21
Đó là “Nâng cao chất lượng và mở MỎ
rộng ĐÀU
việc dạy Nghề phổ thông đế giúp cho
học sinh tìm hiểu nghề, làm quen với một số kỹ năng nghề nghiệp. Hoạt động
dạy Nghề phổ thông được giao cho các trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng
nghiệp và cơ sở khác được giao dạy Nghề phổ thông. Những trường THCS và
THPT tố chức 2 buối / ngày phải dành thời gian theo qui định cho học sinh đê
học Nghề phổ thông tại trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp hoặc tại
1. Lý
do thị
chọn
đề đă
tài:đặt dạy nghề phổ thông ở vị trí rất quan trọng trong
trường”.
Chỉ
trên
quá trình giáo dục ở nhà trường, trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo hiện nay.
Trong đó yêu cầu các trường đã tổ chức được dạy Nghề phổ thông thời gian
qua thì phải
tíchsở
cực
rộng và nâng cao hơn trước. [2]
1.1. Cơ
lýmở
luận:
Qua
phân
tích
trên,
lượng lành nghề và sáng tạo, thích ứng được với bước tiến hoá của công nghệ
tổng
hợpgia—vào
Hướng
nghiệp
phải
tíchđang
cực làliên
kếtlựcvới
bố kinh
sungtế”.
cho nhau
và tham
cuộc cách
mạng
trí tuệ
động
củanhau,
các nền
những Đất
điều nước
kiện đặc
trimg
của
đơn
vị
mình
cùng
nhau
thực
thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Trong đó nhân tố
quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và
hội nhập quốc tế là con người, là nguồn nhân lực. Bởi vậy nguồn nhân lực
Việt Nam
được
1.2.phải
Cơ sở
thựcphát
tiễn:triển cả về số lượng và chất lượng (trí lực và thể lực
của con
đápthếứng
cầu phố
lớn thông
lao đó,của
nềnnhiều
giáonước
dục
Dạyngười
Nghề lao
phổđộng).
thông Đe
là xu
màvới
nhàyêu
trường
Việt thế
Namgiới
phảiđang
đặt áp
chodụng
đáphội
ứngvàđược
nhurèncầuluyện
của các
giai kỹ
đoạn
mới.
quan
trọngcơcủa
tự
nhiên,
tư duy
năng
thựcChính
hành tầm
chuẩn
bị các
sở
giáo
dục
nhu
vậy,
Đảng
ta
đã
xác
định
giáo
dục
phải
động
nghề
nghiệp kiến
phù
nghiệp,
chuẩn
nghề bị
chochohọc
sinh thiếu
là chủ
yếu.
trang
bị những
hợp với
chuyển
dịch cơ
cơ bản
cấu giúp
kinh cho
tế trong
cả nước
từng
thức,
kỹ sự
năng
lao động
học sinh
làm và
quen
vớiđịa
coi là nội dung chủ yếu, hoạt động có tính quyết định, quan trọng và bức thiết
mang ý nghĩa thực tại trong giai đoạn hiện nay tại Quận 9. Nhằm nâng cao
chất lượng và hiệu quả của hoạt động dạy Nghề phổ thông nói riêng và sự
nghiệp giáo dục và đào tạo của Quận 9 nói chung.
Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài:
“Một số giải pháp quản lý hoạt động dạy Nghề phổ thông ở các
trường Trung học cơ sở Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh”.
4
2. Mục đích nghiên cứu:
- Đề xuất một số giải pháp quản lý hoạt động dạy Nghề phổ thông nhằm
góp phần nâng cao hiệu quả dạy Nghề phổ thông ở các trường THCS trên địa
bàn Quận 9 trong giai đoạn đối mới.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3.1. Khách the nghiên cứu:
- Việc quản lý hoạt động dạy Nghề phổ thông ở các trường THCS.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu những yêu cầu về công tác quản lý dạy Nghề phổ thông và
những giải pháp quản lý dạy Nghề phố thông hiện nay ở các trường THCS
trên địa bàn Quận 9.
