một số giải pháp quản lý hoạt động đào tạo ở truờng cao đắng nghề hàng hải thành phố hồ chí minh - Pdf 33

BGH

: Ban giám hiệu
Bộ GD& ĐT

: Bộ Giáo dục và Đào tạo
: Bộ Giao thông vận tải

Bộ GTVT
Bộ LĐTBXH
BTTrĐT
CBGV, CNV
CBQL

ccvc
Cục HHVN
CNTT

cssx
csvc
GD-ĐT
GVCN
HTGD
HSSV
IMO
KHĐT
KTMH, MĐ

: Ban
thanhMỤC
tra đào CÁC

Namtảng cho tác giả trong việc nghiên cứu đề
tỉnh giảng dạy, trang
kiếnhảithức
tài.
: Công nghệ thông tin
Xin chân thành cám ơn PGS. TS. Nguyễn Thị Hường, người đã tận tâm
NGUYỄN
THỊ
KHOA
hướng dẫn trong quá : trình
cứu
làmMINH
luận văn,
cùng với quý lãnh đạo, quý

sởnghiên
sản xuất
thầy cô, các nhà khoa học của Trường Đại Học Vinh đã tạo điều kiện cho tác giả
: Cơtheo
sở vật
chất
được hoàn thành luận văn
đúng
kế hoạch.
Qua đây, tôi: Giáo
cũngdục
xinvàđược
gửi lời cám ơn tới Hiệu trưởng, các cán bộ,
Đào tạo
giảng viên cùng các em học sinh, sinh viên trường Cao đắng nghề Hàng hải

mô đunHÒ CHÍ MINH

PPDH

: Phương pháp dạy học

QLGD

: Quản lý giáo dục

Chuyên ngành Quản lý giáo dục


số: 60.14.05
: Tổng cục Dạy
nghề

TCDN
TDTT
ThS,
TTHLTV
VBCC

321

: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

: Thể dục thê thao
TTr


của xã hội; có cơ chế và chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các
doanh nghiệp với cơ sở đào tạo. Xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án
đào tạo nhân lực cho các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, đây là cơ hội cho dạy nghề
phát triển.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020, với yêu cầu tái
cấu trúc nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất
lượng đặt ra nhiệm vụ và cũng là cơ hội đế thúc đẩy phát triển dạy nghề, nâng
cao chất lượng đào tạo, nhất là đào tạo nhân lực chất lượng cao. Hội nhập quốc
tế sâu, rộng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho dạy nghề tiếp cận với những kiến
thức mới, công nghệ mới, mô hình dạy nghề hiện đại; mở rộng trao đổi kinh
nghiệm, có cơ hội tiếp cận, thu hút các nguồn lực bên ngoài cho phát triển dạy
nghề. Để đáp ímg nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề chất lượng cao cho nền
kinh tế, trong giai đoạn 2011 - 2020, các cơ sở dạy nghề cần đổi mới quản lý
đào tạo theo hướng cầu; lấy việc gắn kết dạy nghề với thị trường lao động và
sự tham gia của doanh nghiệp làm trọng tâm nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn
nhân lực chất lượng cao cho các ngành kinh tế mũi nhọn, vùng kinh tế trọng
điểm, phục vụ có hiệu quả cho công nghiệp hóa đất nước và hội nhập kinh tế
quốc tế.


5

1.2. Lý do về mặt thực tiễn:
Để thực hiện Luật giáo dục năm 2005, Luật dạy nghề 2006, từ năm 2006 nhà
nuớc cho phép thành lập các trường Cao đẳng nghề và trường Cao đắng nghề
Hàng hải thành phố Hồ Chí Minh được thành lập ngày 31 thángl2 năm 2007
trên cơ sở nâng cấp từ trường Trung học Hàng hải II.
Hiện nay, việc quản lý hoạt động đào tạo ở các trường dạy nghề vẫn theo mô
hình trường chuyên nghiệp, đế đạt được mục tiêu “Đổi mới và phát triển dạy
nghề nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ chiến lược phát triển

