ý. Ông đưa
ra khái niệm “Hứng thú là khuynh hướng chú ý tới đối tượng nhất định là nguyên vọng
14
cá nhân nhưng nó không phải chính là bản thân nhu cầu. Vì nhu cầu là những đòi hỏi
tất yếu cần được thỏa mãn, là cái con người ta cần, nhưng không phải mọi cái đều đem
lại hứng thú. Quan điểm này đã đem bó hẹp khái niệm hứng thú chỉ trong phạm vi với
nhu cầu.
sự thích thú được thỏa mãn với đối tượng.
- Theo Đại Từ điến Tiếng Việt [40, tr.761], hứng thú có hai nghĩa: “Biếu hiện
của một nhu cầu, làm cho chủ thể tìm cách thỏa mãn, tạo ra sự khoái cảm, thích thú và
huy động sinh lực để cố gắng thực hiện” và “sự ham thích”.
Qua các tài liệu ở trên, chúng ta có thê quan niệm rằng hứng thú là thái độ của
cá nhân đối với một đối tượng hay quá trình nào đó đã đem lại những khoái cảm, thích
thú và kích thích mạnh mẽ đến tính tích cực cá nhân đòi hỏi có thẻ huy động sinh lực
một cách trợn vẹn để thực hiện. Gây hứng thú trong dạy học là quá trình người giáo
viên tác động vào nội dung học tập, môi trường giúp học sinh thích thú, quan tâm đến
chúng từ đó ham thích tìm hiểu đê tự bố sung kiến thức, nâng cao trình độ. Việc làm
này là một điều rất quan trọng, nó góp phần giúp cho quá trình dạy học và học đạt hiệu
quả cao.
1.1.2.
Biểu hiện của húng thủ
Có khá nhiều quan niệm khác nhau về những biếu hiện của hứng thú.
- về mức độ của hứng thú: Có 2 mức độ
16
- về chiều rộng chiều sâu của hứng thú: Những người có hứng thú với nhiều đối
tượng khác nhau, nhiều lĩnh vực khác nhau thường có cuộc sống hời hạt, bề ngoài.
Những người chỉ tập trung hứng thú vào một hoặc một vài đối tượng thì cuộc sống
thường đơn điệu. Trong thực tế, những người thành đạt là những người biết giới hạn
hứng thú của mình trong phạm vi hợp lý, trên nền những hứng thú khác, họ xác định
được một hoặc một số hứng thú trung tâm mang lại ý nghĩa thúc đấy con người hoạt
động.
- Theo Phạm Tất Dong cho rằng hứng thú biểu hiện ở các khía cạnh sau:
+ Khuynh hướng của con người đối với hoạt động liên quan tới đối tượng của
+ Phát triển mạnh mẽ và thể hiện rõ nét những năng lực thuộc lĩnh vực nhận thức
như năng lực quan sát năng lực tư duy, năng lực so sánh, năng lực tổng họp, năng lực
phân tích, năng lực khái quát hóa - trừu tượng hóa,...
18
1.1.3.
Cấu trúc của húng thủ
Tiến sĩ tâm lý học N.G.Mavôzôva đã đưa ra quan niệm của mình về cấu trúc của
hứng thú gồm 3 yếu tố đặc trưng:
+ Cá nhân nhận thức được đối tượng đã gây ra hứng thú.
+ Có cảm xúc sâu sắc với đối tượng gây ra hứng thú.
+ Cá nhân tiến hành những hoạt động đế vươn tới chiếm lĩnh đối tượng đó.
Hứng thú liên quan đến việc người đó có xúc cảm thực sự với đối tượng chiếm
lĩnh, có niềm vui tìm hiểu và nhận thức đối tượng, có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản
thân hoạt động, tự nó lôi cuốn, kích thích hứng thú. Ngoài ra, những động cơ khác
không trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động chỉ có tác động hỗ trợ cho sự nảy sinh
và duy trì hứng thú chứ không xác định bản chất hứng thú. Nhưng nếu chỉ nói đến mặt
nhận thức thì mới chỉ là hiểu biết của con người đối với đối tượng. Còn khi nói đến
hành vi là chỉ đề cập đến hình thức biếu hiện bên ngoài, không thấy được xúc cảm, tình
cảm của họ với đối tượng đó, có nghĩa là nội dung tâm lý của hứng thú tiềm ẩm bên
trong.
Hứng thú phải là sự kết hợp giữa nhận thức, xúc cảm tích cực và hành động,
nghĩa là có sự kết hợp giữa sự hiểu biết về đối tượng với sự thích thú với đối tượng và
tình tích cực hoạt động với đối tượng. Bất kỳ những hứng thú nào cũng là thái độ cảm
xúc tích của chủ thê với đối tượng. Nó là sự thích thú với bản thân đối tượng và với
hoạt động với đối tượng. Nhận thức luôn là tiền đề là cơ sở cho việc hình thành thái độ.
