THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THUỘC QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CAO THỊ TUYẾT MAI

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH
TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
THUỘC QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Quản lý Giáo Dục
Mã số : 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
hòa
n thành việc học tập và công tác.
Chân thành cám ơn các anh chị học viên lớp Cao học khóa 18, chuyên ngành Quản lý giáo dục,
các bạn bè đồng nghiệp đã hỗ trợ tôi trong suốt thời gian qua.

TP.Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2010
Cao Thị Tuyết Mai
PHẦN 1. PHẦN MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tình hình kinh tế - xã hội trong nước và thế giới hiện nay có nhiều biến động. Con người bận
rộn và lo toan nhiều hơn cho đời sống vật chất, sự chăm lo cho đời sống tinh thần cũng đã được quan
tâm nhưng chưa đồng đều.
Ở các trường phổ thông hiện nay, đặc biệt ở cấp lớp THCS, vấn đề giới tính và giáo dục giới
tính đã được Bộ Giáo Dục và Đào Tạo chỉ đạo thực hiện. Tuy nhiên hiệu quả đến đâu, các bước tiến
hành thế nà
o, hoạt động gồm những gì còn tùy thuộc vào sự quan tâm của lãnh đạo từng trường. Cho
đến hiện nay chưa có một nghiên cứu mang tính tổng kết hoạt động này ở cấp THCS.
Xã hội ngày càng phát triển, học sinh được tiếp cận với các phương tiện thông tin hiện đại.
Những thông tin, bài viết, bàn luận và phim ảnh đề cập hoặc có li
ên quan đến các vấn đề giới tính có
thể được tìm thấy một cách dễ dàng tại các nhà sách, trên mạng internet hoặc chương trình truyền hình.
Thế nhưng công tác giáo dục giới tính lại còn khá mới mẻ, mặc dù đã được đưa vào một số nội dung
học tập ở từng cấp học nhưng cũng chưa thật sự trở nên quen thuộc và gần gũi.
Quận 4 là một quận nội thành Thành phố Hồ C
hí Minh.Tổng diện tích 4181km
2
, dân số khoảng
200.000 người, trong đó phần lớn là người dân lao động với cuộc sống còn nhiều khó khăn. Trong gia
đình, lứa tuổi học sinh THCS chưa được cha mẹ quan tâm đúng mức. Trong quận có 6 trường THCS,

trong quá trình GDGT.
- Phương pháp quan sát: qua quan sát tiết dạy có nội dung GDGT môn Sinh, môn GDCD) người
nghiên cứu rút ra kết luận về hiệu quả và việc thực hiện chương trình GDGT thông qua các bài dạy
GDGT .
- Phương pháp chuyên gia: lấy ý kiến các chuyên gia về lĩnh vực tâm lý, giáo dục để có được những ý
kiến khác
h quan về thực trạng của hoạt động giáo dục giới tính tại các trường THCS hiện nay.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu : đối tượng phát phiếu là cán bộ quản lý 6 trường THCS, giáo viên
các môn Sinh, Giáo dục công dân tòan Quận, học sinh lớp 9 và phụ huynh của các học sinh tham gia ý
kiến thuộc các trường THCS Quận 4.
+ Cỡ mẫu nghiên cứu:
Đối với BGH các trường THCS, giáo viên môn Sinh và môn Giáo dục công dân: cỡ mẫu nghiên
cứu là tòan bộ dân số nghiên cứu (15 người là BGH, 11 người là giáo viên G
DCD, 18 giáo viên
môn Sinh). Tổng số 44 người . Một số nội dung khảo sát việc thực hiện chương trình môn
GDCD thuộc chương trình khối 8 và 9 nên chỉ khảo sát đối với 6 giáo viên môn GDCD .
Đối với đối tượng là học sinh, phụ huynh học sinh: do đối tượng rộng và mục tiêu nghiên cứu
chỉ dừng lại ở mức định tính do đó chọn ngẫu nhiên mỗi trường 35 phụ huynh và 35 học sinh.
Tổng cộng dân số nghi
ên cứu là 198 phụ huynh và 200 học sinh.
- Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê:
Số liệu được thu thập và phân lọai theo từng tiêu chí nghiên cứu.
Dùng phương pháp thống kê mô tả để tính tần số và độ lệch các tiêu chí, mối tương quan giữa
các yếu tố.
6. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Chỉ tìm hiểu thực trạng quản lý công tác giáo dục giới tính hiện nay tại 6 trường THCS Công
lập và Công lập tự chủ tài chính thuộc Quận 4 TPHCM THCS Vân Đồn, THCS Tăng Bạt Hổ A, THCS
Khánh Hội A, THCS Nguyễn Huệ, THCS Chi Lăng. THCS Quang Trung)
7. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Công tác giáo dục giới tính ở các trường THCS tại Quận 4 đã được triển khai khá tốt song còn