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thê nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động đào tạo ở truờng Cao
đẳng nghề Hàng hải.
3.2. Đối tuợng nghiên cứu: Một số giải pháp quản lý hoạt động đào tạo ở truờng
Cao đẳng nghề Hàng hải thành phố Hồ Chí Minh
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất những giải pháp quản lý hoạt động đào tạo có tính khoa học và
tính khả thi, phù hợp với điều kiện nhà trường thì sẽ góp phần nâng cao chất
lirợng đào tạo ở trirờng Cao đẳng nghề Hàng hải thành phố Hồ Chí Minh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa, phân tích các vấn đề lý luận về quản lý, quản lý đào tạo nghề
ở truờng cao đẳng nghề Hàng hải.
5.2. Khảo sát, đánh giá thục trạng quản lý hoạt động đào tạo ở trirờng Cao đăng
nghề Hàng hải thành phố Hồ Chí Minh.
5.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý hoạt động đào tạo nhằm nâng cao chất
luợng đào tạo ở trirừng Cao đắng nghề Hàng hải thành phố Hồ Chí Minh.
6. Phạm vi nghiên cúu
6.1 Giới hạn đối tuợng nghiên cứu:
Đe tài chỉ nghiên cứu khía cạnh của một số giải pháp quản lý hoạt động đào
tạo ở truờng Cao đắng nghề Hàng hải thành phố Hồ Chí Minh.
6.2 Giới hạn khách thể điều tra:
- Hiệu truởng, các phó hiệu trưởng, các trưởng phòng, khoa, tổ chuyên
môn và một số cán bộ, giảng viên của trường.
- Sinh viên của trường.


7

7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: gồm các phương pháp Phân tích,

CHƯƠNG 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LỶ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO
Ỏ TRƯỜNG CAO ĐẢNG NGHÈ HÀNG HẢI

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhận thức sâu sắc vai trò của hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống đào
tạo nghề nói riêng đối với sự phát triển KT - XH của đất nước. Các lĩnh vực
quản lý giáo dục nói chung và quản lý đào tạo nghề nói riêng luôn là vấn đề
được các nhà nghiên cứu quan tâm. Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã
đóng góp nhiều giá trị trong thực tiễn quản lý quá trình dạy - học như: Đe tài
“Một số giải pháp đổi mới quản lý hoạt động dạy học ở trường Cao đắng Sư
phạm Trà Vinh” của tác giả Tô Hoàng Tuấn, PGS. TS Nguyễn Ngọc Hợi
(Người hướng dẫn Khoa học) tại trường Đại học Trà Vinh; Đề tài “ Nâng cao
chất lượng đào tạo ngành đi biển tại trường Cao đắng nghề Hàng hải I” trong
giai đoạn tới của nhóm tác giả ThS. Phan Văn Tại; ThS,TTr. Đinh Gia Vinh;
ThS,TTr. Nguyễn Văn Trọng tại Trường Cao đẳng Hàng hải 1. Tuy nhiên, vấn
đề nghiên cứu các giải pháp quản lý hoạt động đào tạo nhằm nâng cao chất
lượng hiện nay còn ít được quan tâm. Đặc biệt, với Trường Cao đẳng nghề
Hàng hải thành phố Hồ Chí Minh là trường đang đào tạo đa dạng về trình độ
chuyên môn kỹ thuật (từ trình độ Công nhân kỹ thuật đến Cao đắng) và phong
phú ngành nghề nhưng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về vấn đề
này. Chính vì vậy, việc nghiên cứu “Mọ/ so giải pháp quản lý hoạt động đào
tạo” tại trưừng Cao đắng nghề Hàng hải thành phó Hồ Chí Minh là đòi hỏi cấp
thiết và mới mẻ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động đào tạo, tạo ra
những bước chuyển biến về chất lượng đào tạo ngành nghề phù hợp với điều
kiện thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH của thành phố, trong cả
nước và quy định của công ước quốc tế.