Vậy ba yếu tố nói trên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong cấu trúc hứng thú
thể hiện mặt tích cực để nhận thức sâu hơn đối tượng, làm chủ đối tượng và hoạt động
sáng tạo trong lĩnh vực mình hấp thụ.
+ Hímg thú chủ động (hứng thú tích cực): Là loại hứng thú khiến chủ thể
không những chỉ dừng lại ở chiêm ngưỡng đối tượng gây nên hứng thú mà còn lao vào
hoạt động với mục đích chiếm lĩnh được đối tượng. Đây là một trong những nguồn
20
Trong cuộc sống cá nhân đòi hỏi có những hứng thú rộng và hứng thú hẹp. Nếu
chỉ có hứng thú hẹp thì nhân cách của họ sẽ không toàn diện, nhưng chỉ có hứng thú
rộng thì sự phát triển nhân cách sẽ hời hợt thiếu sự sâu sắc.
1.1.4.4.
Căn cứ vào chiều sâu của hứng thủ: Chia ra làm 2 loại:
+ Hứng thú sâu sắc: Thường thê hiện thái độ thận trọng có trách nhiệm với
hoạt động, công việc. Cá nhân mong muốn đi sâu vào đối tượng nhận thức, đi sâu nắm
vững đến mức hoàn hảo đối tượng của mình.
+ Hứng thú hời hợt bên ngoài: Đây là những ngưừi qua loa đại khái trong
quá trình nhận thức, trong thực tiễn họ là những người nhẹ dạ nông nỗi.
1.1.4.5.
Căn cứ vào tỉnh bền vững của hứng thú: Chia ra làm 2 loại:
+ Hímg thú bền vững: Thường gắn liền với năng lực cao và sự nhận thức sâu
sắc nghĩa vụ, thiên hướng của mình.
+ Hứng thú không bền vững: Thường bắt nguồn từ nhận thức hời hợt đối
tượng hứng thú.
1.1.4.6.
và trong hoạt động phong phú của con người. Những yếu tố này tham gia vào những
quan hệ và hên hệ tương hỗ phức tạp với nhu cầu. Mối liên hệ giữa nhu cầu và hứng
thú trong một lĩnh vực như hoạt động nhận thức của con người lại càng đặc biệt và
nhiều vẻ. Hình thức hứng thú nhận thức đầu tiên là tò mò, đó là sự phản ứng lại với
hoàn cảnh thay đổi, với sự xuất hiện cái mới ngoài ngoại giới. Sau đó, tính ham hiểu
biết xuất hiện, đây chính là hình thức hiệu nghiệm của biêu hiện hứng thú nhận thức.
Hứng thú nhận thức có những đặc điếm của nhu cầu tinh thần ở mức cao khi mà cá
nhân luôn có những hoạt động tìm tòi, đứng ngồi không yên nếu nguyên vọng hiểu biết
của mình chưa được thỏa mãn. Tác giả Su-ki-na đã nhấn mạnh “Khát khao nhận thức
là nhu cầu bên trong của con người. Con người muốn đưa thế giới xung quanh đến sự
hiểu biết, xu thế của mình” [23, tr.45].
1.1.5.3.
Hứng thủ nhận thức ỉ à động cơ của hoạt động học tập
Trong quá trình dạy học, hứng thú nhận thức được coi là động cơ của hoạt động
học tập. Có thể hiểu, động cơ chính là sức hấp dẫn, lôi cuốn của đối tượng mà cá nhân
22
chung hay động cơ học tập nói riêng thì trước hết phải có đối tượng ở bên ngoài chủ
thể, có giá trị đối với chủ thể và làm nảy sinh ở chủ thể nhu cầu chiếm lĩnh nó. Khi nhu
cầu chiếm lĩnh đối tượng đó được cá nhân ý thức, sẽ trở thành động cơ thúc đẩy, định
hướng và duy trì hành động. Trong quá trình dạy học, hímg thú luôn luôn có đối tượng
của mình, trong đó thể hiện rõ nét xu hướng ở một lĩnh vực bộ môn xác định mà học
sinh muốn ngày một hiểu biết sâu sắc bộ môn đó.
1.1.5.4.
Hứng thủ là một phưong tiện dạy học
tôi rút ra một số quy luật của việc gây hứng thú trong dạy học sau:
1.1.6.1.