ông” của Kingsey xuất bản 1948…
Năm 1921, tại Mỹ một Ủy ban liên ngành được thành lập để nghiên cứu các vấn đề tính dục. Ủy
ban nà
y đã hỗ trợ cho H.Kingsey cùng các cộng sự của ông nghiên cứu một cách khá toàn diện và khoa
học trên quy mô rộng về các định hướng tâm lý tính dục và hành vi của con người. “Bản phúc trình của
Kingsey” đã được biên soạn dựa trên những tài liệu phong phú của trên 10 ngàn cuộc điều tra khoa học
khác nhau, đã được nhiều người biết đến.
Nối tiếp công trình của H. Kingsey là công trình của W.Masters và V.Johnson, vào năm 1954.
Các tác giả này đã tập trung vào việc phá
t hiện các chuẩn mực trong tính dục. Công trình này đã được
công bố năm 1966 (sau 11 năm nghiên cứu), đã cung cấp những tham số sinh lý đáng tin cậy về đời
sống tính dục của con người.
Ở Nga, những công trình nghiên cứu từ năm 1903 đến 1904 của D.N. Zabanov và V.I.
Iakovenko mang tên “ Cuộc điều tra tính dục” đã được tiến hành trong sự cấm đoán của Nga hoàng.
Trên 6000 bản điều tra được phát ra, nhưng đa số bị cảnh sát tịch thu, chỉ còn 324 bản và công trình
nghiên cứu được công bố năm 1922.
Ngay từ những năm 1920 của thế kỷ XX, V.I. Lênin đã nói: “Cùng với việc xây dựng chủ nghĩa
xã hội, vấn đề quan hệ giới tính, vấn đề hôn nhân gia đình cũng được coi là cấp bách.”[26,11].
A.X.Makarenko viết: “ Đạo đức xã hội đặt ra những vấn đề về giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên.

Sinh hoạt giới tính của con người liên quan mật thiết với việc giáo dục về tình yêu, về đời sống gia
đình tức là mối quan hệ giữa nam và nữ, mối quan hệ dẫn tới mục đích hạnh phúc của con người,
không thể quên giáo dục loại tình cảm đặc biệt đó về giới tính.”[26,12]. Các nhà khoa học cũng đã đưa
ra nhiều ý kiến rất cụ thể về nội dung, phương phá
p giáo dục giới tính. I.X.Kon khẳng định: “Chuẩn bị
cho nam nữ thanh niên bước vào cuộc sống gia đình đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống giáo dục đạo đức
và giáo dục giới tính”[15,19], A.X.Makarenko cho rằng, thanh niên cần phải “ học tập cách yêu đương,
phải học tập để hiểu biết tình yêu, phải học tập cách sống hạnh phúc, và như thế có nghĩa là học tập để
biết tự trọng, học tập để biết cái vinh hạnh được làm người” [26,
12].

Ở Anh
: Theo một đạo luật mới được ban hành ở Anh Quốc, giáo dục giới tính sẽ trở thành môn
học bắt buộc trong giáo trình giảng dạy của tất cả các trường học trên tòan nước Anh. Hiện tại, chỉ có
học sinh 11 tuổi trở lên mới phải trau dồi môn học mới mẻ này. Thế nhưng từ năm 2010 trở đi, ngay cả
các em 5 tuổi cũng sẽ được giảng dạy những điều căn bản về khoa giải phẫu cũng như quan hệ nam
nữ.
Sở dĩ việc giáo dục giới tính được đưa vào giảng dạy sớm như vậy ở Anh là vì so với tất cả các nước
châu Âu, quốc gia này hiện phá kỷ lục về số thiếu nữ vị thành niên mang thai.
Ở Trung
Quốc: Hình thức giáo dục giới tính tại Trung Quốc là một bài học dài 45 phút, xen kẽ
vào môn vệ sinh thường thức trong năm thứ hai của cấp 2. Nhiều thầy giáo không biết giảng dạy bài
học này thế nào cho tốt nhất mà không bị phê là “ vẽ đường cho hươu chạy”. Bản thân một số giáo
viên cũng dị ứng với đề tài nhạy cảm này.
Ở Nhật Bản
: chính sách giáo dục giới tính truyền thống của Nhật Bản được gọi là “giáo dục
thuần khiết”. Năm 1947, Bộ Giáo Dục Nhật Bản ra văn bản “ Về việc thực thi giáo dục thuần
khiết”.Năm 1949, cho ra tiếp “ Những điều cơ bản về giáo dục thuần khiết”. Năm 1955, “Đề án thí
điểm thực thi giáo dục thuần khiết” ra đời. Đáng lưu ý rằng trong 3 lần liên tiếp, từ “giáo dục thuần
khiết” đư
ợc sử dụng lặp lại. Trong khi đó, từ “giáo dục giới tính” được sử dụng khá thận trọng. Nói
chung, tuy từ “giáo dục giới tính” chỉ bắt đầu được sử dụng rộng rãi từ năm 1966, trong văn bản mới
nhất liên quan đến giáo dục giới tính lưu hành từ năm 1986 với tiêu đề “Về vấn đề giáo dục giới tính
cho học sinh” của Bộ Giáo Dục Nhật Bản, từ “ giáo dục giới tính” vẫn đư
ợc coi là có ý nghĩa tiêu cực.
Giáo dục kinh nguyệt (nếu kinh nguyệt dài hơn một thời kỳ nhất định có thể có thai) được phổ cập
rộng rãi. Giáo dục này được phổ biến cho học sinh tiểu học lớp 6 (tương đương lớp 6 ở Việt Nam) và
thậm chí tiến hành đối với học sinh nhỏ tuổi hơn. Học sinh nữ được đưa và
o phòng kín, tắt điện và
chiếu video. Tuy nhiên đây là giáo dục giới tính đầu tiên và cũng là giáo dục giới tính cuối cùng! Đối
với học sinh nam cũng có giáo dục giới tính tương tự. Gần đây, việc GDGT cho học sinh nam và học