4. Giả thuyết khoa học:
Nếu áp dụng được những giải pháp quản lý dạy Nghề phổ thông được đề
xuất trong đề tài thì sẽ nâng cao chất lượng dạy Nghề phổ thông ở các trường
THCS trên địa bàn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh.
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu:
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quản lý dạy Nghề phổ thông nói
đạo Phòng Giáo dục - Đào tạo phụ trách hoạt động dạy Nghề phổ thông.
Thực hiện một số phiếu điều tra trưng cầu ý kiến đối với cán bộ quản lý
hoạt động dạy Nghề phổ thông ở Phòng Giáo dục - Đào tạo, ở Trung tâm
KTTH - HN và các trường THCS tiêu biểu tại Quận 9.
+ Phương pháp tống kết kinh nghiệm quản lý giáo dục: Lấy lý luận
quản lý hoạt động dạy Nghề phổ thông ra phân tích thực tiễn quản lý hoạt
động dạy Nghề phố thông và từ phân tích thực tiễn quản lý hoạt động dạy
Nghề phố thông rút ra lý luận quản lý hoạt động dạy Nghề phổ thông.
6
+ Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: nghiên cứu các sản
phẩm về hoạt động dạy Nghề phổ thông của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng,
cán bộ quản lý Phòng Giáo dục - Đào tạo, trung tâm Kỹ thuật tổng hợp Hướng nghiệp, giáo viên dạy Nghề phố thông, học sinh học Nghề phổ
thông... từ đó thu thập những thông tin liên quan đến việc quản lý hoạt động
dạy Nghề phổ thông.
+ Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: xin ý kiến của Giáo viên hướng
dẫn đề tài.
6.3. Phuong pháp toán thống kê:
Nhằm xử lý các số liệu sau khi điều tra, trưng cầu ý kiến.
7. Những đóng góp của luận văn:
về mặt lý luận: Hệ thống được cơ sở lý luận của quản lý hoạt động
dạy
Nghề
phố
thông
ở
các
trường
cho học sinh phổ thông.
Trên Thế giới hoạt động giáo dục lao động - hướng nghiệp cho học
sinh có từ hàng trăm năm nay và ngày càng được phát triển.
Vào giữa Thế kỷ thứ XIX (năm 1848), ở Pháp xuất hiện cuốn sách
“Hướng dẫn chọn nghề”. Cuốn sách đề cập tới vấn đề phát triên đa dạng của
nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp và việc nhất thiết phải giúp đỡ
thanh niên trong sự lựa chọn nghề nghiệp nhằm sử dụng có hiệu quả năng lực
lao động của thế hệ trẻ. Người ta thấy rằng, hệ thống nghề nghiệp vào thời
điểm này đã phức tạp, tức là, sự chuyên môn hóa đã đạt tới mức độ cao hơn
hẳn so với giai đoạn sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp.
ơ Mỹ, từ năm 1958 giáo dục hướng nghiệp - dạy nghề đã được đưa
vào cả trường phổ thông trung học lẫn phổ thông cơ sở có dạy nghề, là một
trong những mục tiêu của cải cách giáo dục dạy nghề ở Mỹ.
Những vấn đề hướng dẫn chọn nghề được đặt ra một cách rộng rãi ở
nhiều nước với tính cấp thiết của nó vào những năm đầu thế kỷ XX. Người ta
nhận thấy rằng, đê có sự tuyển chọn đích đáng những người lao động cho nhà
máy, xí nghiệp, cần phải đưa hướng nghiệp vào trường phổ thông. Từ lâu
N.K. Crupxkaia, nhà giáo dục học và tâm lý học lỗi lạc của Liên Xô đã từng
8
nêu lên luận điểm “tự do chọn nghề” cho mỗi thanh thiếu niên. Theo bà,
thông qua hướng nghiệp, mỗi trẻ em đều phải nhận thức sâu sắc hướng phát
triển kinh tế của đất nước, những nhu cầu nào của nền sản xuất cần được thỏa
mãn, những nhiệm vụ mà thanh thiếu niên phải đáp ứng trước yêu cầu mà xã
hội đề ra trong lĩnh vực lao động sản xuất.