9

- Tác giả Vũ Ngọc Hải đưa ra khái niệm về quản lý như sau: “Quản lý là
sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý
nhằm đạt mục tiêu đề ra.” [13]
- Hai tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng “Quản lý là một quá
trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình tác
động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc
trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”. [16]


10

- Tác giả Nguyễn Văn Lê cho rằng: “Quản lý là một hệ thống xã hội, là
khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là con người nhằm
đạt hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra”. [24]
- Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là qúa
trình đạt đến mục tiêu của tố chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức
năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiếm tra”. [8]
- Đối với tác giả Trần Quốc Thành đã đưa ra định nghĩa chung về quản lý,
có thể xem xét dưới hai góc độ:
+ Theo góc độ Chính trị xã hội thì quản lý là sự kết hợp giữa tri thức
với lao động. Vì vậy, quản lý được xem là tổ hợp các cách thức, phương pháp
tác động vào đối tượng nhằm thúc đây sự phát triến xã hội
+ Theo góc độ hành động thì quản lý là quá trình điều khiển. Chủ thể
quản lý điều khiển đối tượng quản lý để đạt tới mục tiêu đã đặt ra.
Từ đó tác giả đã đưa ra định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ
thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và
hoạt động cúa con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù
hợp với quy luật khách quan”. [28]
Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định; nó
thể hiện mối quan hệ chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là quan hệ giữa

đích có tính khách quan. Nhà quản lý, cùng đông đảo đội ngũ giáo viên, học sinh,
các lực lượng xã hội,...bằng hành động của mình hiện thực hoá mục đích đó trong
hiện thực.

về

thuật ngữ QLGD cũng có nhiều quan niệm khác nhau. Theo ý kiến của

tác giả Trần Kiêm thì thuật ngữ này có nhiều cấp độ. ít nhất có hai cấp độ chủ
yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô. cấp quản lý vĩ mô tương ứng với việc quản lý một
hoặc một loạt đối tượng có quy mô lớn, bao quát toàn bộ hệ thống. Đối với cấp
vĩ mô:
- QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có
kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích
của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực
hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ
theo yêu cầu của xã hội. Hoặc:
- QLGD là sự tác động hên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể
quản lý trên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội/ tính trồi của hệ thống;
sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ
thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với
môi trường bên ngoài luôn biến động. Hoặc:


12

- Cũng có thể định nghĩa QLGD là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý
nhằm huy động, tố chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát... một cách có hiệu quả
các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát
triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. [21]


13

một tương lai rực rỡ”. Dân tộc Việt nam luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục,
Đảng và Nhà nước ta đã khắng định: Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Nhà trường là tế bào, là đơn vị cấu trúc cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc
dân. Chính nơi đây sẽ hiện thực hóa mọi chủ trương, đường lối, chính sách giáo
dục của Đảng, Nhà nước các cấp; đồng thời cũng là nơi kiểm chứng những vấn
đề lý luận Khoa học giáo dục nói chung, Khoa học quản lý giáo dục nói riêng.
Vì vậy, có thể nói nhà trường là bộ mặt phản ánh nền giáo dục của cả một đất
nước.
Nhà trường là thiết chế chuyên biệt của xã hội thực hiện các chức năng kiến
tạo các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho một nhóm dân cư nhất định của xã hội
đó. Nhà trường được tổ chức sao cho việc kiến tạo kinh nghiệm xã hội nói trên
đạt được các mục tiêu mà xã hội đó đặt ra cho nhóm dân cư được huy động vào
sự kiến tạo này một cách tối ưu theo quan niệm của xã hội.
Chúng ta cũng có thê hiểu nhà trường theo một khái niệm cụ thể hơn: Nhà
trường là thiết chế chuyên biệt của xã hội, nơi tố chức thực hiện và quản lý quá
trình giáo dục. Quá trình này được thực hiện bởi hai chủ thể: người được giáo
dục (người học) và người giáo dục (người dạy). Trong quá trình giáo dục, hoạt
động của người học (hoạt động học theo nghĩa rộng) và hoạt động của người dạy
(hoạt động dạy theo nghĩa rộng) luôn luôn gắn bó, tương tác, hỗ trợ nhau, tựa
vào nhau để thực hiện mục tiêu giáo dục theo yêu cầu của xã hội.
Như vậy, nhà trường là một cộng đồng học tập hay một tổ chức học tập,
không chỉ đối với học sinh mà còn đối với giáo viên và các nhà quản lý. Hệ
thống giáo dục nước ta bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên
với các ngành học từ mầm non đến đại học. Mục tiêu giáo dục nhằm “Đào tạo
con người Việt Nam phát triên toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thâm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xa
hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân,

lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường, hướng vào việc hoàn
thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến”. [21]
+ Quản lý nhà trường về bản chất là quản lý con người. Điều đó tạo
cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt
chẽ không những chỉ bởi cơ chế hoạt động của những tính quy luật khách quan
của một tố chức xã hội - nhà trường, mà còn bởi hoạt động chủ quan, hoạt động
của chính bản thân giáo viên và học sinh. Trong nhà trường, giáo viên và học