chức liên quan xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những
kiến thức khoa học về giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái ” thì công tác GDGT cho học
sinh sinh viên được quan tâm hơn, tập trung cho đối tượng si
nh viên các trường Đại học.Từ năm 1985,
những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính, về tình yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu
được công bố. Các tác giả Đặng Xuân Hoài, Trần Trọng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan,
Nguyễn Thị Tho, Bùi Ngọc Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức… đã nghiên cứu nhiều vấn đề,
nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính và giáo dục giới tính. Nhiều công trình nghiên cứu về giới tính,
tình yê
u, hôn nhân gia đình, nhiều cuộc điều tra về tình yêu và đời sống hôn nhân gia đình đã được tiến
hành từ năm 1985 đến nay, bước đầu làm cơ sở cho việc giáo dục giới tính cho thanh niên và học sinh.
Những công trình này đã nêu lên nhiều vấn đề rất phong phú đa dạng về vấn đề giới tính và giáo dục
giới tính ở Việt Nam.[26,15].
Đến năm 1988, các dự án thử nghiệm VIE/ 88/P10 (giáo dục dân số ở các trường phổ thông và
sư phạm
) VIE/88/P09 (giáo dục đời sống gia đình và GDGT), rồi đến VIE/94/P01 nâng cao và hoàn
chỉnh chương trình nói trên. Các chương trình thử nghiệm về giáo dục đời sống gia đình và GDGT đã
được đại đa số học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh chấp nhận.
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Trần Trọng Thủy và Giáo sư Đặng Xuân Hoài, đề án đã
được tiến hành rất thận trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề như: qua
n niệm về
tình bạn, tình yêu, hôn nhân, nhận thức về giới tính và giáo dục giới tính của giáo viên, học sinh, phụ
huynh… ở nhiều nơi trong cả nước, để chuẩn bị tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông từ
lớp 9 đến lớp 12.
Từ khoảng năm 1990, ở Việt Nam đã có nhiều dự án Quốc gia, nhiều đề tài liên kết với các
nước, các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính và những vấn đề có liên quan như: Giáo dục sức
khỏe sinh sản; giáo dục về tình yêu trong thanh niên, học sinh; giáo dục đời sống gia đì
nh;giáo dục giới
tính cho học sinh…Việc nghiên cứu giới tính và giáo dục giới tính đã được sự quan tâm nhiều của Nhà
nước, Bộ Giáo Dục và Đào tạo, Bộ Y tế, các nhà khoa học và các bậc phụ huynh. Để hoạt động giáo