Thực tế cho thấy hoạt động giáo dục lao động, kỹ thuật tổng hợp,
hướng nghiệp và dạy nghề đã mang lại nhiều hiệu quả thiết thực cho sự phát
triển tài năng, nhân cách của cá nhân, góp phần nâng cao năng suất lao động
kỹ thuật và hướng nghiệp: nội dung giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính
phố thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống. [24] [25]
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đến Đại hội Đảng lần thứ XI
(2011), các văn kiện đều nhấn mạnh đến tăng cường công tác hướng nghiệp,
đẩy mạnh dạy nghề, chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự nghiệp Công nghiệp hoá,
Hiện đại hoá đất nước, phù hợp với nền kinh tế thị trường nhiều thành phần
theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Việc dạy - học Nghề phố thông giúp học
sinh có những thông tin ban đầu về các nghề trong xã hội thuộc mọi lĩnh vực
công nghiệp, nông - lâm ngư nghiệp, dịch vụ . . . Chính vì lẽ đó, thực hiện
Nghị quyết lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết
40/2000/QH10 của Quốc hội khoá 10 ngày 09 tháng 12 năm 2000, Chỉ thị
14/2001/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới giáo dục phổ thông
ngày 11 tháng 6 năm 2001, Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo đã ban hành
Chỉ thị 33/2003/CT-BGD&ĐT ngày 23 tháng 7 năm 2003 về việc tăng cường
giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, nâng cao chất lượng và mở
rộng việc dạy Nghề phố thông đế giúp học sinh tìm hiểu nghề, làm quen với
một số kỹ năng lao động nghề nghiệp và quy định chương trình nghề phổ
thông với thời lượng 90 tiết/năm học cho học sinh bậc Trung học cơ sở. Năm
2006, theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo hoạt động giáo dục Nghề phổ thông là
10
một trong 4 hoạt động được quy định trong Chương trình giáo dục trung học
là: Giáo dục Quốc phòng an ninh - 35 tiết/năm; Giáo dục ngoài giờ lên lớp 4 tiết/ tháng; Giáo dục Hướng nghiệp - 3 tiết/ tháng; Giáo dục Nghề phổ
thông 2 tiết/ tuần. [2] [3] [23] [12]
Việc nghiên cứu các giải pháp đê nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt
động giáo dục Nghề phổ thông đã được các nhà giáo dục quan tâm bằng nhiều
hoạt động chuyên môn như:
• Quản lý:
Từ khi xã hội loài người xuất hiện, con người đã có sự hợp tác, sự phân
công lao động vào việc tổ chức các hoạt động của mình, nghĩa là nhu cầu
quản lý đã được hình thành. Xã hội ngày càng tiến bộ, nền kinh tế càng phát
triển, khoa học kỹ thuật và công nghệ càng tiên tiến thì hoạt động quản lý và
vai trò của nhà quản lý càng trở nên quan trọng để đảm bảo sự phối hợp hoạt
động nhịp nhàng nhằm mục đích đem lại hiệu quả cao nhất. [9]
Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa
nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ,
nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau. Cùng với
sự phát triển của phương thức xã hội hóa sản xuất và sự mở rộng trong nhận
thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý
càng trở nên rõ rệt. Có nhiều quan điếm khác nhau về khái niệm quản lý, như:
- Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất
định.
- Quản lý là một hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người lao động và
sinh hoạt tập thể nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tập thể.
- Quản lý là sự tổ chức, điều hành, kết hợp vận dụng tri thức với lao động
để phát triển sản xuất, phát triển xã hội. Sự kết hợp đó được thể hiện ở cơ chế,
chế độ chính sách, biện pháp quản lý của giai cấp thống trị và ở nhiều khía
cạnh tâm lý - xã hội.
12
- Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng và
thực hiện một cách sáng tạo các chức năng như kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo,
kiểm tra.
- Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý
(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tố chức
trẻ, là tác động của hệ thống có mục đích đẻ làm cho hệ thống vận hành theo
đúng quy luật, đúng đường lối lãnh đạo.
Quản lý giáo dục thường được thực hiện ở 3 cấp: cấp Trung ương, cấp địa
phương và cấp cơ sở. cấp Trung ương và cấp chính quyền địa phương tỉnh,
thành phố được gọi chung là cao cấp. cấp ngành ở tỉnh và thành phố và cấp
chính quyền quận, huyện gợi là cấp trung và cấp trường là cấp cơ sở. ơ cấp
quản lý nào cũng có cả quản lý vĩ mô và quản lý vi mô. Đối tượng của quản
lý giáo dục vĩ mô là những yếu tố ảnh hưởng đến toàn cục, đến toàn bộ hệ
thống giáo dục. Đối tượng của quản lý giáo dục vi mô là những yếu tố chỉ ảnh
hưởng cục bộ, đơn lẻ.
Trường học là một đơn vị cơ sở của tổ chức và hệ thống giáo dục đồng
thời là một dạng tổ chức trong xã hội, là hệ thống con của quản lý giáo dục.
Do đó, quản lý trường học chính là quản lý giáo dục tại cơ sở.
Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường có thê hiểu là một chuỗi tác động
hợp lý có mục đích, tự giác, hệ thống, kế hoạch; mang tính tổ chức - sư phạm
14
của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng
giáo dục trong và ngoài trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp,
tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận
hành tối ưu để đạt được những mục tiêu dự kiến.
Quá trình quản lý là một quá trình hoạt động của chủ thể quản lý nhằm
thực hiện hệ thống các chức năng quản lý để đưa hệ thống quản lý đến mục
tiêu đề ra. Quá trình quản lý giữ vai trò trung tâm trong hệ thống quản lý vì nó
chính là căn cứ xác định nội dung của hoạt động quản lý, cách tổ chức các
giai đoạn liên tục trong quá trình quản lý, nó còn là căn cứ xác định và hình
thành công nghệ quản lý. Như vậy, quá trình quản lý giáo dục là quá trình
thực hiện bốn chức năng cơ bản: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra nhằm
vai trò hiện thực hóa các mục tiêu, tạo ra sức mạnh mới, đây là khâu quan
trọng nhất của quản lý.
Nội dung chủ yếu của chức năng tổ chức là:
• Xác định cấu trúc tổ chức của chủ thể quản lý tương ứng với các đối
tượng quản lý.
16
• Xây dựng và phát triển đội ngũ nhân sự.
• Xác định cơ chế hoạt động và các mối quan hệ của tổ chức
• Tố chức lao động một cách khoa học
- Chỉ đạo là chức năng thứ ba trong một quá trình quản lý nó có vai trò
cùng với chức năng tổ chức đế hiện thực hóa các mục tiêu, là cơ sở để phát
huy các động lực cho việc thực hiện các mục tiêu quản lý và góp phần tạo nên
chất lượng và hiệu quả cao của các hoạt động.
Chức năng chỉ đạo cần thực hiện các nội dung sau:
• Thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ
• Thường xuyên đôn đốc, động viên và kích thích lao động
• Giám sát và sửa chữa
• Thúc đẩy các hoạt động phát triển
- Chức năng kiểm tra là một trong những chức năng quan trọng của quá
trình quản lý có vai trò cung cấp thông tin, trợ giúp cá nhân và đơn vị hoàn
thành nhiệm vụ, kế hoạch đã xác định. Chức năng kiểm tra cần thực hiện các
nội dung sau: đánh giá (xác định các chuẩn mực, thu thập thông tin, so sánh
sự phù hợp của việc thực hiện các chuẩn mực); phát hiện mức độ thực hiện
(tốt, vừa, xấu) của các đối tượng quản lý; điều chỉnh bao gồm tư vấn (uốn
nắn, sửa chữa), thúc đẩy (phát huy thành tích tốt, mặt mạnh) hoặc xử lý.