15

sinh vừa là đối tượng, vừa là chủ thể quản lý. Với tư cách là chủ thể quản lý, họ
là người tham gia chủ động, tích cực vào hoạt động quản lý chung và biến nhà
trường thành hệ tự quản lý. Trong thực tế, giáo viên và học sinh gắn với rất
nhiều quan hệ xã hội trong cộng đồng. Điều này đặt ra yêu cầu quản lý nhà
trường phải gắn vói quản lý xã hội và nhiệm vụ quan trọng của nó là phải thiết
lập một quan hệ tối ưu giữa những lợi ích, tình trạng và sự phát triển của cá
nhân, của cộng đồng và của xã hội. Từ góc độ này, “Quản lý nhà trường thực
chất là việc xác định vị trí của mỗi người trong hệ thống xã hội, là quy định
chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ, quan hệ cùng vai trò xã hội của họ mà trước hết
là trong phạm vi nhà trường với tư cách là một tổ chức xã hội” [21 ]
- Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục
nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm
của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tói
mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo”... [14]
Từ các khái niệm đó, ta có thể hiểu: Quản lý trường học là một hệ thống
những tác động sư phạm hợp lý và có tính hướng đích của chủ thể quản lý đến
tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm
làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối giáo dục - đào tạo của Đảng,
biến đường lối đó trở thành hiện thực. Quản lý trường học chính là quản lý giáo

thể.
Xét từ góc độ chuyển giao kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề
nghiệp chuyên môn, bồi dưỡng những phấm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị
tâm thế lao động cho người học, đào tạo được cấu thành bởi các yếu tố cấu trúc
gồm mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp, phương tiện và hình thức
tổ chức hoạt động đào tạo.
Quá trình chuyển giao năng lực nghề nghiệp được thực hiện trong hoạt động
cùng nhau của thầy và trò trong môi trường dạy học xác định. Xét từ góc độ này
đào tạo gồm các thành tố: 1) hoạt động dạy của giảng viên; 2) hoạt động học của
sinh viên; 3) môi trường đào tạo (môi trường, vật chất, môi trường tinh thần,
môi trường văn hóa).
Xét từ góc độ quá trình thực hiện nhiệm vụ theo chức năng của nhà trường,
đào tạo bao gồm các khâu: 1) đầu vào: đánh giá nhu cầu đào tạo, xây dựng các
chương trình đào tạo, xây dựng các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện các
chương trình đào tạo, tuyển sinh; 2) các hoạt động đào tạo: dạy học, thực tập,
giáo dục, nghiên cứu khoa học...3) đầu ra: kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục và
dạy học, xét công nhận tốt nghiệp, cấp phát văn bằng, chứng chỉ, kiểm định và
đảm bảo chất lượng đào tạo.


17

Vậy, hoạt động đào tạo có thể được coi là một hệ thống bao gồm các khâu
đầu vào, quá trình đào tạo và đầu ra cùng vận động trong mối quan hệ qua lại
mật thiết với nhau.
1.2.3.

Quản lý hoạt động đào tạo

Quản lý hoạt động đào tạo là nhiệm vụ trọng tâm, nằm trong công tác quản


18

Giải pháp thích hợp, sẽ giúp cho vấn đề được giải quyết nhanh hơn, hiệu quả cao
hơn.
1.2.4.2.