Sự hứng thủ phụ thuộc vào khả năng tiếp thu và những đặc điếm riêng của mỗi
học sinh
Việc hình thành hứng thú bị quy định bởi môi trường xã hội xung quanh chứ
không phải là quá trình tự phát triển bên trong của bản thân mỗi cá nhân. Khi giáo viên
khơi dậy sự hứng thú của học sinh trong lớp học, không phải tất cả các em đều hình
thành hứng thú giống như nhau về cùng vấn đề đó. Cùng một nội dung, có em cảm
thấy hứng thú, có em chỉ hơi hứng thú mà thôi nhimg cũng có em chang quan, để ý
đến. Tùy theo sở thích, kinh nghiệm và sự phát triên cá nhân mà học sinh có khả năng
tiếp thu vấn đề giáo viên truyền đạt từ đó có thể gây hứng thú cho các em hay không.
Khi học sinh chưa hiểu hoặc đang mơ hồ về vấn đề giáo viên đang trình bày thì các em
không thế hứng thú với nó được. Nếu học sinh hiểu được vấn đề giáo viên trình bày
nhưng vẫn có một số nội dung, thông tin các em thấy hấp dẫn, lôi cuốn mà chưa biết
đến hay chưa giải thích được thì các em sẽ bị kích thích đê tìm hiểu và đưa ra lời giải
cho điều còn thắc mắc đó. Tuy nhiên, học sinh cũng không thê hứng thú với những vấn
đề mà các em đã hiểu rõ. Chính vì vậy, người giáo viên cần phải hiểu học sinh của
mình về trình độ, sở thích và sự phát triển tâm lý lứa tuổi. Từ đó giáo viên có thê khai
thác nội dung bài để gây hứng thú được hầu hết các học sinh trong lớp với nhiều mức
độ khác nhau theo khả năng tiếp thu của các em.
1.1.6.2.
Quá trình húng thủ của học sinh phụ thuộc vào các điều kiện trong đó quả
trình diễn ra
Môi trường học tập tốt thật sự cần thiết đối với học sinh. Khi có các điều kiện
vật chất, vệ sinh, tâm lý đạo đức và thẩm mỹ thích hợp, học sinh dễ dàng tiếp thu bài
học và hứng thú với nội dung hơn. Thật vậy, khi môi trường học tập xung quanh các
em thoáng mát, yên tĩnh, các em có thể tập trung tốt vào bài học và dễ dàng tiếp thu
những nội dung giáo viên trình bày. Điều này sẽ giúp các em hiểu được vấn đề và có
24
tại thời điểm đó. Nhưng quá trình này không kết thúc, hay có thể hiểu là hứng thú của
các em chưa đạt đến được trạng thái bão hòa. Quá trình hứng thú khác lại hình thành,
tiếp tục diễn ra giúp các em tìm đến với những điều kiện mới đế thỏa mãn hứng thú
khác của mình. Điều Iiày rất cần thiết trong hoạt động dạy học, nếu giáo viên giúp học
25
sự hứng thú của mình về những thông tin liên quan đến vấn đề đó. Như vậy, học sinh
sẽ nâng cao tinh thần tự học, ham hiểu biết đẻ mở rộng tri thức.
1.1.7.
Tác dụng của việc gây húng thú trong dạy học hóa học
Hóa học là môn khoa học lý thuyết và thực nghiêm. Kiến thức hóa học rộng lớn
không chỉ bao gồm những quy luật, định luật, học thuyết cơ bản mà còn bao gồm cả
những nội dung thực nghiệm cần học sinh nắm bắt. Gây hứng thú trong dạy học hóa
học tạo nguồn kích thích tới học sinh, từ đó các em thêm say mê tìm hiểu môn hóa học
và đem lại hiệu quả trong việc tìm tòi, tiếp thu kiến thức. Việc gây hứng thú trong dạy
học mang lại một số tác dụng đặc biệt như:
- Là yếu tố cần thiết cho sự phát triển nhân cách, tri thức và nhận thức của học
sinh.
- Làm chỗ dựa cho sự ghi nhớ, cho phép học sinh duy trì sự chú ý thường xuyên
và cao độ vào kiến thức bài học.
- Làm cho hoạt động học trở nên hấp dẫn hơn vì các em được duy trì trạng thái
tỉnh táo cơ thể, giúp học sinh phấn chấn vui cười, học tập lâu mệt mỏi.
- Ảnh hưởng đến tính chất, cường độ, diễn biến, kết quả của dạy và học giúp
cho hiệu quả của hoạt động này được nâng cao.
- Tạo ra và duy trì tính tích cực nhận thức, tích cực hoạt động tiếp thu, tìm hiểu
kiến thức.
đóng vai trò không nhỏ, song không phải quyết định hoàn toàn. Con người có thể quên
đi nhiều sự việc cụ thê mà dựa vào đó những nét tính cách của anh ta được hoàn thiện.
Nhưng nếu những nét tính cách này đạt đến mức cao thì con người có thể giải quyết
được mọi vấn đề phức tạp nhất, điều đó có nghĩa là anh ta đã đạt đến một trình độ tư
27