- Năm 2007, đề tài luận văn thạc sĩ : “Thực trạng việc quản lý giá
o dục giới tính cho học sinh ở
các trường THCS tại huyện Thuận An, Tỉnh Bình Dương và một số giải pháp” của Đỗ Hà Thế Bình.
- Năm 2010, đề tài nghiên cứu của Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Đồng Nai: “Hệ thống giải
pháp nâng cao chất lượng giáo dục giới tính trong các trường THPT trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai” do
Hội Khoa học Tâm lý giáo dục chủ trì.
Điểm qua các đề tài nghiên cứu, có thể nhận thấy ở lứa tuổi THPT có khá nhiều đề tài được đề
cập đến.Còn ở lứa tuổi học sinh THCS, chỉ có một đề tài, địa điểm
nghiên cứu thuộc huyện Thuận An,
Tỉnh Bình Dương, chưa có đề tài nghiên cứu công tác quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở lứa tuổi
này với địa điểm thuộc Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
1.1.3. Giáo dục giới tính cho học sinh THCS trong tình hình hiện nay
Hiện nay, vấn đề giáo dục giới tính cho học sinh THCS vẫn còn nhiều quan điểm chưa thống
nhất:
Một số ý kiến cho rằng nếu cung cấp cho học sinh những thông tin và giúp chúng phòng ngừa
thai cũng như các bệnh lây qua đường tình dục sẽ đẩy các học sinh này vào họat động tình dục sớm và
bừa bãi. Nhiều ý kiến khác không đồng ý việc đưa giáo dục giới tính vào học đường, nhất là các học
sinh có độ tuổi từ 12 đến 16 t
uổi. Quan điểm này cho rằng các em còn quá nhỏ, chưa đủ nhận thức để
hiểu được vấn đề một cách thấu đáo, không tránh khỏi việc “ vẽ đường cho hươu chạy”.
Hiện nay, sự phát triển nhanh chóng các mặt của đời sống xã hội đã ảnh hưởng, làm thay đổi
một số quan điểm truyền thống. Nếu như trước đây, học sinh lớp 6 đư
ợc coi là “quá bé”, “ chưa biết
gì” và chưa thể nhồi nhét những kiến thức về giới tính thì những năm trở lại đây, với sự phát triển một
cách ồ ạt các hệ thống truyền tải thông tin như đài, báo, tivi, internet, phim ảnh, chế độ dinh dưỡng
được cải thiện… đã làm ảnh hưởng đến những quan điểm cũng như sự trưởng thành sớm của các em
học sinh. Vì vậy cần thiết phải đưa chương trình giáo dục giới tính vào trường học. Vấn đề là nê
n đưa
vào từ lớp nào, gồm những nội dung gì ? Từ năm 2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp cùng Tổ
chức Unicef sọan thảo chương trình thực nghiệm Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống cho học

n hệ xã hội và sự cư xử giữa hai
giới.[26,26]
1.2.1.2. Giới tính
Theo Tâm lý học và giáo dục học giới tính, giới tính là toàn bộ những đặc điểm ở con người tạo
nên sự khác biệt giữa nam và nữ. Trong đời sống con người, hai giới không thể tồn tại độc lập mà luôn
luôn tác động đến nhau, có quan hệ qua lại mật thiết với nhau.Ở đây ta cần hiểu khái niệm giới tính
một cách đầy đủ toàn diện về nhiều mặt sinh lý và tâm lý, cá nhân và xã hội, hôn nhâ
n và gia đình, tình
yêu và tình bạn, sự giao tiếp nam nữ [26, 30].
1.2.1.3. Một số vấn đề giới tính cần chú ý ở tuổi thanh niên, học sinh nói chung và học
sinh THCS nói riêng
Vấn đề giới tính ở thanh niên
Tuổi thanh niên, học sinh là lứa tuổi từ khoảng 14, 15 đến 17, 18 tuổi. Đây là lứa tuổi học sinh ở
cuối cấp phổ thông cơ sở và trung học phổ thông, đó là lứa tuổi bước vào thời kỳ ch
ín muồi tính dục,
từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc thời kỳ này. Bởi vậy đời sống giới tính của lứa tuổi này rất phức
tạp, bao gồm cả sự khủng hoảng mất cân bằng của giai đoạn phát dục, và cả những nét đặc trưng của
hoạt động giới tính, tính dục của giai đoạn trưởng thành sinh dục. Do đó ở lứa tuổi này, những đặc
trưng cơ bản của đời sống giới tính đều được biểu hiện khá rõ nét.
- Thực ra, sự phát dục bắt đầu diễn ra ở lứa tuổi sớm hơn (12 -13 t
uổi). Chính sự phát triển này
đã đưa các em vào đời sống tính dục và thúc đẩy hoạt động tâm lý tính dục. Giáo sư A. V. Petrovxki đã
khẳng định sự phát dục kích thích , phát triển sự qua
n tâm đến người khác giới, làm xuất hiện những
cảm xúc, tình cảm mới. Ông cũng cho rằng “ Mức độ bận tâm và tập trung vào nội tâm, vào những
cảm giác và rung động mới”[ 27,132].Ngay từ tuổi thiếu niên các em đã có thể quan tâm tới những
quan hệ bạn khác giới, tình yêu, đến việc đọc sách báo, tranh ảnh khiêu dâm, thậm chí đã có thể quan
tâm đến những vấn đề về sinh dục, tình dục. Do vậy, cần chú ý tránh “ ảnh hưởng xấu có thể có do
việc đọc những sách báo không phù hợp với lứa tuổi, do xem những phim ảnh dành cho người lớn
”[26,53]. Các nhà tâm lí học Việt nam : Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, Lê Khanh… cũng khẳng