Giải pháp quản lý hoạt động đào tạo

Có thể hiểu khái niệm giải pháp quản lý là những định hướng quan điểm cho
công tác quản lý ở một lĩnh vực nào đó, nó cũng là cách thức, con đường, cách
làm cụ thể nhằm đạt hiệu quả cao nhất của quá trình quản lý nhằm tiết kiệm thời
gian và vật lực của các thành phần tham gia quản lý.
Từ khái niệm về giải pháp quản lý, ta có thể nhận thấy giải pháp quản lý hoạt
động đào tạo chính là cách thức tác động có hướng vào các vấn đề trong quá
trình đào tạo mà chủ thể quản lý xây dựng mục tiêu, kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo
thực hiện và kiếm tra đánh giá kết quả của hoạt động đào tạo nhằm tạo ra những
biến đổi về chất lượng trong quá trình quản lý hoạt động đào tạo đáp ứng yêu
cầu, mục tiêu đào tạo.

1.3. Một số vấn đề về hoạt động đào tạo ở trường Cao đẳng nghề Hàng hải
1.3.1. Đặc điểm của trường Cao đang nghề Hàng hải
Hệ thống các cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải ở Việt Nam: Trường Đại
học Hàng hải Việt Nam - Hải Phòng; Trường Đại học Giao thông Vận tải Thành
phố Hồ Chí Minh; Trường Cao đăng Hàng hải 1 - Hải Phòng, Trường Cao đắng
nghề Hàng hải TP-HCM; Trường Cao đắng nghề bách nghệ Hải Phòng và một
số trường Cao đẳng khác; Các công ty và tập đoàn hàng hải trong nước thực
hiện, thêm vào đó là một số sinh viên tốt nghiệp các trường hàng hải ở nước
ngoài về. Kể từ khi Bộ Luật về tiêu chuẩn huấn luyện, cấp bằng đi ca cho thuyền
viên ra đời, đặc biệt là khi quy chế huấn luyện, cấp chímg chỉ chuyên môn và

hàng hải. Trong những năm qua công tác Đào tạo và Huấn luyện của các trường
Cao đắng nghề Hàng hải không ngừng phấn đấu, đổi mới để vươn lên, hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao đã đạt được những thành tựu đáng kê trong việc
đào tạo nguồn nhân lực cho nền kinh tế của đất nước nói chung và ngành hàng
hải nói riêng. Chất lượng đào tạo ngày càng được nâng cao, quy mô ngày càng
phát triển mở rộng.
Bên cạnh những thành tích đạt được trong công tác đào tạo - huấn luyện, khi
tìm hiểu thực tiễn ta thấy: Hình thức tổ chức Đào tạo - Huấn luyện nguồn nhân
lực cho Hàng hải còn hạn chế chưa đáp ứng được hoàn toàn nhu cầu của thực
tiễn; Khả năng thực hành vẫn còn kém, Sức khoẻ hạn chế, tinh thần gắn bó với


20

nghề chưa cao, chưa có tính chuyên nghiệp và tác phong công nghiệp trong làm
việc; Yếu về ngoại ngữ, khả năng sử dụng tin học còn hạn chế, tính kỷ luật trong
lao động chưa cao; chưa có ý thức và hiểu biết đúng quan niệm “đi làm thuê”,
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Các chủ tàu thường phải huấn luyện lại.
Chương trình đào tạo chưa gắn liền với thực tiễn vẫn còn mang nặng tính lý
thuyết, phương pháp đào tạo theo kiểu cổ điển, lạc hậu; sự mềm dẻo và linh hoạt
trong quá trình đào tạo còn gặp một số hạn chế, chi phí đào tạo cao ...
Cơ sở vật chất còn nghèo nàn lạc hậu, thiếu tàu thực tập, thiếu các thiết bị hỗ
trợ ...
Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên chưa cân đối về tỷ lệ, cơ cấu không đồng
đều.
Với xu hướng quy mô đào tạo về ngành hàng hải ngày càng mở rộng và liên
kết đào tạo đang diễn ra ngày một sâu rộng. Do vậy đế hội nhập và phát triển thì
các Trường Cao đẳng nghề Hàng hải phải đặt vấn đề chất lượng lên hàng đầu,
tạo ra thế cạnh tranh bình đẳng.
1.3.2.

- về thế chất: Có đủ sức khỏe theo quy định đế đảm bảo làm việc lâu dài
trong lĩnh vực ngành nghề đào tạo.
1.3.3.

