XÂY DỰNG DANH MỤC ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH BLUE STARS GROUP NĂM 2008 - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA SAU ĐẠI HỌC
-------------------------------

MÔN HỌC

LÝ THUYẾT ĐẦU TƯ

Đề tài:

XÂY DỰNG DANH MỤC
ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH
BLUE STARS GROUP
NĂM 2008

GVHD: TS.VÕ THỊ Q
LỚP: MBA5
BLUE STARS GROUP - BSG:
- LÊ NGỌC THƠNG
- ĐẶNG THANH TỒN
- ĐÀO MINH TUYẾN
- CAO TRÍ NHÂN

MỤC LỤC
Trang 1/50


I. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
I.1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
I.2. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

CAPM của William Sharpe và mô hình APT của (Arbitrage pricing theory) của S.A Ross đã
và đang được thực hiên thật nghiêm túc và càng ngày càng được nhân rộng.
Nhận thức được điều này, nhóm Blue Star chúng tôi vận dụng mô hình CAMP và lý
thuyết danh mục Markowitz để dự báo tỷ suất sinh lợi và rủi ro trên thị trường chứng khoán
Việt Nam với đề tài “XÂY DỰNG KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH BLUE STARS
GROUP ĐẾN NĂM 2008” với các mục tiêu:
- Tối thiểu hóa rủi ro cho NĐT khi đầu tư trên thị trường chứng khoán tại Việt
Nam.
- Gia tăng lợi nhuận cho NĐT khi đầu tư trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam.
- Đưa ra DMDT tối ưu
Quy mô vốn dự kiến đầu tư: 50 tỷ VNĐ đẩu tư vào các cổ phiếu, trái phiếu trong nước,
trên sàn giao dịch chứng khoán (thị trường NY) hoặc ngoài sàn giao dịch (thị trường OTC)
và kỳ vọng lợi nhận từ 15%-20%.

Trang 3/50


I.2. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi đề tài nghiên cứu là các cổ phiếu, trái phiếu đã niêm yết trên sàn giao dịch chứng
khoán HCM và Hà Nội hoặc ở thị trường OTC với quy mô vốn 50 tỷ VNĐ. Nghiên cứu đầu tư
chủ yếu vào:
• Cổ phiếu niêm yết;
• Cổ phiếu chưa niêm yết (OTC);
• Trái phiếu chính phủ;
• Trái phiếu công ty;
Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp lấy từ các trang web chứng khoán trên Internet.
II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT ĐẦU TƯ
Tất cả các quyết định đầu tư đều được cân nhắc dưới góc độ rủi ro và tỷ suất sinh lợi
mong đợi và những tác động của chúng trên giá chứng khoán (luôn biến đổi) cũng như kết
quả tài chính cuối cùng đạt được trong quyết định đầu tư. Ở một số quốc gia có thị trường

khoán.. Chỉ số EPS càng cao thì công ty tạo ra lợi nhuận cổ đông càng lớn và ngược lại.
Phân tích doanh lợi vốn chủ sở hữa ROE (LNST/VCSH)
Cần phân tích dupont để thấy rỏ hơn sự biến động của ROE là chủ yếu do doanh lợi
tiêu thụ hay dòng quay tài sản, chỉ số nào biến động lớn hơn. Phân tích ROE nhằm tìm ra khả
năng sinh lời từ đồng vốn chủ sở hữu. Phân tích ROE nhằm tìm ra tỷ lệ sinh lời của nó để
quyết định đầu tư vào công ty có cùng ngành nghề nhưng có ROE lớn hơn .
Phân tích chỉ số Yield để đầu tư chứng khoán
Phân tích Chỉ số Current Yield (Tỷ suất thu nhập trên thời giá cổ phần) nhằm phản ánh
mối quan hệ giữa cổ tức nhà đầu tư nhận được từ công ty với giá cổ phiếu mà nhà đầu tư
mua vào. Current Yield là tỷ lệ cổ tức mà cổ đông nhận được trên giá chứng khoán mà cổ
đông đó mua vào
Phân tích Chỉ số NAV (Net Asset value)
Phân tích Chỉ số NAV có liên quan mật thiết đến việc xác định giá trị tài sản công ty và
tài sản cổ đông. Từ đó nhà đầu tư sẽ không bị nhầm lẫn giữa vẽ bề thế bên ngoài và bản chất
tài sản thật bên trong của công ty.