Vấn đề giới tính với học sinh THCS
Học sinh THCS bước vào độ tuổi có những “biến cố” đặc biệt: các em không hoàn toàn là trẻ
con nhưng cũng chưa phải là người lớn. Đây là giai đoạn quá độ từ trẻ con sang người lớn, là giai đoạn
đặc trưng với các dấu hiệu của tuổi dậy thì ở nam
và nữ. Đời sống xúc cảm của các em bị chi phối bởi
hai yếu tố cơ bản. Đó là: sự cải tổ về mặt giải phẫu sinh lý dẫn đến sự phát dục (dậy thì), hoạt động
giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi và với người lớn. Học sinh khối 7, 8 (độ tuổi 14, 15) đã có thể nảy
sinh những xúc cảm
yêu đương đầu đời. Do đó phải giáo dục định hướng đúng đắn cho học sinh thông
qua GDGT. Khi tiến hành GDGT, giáo viên phải nắm được các đặc điểm tâm sinh lý diễn ra phức tạp
của học sinh THCS, có sự quan tâm đúng mức đến tâm tư, nguyện vọng của các em nhằm điều chỉnh
kịp thời những hành vi lệch lạc.
1.2.2. Giáo dục giới tính
1.2.2.1. Giáo dục giới tính là gì?
“Giáo dục giới tính là một quá trình hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những
đặc trưng cũng như khuynh hướng phát triển của nhân cách, xác định thái độ xã hội cần thiết của con
người đối với người khác” [16,21]
“Giáo dục giới tính là hình thành tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến lĩnh vực
thầm kín của đời sống con người, hình thành những quan niệm đạo đức lành mạnh giữa em trai và em

gái, thanh nam và thanh nữ, giáo dục những sự kiềm chế có đạo đức, sự thuần khiết và tươi mát về đạo
đức trong tình cảm của các em” [30].
Vậy “Giáo dục giới tính là quá trình giáo dục con người (thanh thiếu niên), nhằm làm cho họ có
nhận thức đầy đủ, có thái độ đúng đắn về giới tính và quan hệ giới tính, có nếp sống văn hóa giới tính,
hướng hoạt động của họ vào việc rèn luyện để phát triển nhân cách toàn diện, phù hợp với giới tính,
giúp cho họ biết tổ chức tốt nhất cuộc sống r
iêng cũng như xây dựng gia đình hạnh phúc, xã hội phát
triển” [26, 41].

1.2.2.2. Nhiệm vụ, nội dung, nguyên tắc, mục đích, đối tượng của giáo dục giới tính

sinh dục, đời sống tình dục, kinh nguyệt, sinh nở, cho con bú, những kiến thức về sức khỏe, sinh đẻ có
kế hoạch, các bệnh thông thường và bệnh liên quan đến đường tình dục (sức khỏe sinh sản)…
+ Đặc điểm giới tính về đạo đức, xã hội, thẩm mỹ như : Cách cư xử với mọi người, với bạn
khác giới, tác phong tư thế, phẩm chất đạo đức theo giới tính, quan niệm về cái đẹp, sự rèn luyện để
tạo nên cái đẹp châ
n chính và vững bền, vấn đề chọn nghề, những vấn đề quan hệ xã hội, pháp luật liên
quan đến cuộc sống gia đình như luật hôn nhân gia đình, trách nhiệm của con người trong gia đình và
xã hội, phương hướng con người rèn luyện về mặt giới
tính, những đặc điểm về đời sống tâm lí con
người, tâm lí giới tính theo lứa tuổi…
+ Những vấn đề về quan hệ bạn khác giới và tình yêu nam nữ như : Bản chất của tình yêu, sự cư
xử trong tình yêu, quy luật của tình yêu, xây dựng tình bạn, tình yêu chân chính…
+ Những vấn đề hôn nhân và đời sống gia đình như bản chất của hôn nhân, điều kiện để có hôn
nhân hạnh phúc, cuộc sống gia đì
nh, sự chuẩn bị cho cuộc sống gia đình, cách xây dựng một gia đình
hạnh phúc…
Hiện nay, nhiều nhà giáo dục thường quan tâm nhấn mạnh đến việc giáo dục sức khỏe sinh sản,
giáo dục tình dục, giáo dục tình yêu và hôn nhân… Đó là những biểu hiện cơ bản của đời sống giới
tính được kết hợp hoặc tích hợp theo một định hướng, một trọng tâm cơ bản, một mục
tiêu giáo dục
nào đó. Và đó cũng là những nội dung nhất định, điển hình của đời sống giới tính.
Những nội dung trên cần được thực hiện theo hình thức tổ chức giáo dục thích hợp, cho những
đối tượng thích hợp và theo từng điều kiện hoàn cảnh thích hợp.[26,155-156]. Với lứa tuổi học sinh
phổ thông, đặc biệt là lứa tuổi học sinh THCS, việc lựa chọn nội dung cho từng khối lớp luôn phải đáp