Nội dung đào tạo ở trường Cao đăng nghề Hàng hải

Để thực hiện được mục tiêu đào tạo trên, người học cần lĩnh hội một hệ
thống các nội dung đào tạo, được phân chia thành các nhóm môn học, mô đun
sau:
- Nhóm nội dung chỉnh trị-xã hội: Gồm các nội dung Triết học, Chính trị học,
Giáo dục công dân, Dân số và môi trường ... góp phần chủ yếu vào việc giáo dục
phẩm chất đạo đức, thái độ cho HS, s V.
- Nhóm nội dung khoa học — kỹ thuật- công nghệ - nghề nghiệp: Thường
được chia thành các nội dung khoa học cơ bản, lý thuyết - kỹ thuật cơ sở, lý
thuyết kỹ thuật chuyên môn ngành nghề, các nội dung thực hành, chủ yếu hình
thành năng lực, đó là hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo (tay chân và trí óc)
chung và riêng.
- Nhóm nội dung giáo dục thế chất và quốc phòng: Rèn luyện thể dục và các
môn thể thao theo yêu cầu đặc thù của ngành, nghề và chống các bệnh nghề
nghiệp: rèn luyện các khoa mục quân sự theo yêu cầu của từng cấp học.
Các nhóm nội dung đào tạo trên được thế hiện trong chương trình đào tạo của
từng ngành, nghề, được cấu trúc bởi các môn học, mô đun theo quy định của
chương trình khung của Bộ LĐTBXH ban hành.


22

Ngoài chương trình đào tạo chính khóa, HSSV còn được tham gia các
chương trình ngoại khóa nhằm đào tạo kỹ năng mền, rèn luyện thể lực, rèn ý
thức kỷ luật và tác phong công nghiệp.


23

08/2007/QĐ - BLĐTBXH ngày 26 tháng 3 nănm 2007 của Bộ trưởng Bộ
LĐTBXH ban hành Quy chế tuyển sinh học nghề và tuyển sinh theo chỉ tiêu đã
được phê duyệt trong Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động dạy nghề.
*

Quản lý việc thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo

Quản lý việc thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo được tiến
hành trong suốt quá trình đào tạo thực tế của nhà trường, thông qua việc quản lý
hoạt động dạy và hoạt động học sao cho các kế hoạch đào tạo, nội dung chương
trình đào tạo được thực hiện một cách đầy đủ, đúng về nội dung và tiến độ thời
gian nhằm đạt được các yêu cầu của mục tiêu đào tạo.
Công cụ chủ yếu của công tác quản lý việc thực hiện mục tiêu, nội dung
chương trình đào tạo chính là các chương trình khung, chương trình chi tiết môn
học, mô đun, tài liệu học tập,...và hệ thống các văn bản pháp quy hiện hình
khác.
Tuy nhiên, một số vấn đề lớn vẫn tồn tại từ lâu chưa giải quyết được tốt trong
quản lý việc thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo ở hầu hết các
trường Cao đẳng nghề Hàng hải là nhiệm vụ giáo dục và phát triển trong dạy học. Đó chính là cốt lõi trong vấn đề dạy chữ - dạy nghề - dạy người đang rất là
bức xúc ở nhà trường hiện nay. Trong thực tế quản lý việc thực hiện mục tiêu,
nội dung chương trình đào tạo, nhiều trường còn ít quan tâm, thường bỏ qua vấn
đề này.
Nội dung của việc quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo gồm có:
I Quản lý xác định nhu cầu đào tạo: khảo sát thực tế nhu cầu sử dụng của
thị trường lao động về lĩnh vực ngành nghề đào tạo; điều tra theo dấu vết người
tốt nghiệp
+ Quản lý việc phát triển chương trình đào tạo từ giai đoạn nghiên cứu

quá trình đào tạo.
Sau khi được quán triệt mục tiêu, nội dung chương trình và kế hoạch đào tạo,
trên cơ sở đó mỗi giảng viên lên kế hoạch giảng dạy, trong đó dự kiến nội dung,
thời gian, phương pháp cũng như phương tiện giảng dạy; chuẩn bị tài liệu giảng
dạy (giáo trình, tài liệu tham khảo). Đặc biệt, đối với dạy thực hành, ngoài công
tác chuẩn bị trên, giảng viên lập kế hoạch sử dụng các trang thiết bị thực hành ở
xưởng và kế hoạch phôi liệu, vật tư, nguyên vật liệu thực hành.
Quản lý hoạt động đào tạo mà trong đó quản lý, chỉ đạo thực hiện đúng và đủ
nội dung chương trình và kế hoạch đào tạo là một trong những khâu trọng yếu