Kiểm tra phải thể hiện rõ 4 bước cơ bản là:
• Xác định chuấn kiếm tra
cả một nền công nghệ tin học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo cả phần
cứng, phần mềm và các thiết bị bố trợ v.v... Công nghệ các hợp chất cao phân
tử tách ra từ công nghệ hóa dầu, công nghệ sinh học và các ngành dịch vụ, du
lịch tiếp nối ra đời...
ơ Việt Nam trong những năm gần đây, do sự chuyến biến của nền kinh tế từ
cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, nên đã gây ra những biến
đối sâu sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội. Trong cơ chế thị trường, nhất
là trong nền kinh tế tri thức tương lai, sức lao động cũng là một thứ hàng hóa.
Giá trị của thứ hàng hóa sức lao động này tuỳ thuộc vào trình độ, tay nghề, khả
18
năng về mọi mặt của người lao động. Xã hội đón nhận thứ hàng hóa này như
thế nào là do “hàm lượng chất xám” và “chất lượng sức lao động” quyết định.
Khái niệm phân công công tác sẽ mất dần trong quá trình vận hành của cơ chế
thị trường. Con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm
vững một nghề, biết nhiều nghề đế rồi tự tìm việc làm, tự tạo việc làm...
Khi giúp đỡ thanh niên chọn nghề, một số nhà nghiên cứu thường đặt câu
hỏi: “Bạn biết được tên của bao nhiêu nghề?”. Nghe hỏi, nhiều bạn trẻ nghĩ
rằng mình có thể kê ra nhiều nghề, song khi đặt bút viết thì nhiều bạn không
kế được quá 50 nghề. Bạn tưởng như thế đã là nhiều, song nhà nghiên cứu lại
nhận xét: Chà, sao biết ít vậy!
Đế hiểu vì sao nhà nghiên cứu lại kêu lên như vậy, chúng ta hãy cùng nhau
làm sáng rõ 2 khái niệm Nghề và Chuyên môn.
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo,
con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm
vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.
Nghề bao gồm nhiều chuyên môn. Chuyên môn là một lĩnh vực lao động
sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình
cầu vận dụng kiến thức, kỹ năng vào lao động, thói quen làm việc có kế
hoạch, tuân thủ quy trình kỹ thuật và bảo đảm an toàn lao động, bước đầu có
tác phong công nghiệp, giữ gìn vệ sinh môi trường, có ý thức tìm hiểu và lựa
chọn nghề của học sinh.
1.2.3.
Dạy nghề và dạy Nghề phố thông:
• Dạy nghề:
Khái niệm dạy nghề là công việc đào tạo những công nhân có văn hóa, có
kỹ thuật một cách tổ chức, có kế hoạch nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ
thuật của các ngành thuộc nền kinh tế quốc dân.
Quá trình dạy nghề là quá trình truyền thụ những tri thức chuyên môn
nghề nghiệp và hình thành những kỹ năng, kỹ xảo lao động một nghề nhất
định.
20
Mục đích cuối cùng của dạy nghề là hình thành được tay nghề và những
phấm chất nhân cách cần thiết cho người lao động. Tay nghề là trình độ điêu
luyện của kỹ năng lao động nghề nghiệp, đáp ứng những đòi hỏi của chuyên
môn. Khái niệm dạy nghề ở đây chỉ về sự đào tạo trong những trường đào tạo
công nhân kỹ thuật, những trường đào tạo thợ lành nghề theo những danh
mục do nhà nước quy định phục vụ trực tiếp yêu cầu thực tế xã hội.
• Dạy Nghề phố thông:
“Đó là những nghề phổ biến, thông dụng đang cần phát triến ở địa
phương. Nắm được nghề này, học sinh có thể tự tạo việc làm, để được sử
dụng trong các thành phần kinh tế tại chỗ của cộng đồng dân cư.
vật liệu, công cụ, quá trình công nghệ, tố chức quản lý sản xuất. Nhằm giúp
học sinh dễ dàng thích ứng với sự dịch chuyển lao động trong sản xuất và đào
tạo nghề mới.