ứng cho các câu hỏi: Dạy cho khối nào (lứa tuổi nào), dạy những nội dung gì? Dạy như thế nào? (thành
môn riêng hay lồng ghép vào môn khác, dạy ngoại khóa hay chính khóa …) trong đó cần phải thận
trọng khi giảng dạy các chủ đề như tình dục, tình yêu … bên cạnh đó chú ý thêm đến dư luận phụ
huynh, tình hình xã hội của từng vùng, từng địa phương…
Nguyên tắc của giáo dục giới tính

Nói một cách khác, mục đích của GDGT là góp phần làm nhân cách phát triển toàn diện, làm
con người có điều kiện xây dựng xã hội tốt đẹp, lành mạnh. GDGT có ý nghĩa to lớn trong việc thực
hiện mục tiêu giáo dục nói chung, đào tạo con người mới phát triển toàn diện.
Đối tượng của
GDGT
Tác giả Bùi Ngọc Oánh đã nêu lên 4 loại đối tượng của GDGT trong tình hình hiện nay của
nước ta như sau:
Loại thứ nhất: lứa tuổi mới lớn, bao gồm thanh niên, học sinh từ THCS trở lên (từ khoảng
13,14 tuổi đến 20,22 tuổi).
Loại thứ hai: tuổi trưởng thành chuẩn bị lập gia đình (đối với người chuẩn bị lập gia đình: từ
khoảng 18,20 tuổi trở lên).
Loại thứ ba: thanh niên đã có gia đình bao gồm tất cả những thanh niên đã kết hôn.
Loại thứ tư: giáo viên và những người làm công tác GDGT.
Với đối tượng loại thứ nhất, GDGT đáp ứng những quy luật phát triển về tâm lý, sinh lý cơ thể,
đặc biệt là sự phát triển về đời sống tính dục và sự trưởng thành nhân cách của thanh thiếu niên trong
xã hội.
Trong quy luật phát triển cơ thể con người, từ khoảng 12,13 tuổi trở lên đến 15,16 tuổi (lứa tuổi
học sinh THC
S), sự dậy thì làm cho thiếu niên bắt đầu quan tâm đến các vấn đề giới tính và tình dục.
I.X. Kon cho rằng đến tuổi dậy thì “ mối quan tâm của thiếu niên đến các vấn đề giới tính trở nên căng
thẳng và riêng tư”, nó trở nên “ một nhu cầu cơ bản của con người”[10]. Những nhu cầu ấy ngày càng
tăng và ngày càng cấp thiết đối với các em. GDGT đáp ứng những nhu cầu này của các em, giúp các
em có định hướng đúng đắn và phù hợp đối với đời sống giới tính và đời sống xã hội. Dự án
VIE/
97/P12 cho rằng: “ Vị thành niên và thanh niên là một giai đoạn trong cuộc đời con người. Lớp
thanh niên này được thông tin giáo dục về SKSS- vị thành niên sẽ trưởng thành lên người lớn. Lại một
lớp vị thành niên mới cần được thông tin giáo dục về SKSS- vị thành niên. Và vì vậy, nhu cầu về thôn
g
tin giáo dục SKSS cho vị thành niên là một nhu cầu thường xuyên, liên tục [6,192].
Với đối tượng học sinh THCS, công tác GDGT cần phải có những nội dung và hình thức tiến

việc tiến hành GDGT cho học sinh, sinh viên, cho rằng làm
như thế là vẽ đường cho hưu chạy, là làm
hoen ố tâm hồn trong trắng của tuổi học trò” [14,33] . Do vậy, muốn quản lý đạt hiệu quả phải bắt đầu
từ nâng cao nhận thức, nêu cao ý thức trách nhiệm cho đội ngũ giáo viên, trách nhiệm của phụ huynh
và trách nhiệm tự rèn luyện cho học sinh.