25

của nhà trường, nhằm giúp giảng viên hoàn thành được nhiệm vụ chính trị của
mình theo đúng quy chế, quy định và đảm bảo chất lượng, hiệu quả đào tạo, góp
phần tích cực trong việc thực hiện và hoàn thành mục tiêu đào tạo đã đề ra.
* Quản lý quy hoạch đào tạo, bồi duỡng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản

Điều lệ mẫu trường Cao đắng nghề Ban hành kèm theo Quyết định số
51/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 05 tháng 05 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội, trong đó quy định Hiệu trưởng phải là người có
phẩm chất, đạo đức tốt, lý lịch rõ ràng; có tín nhiệm về chuyên môn nghiệp vụ;
có sức khỏe và năng lực quản lý, điều hành hoạt động của nhà trường; có bằng
thạc sĩ trở lên về một ngành chuyên môn phù hợp với nhiệm vụ đào tạo của nhà
trường; đã được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý nhà trường; Có thâm
niên giảng dạy hoặc tham gia quản lý dạy nghề ít nhất là năm năm; đối với
trường công lập, tuổi đời khi bổ nhiệm hiệu trưởng không quá 55 đối với nam và
50 đối với nữ. Phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo và nghiên cứu khoa học phải có
đủ tiêu chuẩn như đối với hiệu trưởng.
Cán bộ quản lý khoa như Trưởng khoa, Phó trưởng khoa là những người có

Bản kế hoạch bao gồm: Ke hoạch đào tạo khoá học; kế hoạch đào tạo năm
học, kế hoạch giảng dạy học kỳ, kế hoạch giảng viên, kế hoạch tài
chính...Trong đó kế hoạch đào tạo toàn khoá học là văn bản gốc, là cơ sở đê nhà
trường triển khai các hoạt động đào tạo trong nhà trường.
Ke hoạch đào tạo toàn khoá học gồm 3 nội dung chính:
- Mục tiêu đào tạo: Yêu cầu ghi cụ thể về trình độ chuyên môn, trình độ
đào tạo, kỹ năng hành nghề, thái độ chung đối với xã hội.
- Phân phối thời gian cho các môn học, mô đun: Đây là bản sắp xếp trình
tự các môn học, mô đun, môn nào học trước, môn nào học sau, số giờ lý thuyết,
thực hành, thực tập, qui định số giờ và hình thức kiêm tra kết thúc môn học, mô
đun (KTMH, MĐ) và số giờ dự kiến học ở kỳ nào.
- Lịch học toàn khoá: Thể hiện thời gian học lý thuyết, thực hành, thực
tập, thi học kỳ, thi tốt nghiệp, lao động, dự trữ, nghỉ hè, nghỉ tết, nghỉ lễ trong
học kỳ, năm học và cả khoá học.
+ Công tác tô chức
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận được quy định trong Điều


27

lệ trường cao đắng nghề; đồng thời, căn cứ vào trình độ, năng lực chuyên môn
nghiệp vụ, nhu cầu, hoàn cảnh của mỗi thành viên trong đơn vị mà tiến hành sắp
xếp, phân công nhiệm vụ một cách khoa học, hợp lý. Đặc biệt, phải xây dựng cơ
chế phối hợp, quy chế làm việc, giám sát lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau đê
hoàn thành nhiệm vụ. Trong quá trình thực hiện, BGH cần phải nắm bắt được
chất lượng của quá trình đào tạo, kịp thời khen thưởng, động viên những cá nhân
và tập thề làm tốt, đạt hiệu quả cao; đồng thời, thường xuyên theo dõi uốn nắn
những lệch lạc, kịp thời bổ sung, điều chỉnh, từng bước hoàn thiện thông qua hệ
thống quản lý.
+ Công tác chỉ đạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status