Dạy Nghề phố thông cũng sẽ giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng sử
dụng công cụ, gia công vật liệu, thao tác các kỹ thuật, lập kế hoạch tính toán,
thiết kế và khả năng vận dụng trong thực tiễn. Đó là những cơ sở ban đầu để
hình thành kỹ năng nghề nghiệp, phát huy sáng tạo, hình thành thời gian lao
động tư duy.
- Dạy Nghề phổ thông cho học sinh phổ thông:
Trường phổ thông của ta không đào tạo những thự lành nghề như những
trường dạy nghề, nhưng trong giai đoạn hiện nay, nó coi việc dạy nghề như
một tính chất của mình. Như thế có nghĩa là, trường phổ thông không chỉ dạy
văn hóa mà có nhiệm vụ chuẩn bị tích cực hơn cho học sinh đi vào cuộc sống
lao động xã hội thông qua việc dạy nghề trong trường phố thông, chúng ta chỉ
dạy Nghề phổ thông cho học sinh.
Những nghề dạy cho học sinh phổ thông gọi tắt là Nghề phổ thông được
quy ước với những dấu hiệu cơ bản:
22
+ Đó là những nghề phổ biến, thông dụng đang cần phát triển ở địa
phương, học sinh có thể tự tạo việc làm, dễ sử dụng trong các thành phần kinh
tế ở những nơi đông dân cư.
+ Những nghề ấy có kỹ thuật tương đối đơn giản, quá trình dạy nghề
không đòi hỏi có những trang thiết bị phức tạp (ví dụ: may, thêu, điện dân
dụng, nấu ăn . . .).
t Nguyên liệu dùng cho việc dạy nghề dễ kiếm, phù họp với điều kiện
kinh tế, khả năng đầu tư của địa phương.
+ Thời gian học nghề thường ngắn (khoảng trên dưới 100 tiết), kế hoạch
Hình 1.3. Cấu trúc hoạt động lao động - hướng nghiệp
1.3.2.
Cơ sở của việc dạy Nghề phố thông:
Vấn đề dạy nghề phổ thông được đặt ra không chỉ ở nước ta mà còn đối
với nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, trong xu thế chung ấy, vấn đề này ở
nước ta cũng có những nét riêng biệt. Chúng ta cần làm rõ những căn cứ xuất
phát của nó.
- Nhiều năm qua, do giáo dục phát triẻn mạnh mẽ, số học sinh tốt
nghiệp THCS tăng lên rất nhiều so với trước. Trung bình, hàng năm chúng ta
có khoảng 1 triệu học sinh THCS ra trường (Thành phố Hồ Chí Minh có
khoảng 70.000 học sinh). Đồng thời, số lượng học sinh tốt nghiệp THPT cũng
ngày càng đông hơn (Bình quân mỗi năm có khoảng 30 — 40 vạn). Trường
dạy nghề và trường trung cấp chuyên nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu học
tiếp sau THCS của học sinh. Trong đó, theo quy định phân luồng hiện nay
trường THPT chỉ được nhận 70 - 80% học sinh tốt nghiệp THCS. Còn đối
với học sinh tốt nghiệp THPT, trường đại học chỉ nhận trên dưới 10%. Như
24
vậy là, hàng năm chúng ta có khoảng 20 vạn học sinh tốt nghiệp THCS và 20
vạn học sinh tốt nghiệp THPT sẽ học các trường nghề hoặc trực tiếp tham gia
lao động sản xuất. Do đó, cần phải giúp cho số học sinh này có năng lực lao
động nghề nghiệp để có đú điều kiện tham gia vào sản xuất trong xã hội.