Quản lý việc thực hiện chương trình theo qui định của Bộ Giáo Dục

Nội dung chương trình của giáo dục giới tính cấp THCS hiện nay chủ yếu thực hiện lồng ghép ở
hai môn GDCD và Sinh học . Ngoài ra theo chỉ đạo của Bộ Giáo Dục và Đào tạo, GDGT cần được
lồng ghép trong các hoạt động khác nhau của nhà trường như thông qua dạy học, sinh hoạt tập thể,
hoạt động ngoại khóa và các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Thông qua việc triển khai chương trình đầy đủ, đúng chương trình các tiết thuộc 2 m
ôn GDCD
và Sinh học các bài có nội dung giáo dục giới tính, cung cấp kiến thức đồng thời giáo dục thái độ, rèn
kỹ năng sống cho học sinh .
Với môn Sinh học: mục tiêu lồng ghép GDGT với trọng tâm là giáo dục SKSS được xác định
là: giúp học sinh có hiểu biết chính xác, khoa học về cơ quan sinh dục nam, cơ quan sinh dục nữ, sự
thụ tinh, thụ thai và phát triển của thai, nêu được cơ sở khoa học của biện pháp tránh thai, cơ chế xá
c
định giới tính, phát sinh giao tử và thụ thai, các loại bệnh lây qua đường tình dục, đại dịch AIDS. Từ
những hiểu biết trên, học sinh có ý thức tự tìm hiểu thông tin về SKSS vị thành niên, có ý thức phòng
tránh thai, phòng tránh bệnh lây qua đường tình dục.
Với môn GDCD: các bài học lồng ghép về giáo dục pháp luật, học sinh có những hiểu biết về
tình bạn trong sáng (nam- nữ), phòng chống tệ nạn xã hội, phòng chống nhiễm HIV-AIDS, biết được
quyền và nghĩa vụ trong hôn nhân, sống có đạo đức và tuân theo pháp luật. Nhờ đó m
à có thái độ sống
đúng đắn, có trách nhiệm với bạn bè, xây dựng tình bạn tốt đẹp, có ý thức phòng tránh tiêm nhiễm tệ
nạn xã hội, tránh thái độ kỳ thị với người bị nhiễm HIV và gia đình họ, có trách nhiệm với bản thân,
gia đình, xã hội trong tương lai, tuân thủ pháp luật.

dạy có nội dung giáo dục giới tính nằm ở cuối chương trình lớp 8, cần có kế họach kiểm tra giáo viên
bộ môn thực hiện chương trình đầy đủ, không cắt xén chương trình. Ban giám hiệu dự giờ, rút kinh
nghiệm về nội dung và phương pháp giảng dạy. Đặc biệt lưu ý xem các tiết học này có nét riêng về
phương pháp giảng dạy, phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp với học sinh,đem đến cho học sinh sự
hứng thú học tập hướng đến sự tự học, tự rèn luyện kỹ năng sống. Thái độ giảng dạy của giáo viên đối
với các bài có nội dung giáo dục g
iới tính: giảng dạy có được tự nhiên để truyền đạt kiến thức khoa
học, kết hợp dạy tri thức với giáo dục, hì
nh thành thái độ đúng đắn, văn hóa với các vấn đề giới tính.
Kết hợp việc giảng dạy với việc phê phán những biểu hiện không tốt trong nếp sống, sinh họat có liên
quan tới tri thức các bài về nội dung đã đề cập trên.
Quản lý c
ông tác bồi dưỡng giáo viên
Qua việc quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên, nâng cao nhận thức cho giáo viên về tầm quan
trọng của công tác giáo dục giới tính, tham gia tập huấn đầy đủ theo các chương trình bồi dưỡng giáo
viên của Bộ, Sở, nhất là các đợt tập huấn riêng về giáo dục giới tính. Ngoài các đợt tập huấn chung,
bản thân giáo viên có tự học, tự bồi dưỡng kiến thức, cập nhật kiến thức thường xuyên để giảng dạy
đạt chất lượng tốt nhất các bài có nội dung GDGT.
Quản lý công tác tổ chức giáo dục giới tính
Các hoạt động
chính khóa: quản lý thông qua chương trình SGK tài liệu đã được Bộ Giáo Dục
ban hành, nhà trường có kết hợp với các tổ chức, các lực lượng sư phạm trong nhà trường nhằm thực
hiện tốt giáo dục giới tính, đổi mới phương pháp, hình thức, phương tiện giáo dục giới tính, đẩy mạnh
họat động tự giáo dục của học sinh, tích cực xây dựng và cải tạo môi trường giáo dục trong các nhà
trường, bồi dưỡng tri thức giới tính và nhân cách cho học sinh, tổ chức các họat động phù hợp c
ho sự
phát triển của lứa tuổi học sinh THCS.
Các họat động
ngọai khóa: quản lý việc tổ chức các chuyên đề về tình bạn, tình yêu, tuổi dậy
thì, nâng cao hiểu biết về tri thức giới tính, việc định hướng lối sống lành mạnh như giáo dục phòng

43]
Tìm hiểu những vấn đề lý luận về giới, giới tính, giáo dục giới tính, quản lý hoạt động GDGT
chính là nền tảng lý luận vững chắc, từ đó, tác giả sẽ tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động GDGT tại
các trường THCS thuộc Quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao c
hất lượng giáo dục toàn
diện tại các trường THCS thuộc Quận 4 nói riêng và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung.
CHƯƠNG 2.
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH TẠI CÁC
TRƯỜNG THCS THUỘC QUẬN 4, TP. HCM

2.1. VÀI NÉT TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI ĐỊA BÀN QUẬN 4
2.1.1. Về địa lý
Quận 4 là một Quận giáp ranh với trung tâm Thành phố, có hình dạng như một cù lao tam giác
với tổng diện tích 4.181km
2
. Tỷ lệ diện tích so với Thành phố là 0,1995% (nhỏ nhất trong 24 Quận
huyện). Tổng số dân khoảng 200.000 người. Dân tộc Kinh chiếm khoảng 92,91%, dân tộc Hoa chiếm
4,08%, còn lại là các dân tộc khác. Mật độ dân số 48.791 người/km
2
, đứng thứ hai trong toàn thành
phố. Địa giới hành chính được chia thành 15 phường, 51 khu phố và 666 tổ dân phố.

Hình 2.1. Bản đồ Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.2. Tình hình giáo dục
2.1.2.1. Số trường, số giáo viên, học sinh
Tình hình nhân lực giáo dục khối THCS trên địa bàn quận được trình bày trong bảng 2.1.
Bảng 2.1. Tình hình nhân lực các trường THCS tại Quận 4
Loại hình nhân lực Số trường CBQL GV Học sinh
Số lượng 6 15 271 6889


học lực, tỉ lệ học sinh giỏi còn chưa cao so với học sinh khá và xấp xỉ học sinh trung bình (28.16% so
với 26.29%). Đây là một trong những thực trạng đáng quan tâm
trong công tác quản lý giáo dục và
nâng cao chất lượng giảng dạy hơn nữa tại địa bàn quận.

Biểu đồ 2.1. Phần trăm xếp loại học lực và hạnh kiểm

Trong 3 năm trở lại đây Quận 4 được công nhận là Quận nội thành của TP.HCM, tốc độ đô thị
hóa nhanh, khoa học công nghệ phát triển, học sinh các trường THCS được tiếp cận với các hoạt động
giao lưu văn hóa, tiếp cận tốt với phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, internet, truyền hình
cáp, các đài phát thanh …. Môi trường sư phạm lành mạnh là điều kiện tốt để học sinh phát triển nhân
cách một cách đúng hướng.2.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH TẠI CÁC
TRƯỜNG THCS THUỘC QUẬN 4, TP.HCM
2.2.1. Thực trạng quản lý việc thực hiện chương trình theo qui định của Bộ Giáo
Dục và đào tạo (chương trình lồng ghép ở 2 môn GDCD và môn Sinh)
Việc thực hiện lồng ghép chương trình ở môn GDCD và môn Sinh hiện đã và đang được triển
khai trên địa bàn quận. Tuy nhiên chưa có một sự đánh giá nào về hiệu quả của việc quản lý vấn đề
này. Nhóm nghiên cứu khảo sát nhằm làm rõ đồng thời giúp cung cấp thêm dữ kiện để đánh giá nội
dung giáo dục giới tính trong học đường. Kết quả khảo sát được trình bày trong bảng dưới đây.
Bảng 2.4 Khảo sát việc thực hiện chương trì
nh môn GDCD (các bài có nội dung GDGT)
Học sinh
Giáo viên
Tên bài
TS SL TL
TS SL TL
Sig

thấy sự khác biệt không có ý nghĩa ở các bài 1,2,3,5 (Sig > 0.05) sự khác biệt có ý nghĩa ở nội dung
bài “ Quyền và nghĩa vụ của công dân trong hôn nhân” (Sig = 0.001 < 0.05).Trên thực tế, bài này c
ó
được giảng dạy trên lớp nhưng kết quả khảo sát trong học sinh cho biết rằng các em gần như không
nắm bắt được vấn đề, các nội dung giảng dạy không còn nằm trong kiến thức của các em. Học sinh sau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status