- Hoàn cảnh nước ta gặp nhiều khó khăn trong phát triên sản xuất, bố
trí người vào hệ thống nghề nghiệp trở nên phức tạp. Ngay đến công ăn, việc
làm đơn giản hàng ngày cũng không phải dễ dàng kiếm được. Nếu học sinh ra
trường với ít lý luận sách vở chung chung, các em sẽ phải đứng ngoài công ăn
việc làm. Việc dạy nghề sẽ có ý nghĩa quyết định trong việc giúp lực lượng
thanh thiếu niên tự tạo việc làm hoặc dễ tìm việc làm cho bản thân. [20]
thực tế cơ sở vật chất của đơn vị tổ chức dạy nghề, các đơn vị có thê bổ sung
nội dung thực hành thực tế tùy theo nhu cầu và điều kiện của địa phương cho
phù họp với cấu trúc của chương trình.
Học sinh được chọn nghề học và nơi học nghề phổ thông nhưng phải
đăng ký với nhà trường đang theo học vào đầu năm học. Cuối khóa, học sinh
được quyền đăng ký thi Nghề phổ thông do Sở Giáo dục - Đào tạo tổ chức.
Nếu đạt yêu cầu của kỳ thi Nghề phổ thông từ trung bình trở lên thì học sinh
được cấp giấy chứng nhận Nghề phố thông và cộng thêm diêm vào kết quả thi
hoặc xét tốt nghiệp của bậc THCS và thi tốt nghiệp của bậc THPT.
Bộ Giáo dục - Đào tạo chủ trương mềm hóa về nội dung, đa dạng hóa
về hình thức học nghề theo hướng: Bộ Giáo dục đưa ra danh sách các môn
nghề, quy định số tiết, cơ chế đánh giá thi nghề; Sở Giáo dục - Đào tạo xây
dựng chương trình chung, chỉ đạo các trường THPT, Phòng Giáo dục — Đào
tạo, Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp ... tổ chức dạy Nghề phổ
thông cho học sinh.
học sinh.
GIÁO DỤC
LAO ĐỌNG
GIÁO DỤC
KTTH
GIÁO
26
27 DỤC
DẠY NGHÈ
dẫn
giác
giảng
thì không
dạy laothểđộng
học kỹ
nghề
thuật
thêuvàtay
Nghề
được
phổmàthông
cần chọn
cho học
lớp sinh.
nấu ăn
[27]
hoặc tin học.
1.3.4.Vậy công
Đa dạng
tác hướng
hoá hình
nghiệp
thứccần
dạyđiNghề
trước
phố
một
thông:
bước so với công tác dạy
phíkhông
đầu tưtheo
cho hoạt
nghềđộng
mà này
các rất
emhạn
đãchế.
học trong trường. Do đó, quá trình học nghề
vẫn cần
Trong
đếnthực
những
tiễntác
đã động
xuất hiện
của hướng
nhiều hình
nghiệp
thức
đế dạy
khi nghề
các em
chorahọc
trường,
sinh chúng
phổ
thông
ta cónhư:
thê cho học sinh những lời khuyên chọn nghề thiết thực và bổ ích.
I Trường trung học chuyên nghiệp
Chắc chắn là trường phổ thông không thể cùng một lúc dạy hàng mấy
chục nghề, song cũng không thê dạy một nghề cho cả mấy trăm học sinh và
dạy tại trường phổ thông không đảm bảo chất lượng học nghề với 70% số tiết
GDLĐ
trên nguyên
tắc GD
trang học sinh thành nhiều
thực hành và 30% số tiết
lý dựa
thuyết.
Do đó
cầnKTTH
phânđểchia
bị kiến thức, kỹ năng, kỹ thuật phổ thông cho
lớp nghề khác nhau, điều đó chỉ làm được khi có công tác hướng nghiệp đi
trước.
Thông qua hình thức hướng nghiệp, nhà trường sẽ có những tư liệu về
sự phù hợp nghề của từng học sinh cụ thể. Dựa vào căn cứ đó mà nhà trường
quyết định cho học sinh theo học nghề nào (mang tính tương đối)
GDLĐ
gan với
dạy
nghề,
hướng
LĐ sáng
tạo, năng
suất, chất
lượng,
hiệu quả