Trang 5/50


II.2. ĐỊNH GIÁ TRÁI PHIẾU VÀ CỔ PHIẾU
II.2.1 Định giá trái phiếu
II.2.1.1 Định giá trái phiếu có kỳ hạn được hưởng lãi
Trái phiếu có kỳ hạn được hưởng lãi (nonzero coupon bond) là loại trái phiếu có xác
định thời hạn đáo hạn và lãi suất được hưởng qua từng thời hạn nhất định. Khi mua loại trái
phiếu này nhà đầu tư được hưởng lãi định kỳ, thường là hàng năm, theo lãi suất công bố
(coupon rate) trên mệnh giá trái phiếu và được thu hồi lại vốn gốc bằng mệnh giá khi trái
phiếu đáo hạn.
Tính giá của trái phiếu, bằng hiện giá toàn bộ dòng tiền thu nhập từ trái phiếu trong
tương lai, được xác định như sau:
V =

giá như là hiện giá của mệnh giá khi trái phiếu đáo hạn.
V =

MV
= MV ( PVIFkd ,n )
(1 + k d ) n

Trang 6/50


II.2.1.3 Định giá trái phiếu trả lãi bán niên
Thông thường trái phiếu được trả lãi hàng năm một lần nhưng đôi khi cũng có loại trái
phiếu trả lãi bán niên, tức là trả lãi mỗi năm hai lần. Kết quả là mô hình định giá trái phiếu
thông thường phải có một số thay đổi thích hợp để định giá trong trường hợp này.
2n

V =∑
t =1

I /2
MV
+
= ( I / 2)( PVIFAk d / 2, 2 n ) + MV ( PVIFkd / 2, 2 n )
t
(1 + k d / 2)
(1 + k d / 2) 2 n

II.2.1.4 Lợi suất đầu tư trái phiếu
Nếu biết trước giá trái phiếu và các yếu tố khác như lãi hàng năm được hưởng, mệnh
giá hoặc giá thu hồi trái phiếu trước hạn và thời hạn của trái phiếu chúng ta có thể xác định

khi trái phiếu được thu hồi (kd = YTC).

Trang 7/50


II.2.2 Định giá cổ phiếu
II.2.2.1 Định giá cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu mà công ty phát hành cam kết trả tỷ lệ cổ tức cố định
hàng năm và không có tuyên bố ngày đáo hạn. Rõ ràng loại cổ phiếu này có những tính chất
giống như trái phiếu vĩnh cửu. Do đó, mô hình định giá trái phiếu vĩnh cửu có thể áp dụng để
định giá cổ phiếu ưu đãi. Giá cổ phiếu ưu đãi được xác định theo công thức sau:
V = Dp/kp ,
trong đó Dp là cổ tức hàng năm của cổ phiếu ưu đãi và kp là tỷ suất chiết khấu thích
hợp.
II.2.2.2 Định giá cổ phiếu thường
Cổ phiếu thường còn gọi là cổ phiếu phổ thông. Người mua cổ phiếu thường được chia
lợi nhuận hàng năm từ kết quả hoạt động của công ty và được sở hữu một phần giá trị công
ty tương ứng với giá trị cổ phiếu họ đang nắm giữ.
Khi định giá trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi chúng ta thấy rằng giá trái phiếu và cổ phiếu
ưu đãi chính là hiện giá của dòng tiền tệ thu nhập tạo ra cho nhà đầu tư. Tương tự, giá cổ
phiếu thường cũng được xem như là hiện giá dòng tiền tệ thu nhập tạo ra cho nhà đầu tư từ
cổ phiếu thường. Do đó, mô hình định giá cổ phiếu thường nói chung có dạng như sau:

Dt
D1
D2
D∞
V =
+
+ ... +

* Mô hình chiết khấu cổ tức - DCF
Mô hình chiết khấu cổ tức được thiết kế để tính giá trị lý thuyết (intrinsic value) của cổ
phiếu thường. Mô hình này được Merrill Lynch, CS First Boston và một số ngân hàng đầu tư
khác sử dụng với giả định: (1) biết được động thái tăng trưởng của cổ tức, và (2) biết trước tỷ
suất chiết khấu.
Mô hình chiết khấu cổ tức DCF:
V=


D1
D2
D∞
Dt
+
+
...
+
=

1
2

t
(1 + ke ) (1 + ke )
(1 + ke )
t =1 (1 + k e )

Liên quan đến động thái tăng trưởng cổ tức, chúng ta xem xét các trường hợp sau:
 Trường hơp tốc độ tăng trưởng cổ tức không đổi g
V = D1/ (ke – g)

Phương pháp này đơn giản, dễ áp dụng nhưng có nhiều hạn chế. Thứ nhất việc định giá
cổ phiếu thường không chính xác do phải phụ thuộc vào việc ước lượng lợi nhuận kỳ vọng
trên cổ phiếu. Thứ hai, làm thế nào để chọn được tỷ số PE phù hợp và liệu nhà đầu tư có tin
tưởng vào tỷ số PE bình quân của ngành hay không, nếu có thì vẫn còn sai số giữa tỷ số PE
của ngành và PE của công ty.
II.2.2.3 Lợi suất cổ phiếu
Cổ phiếu ưu đãi:
Nếu thay giá thị trường hiện tại (P0) cho giá trị lý thuyết (V) trong công thức tính giá trị
lý thuyết của cổ phiếu ưu đãi chúng ta có được:
P0 = Dp/kp
Trong đó Dp là cổ tức của cổ phiếu ưu đãi và kp là lợi suất đòi hỏi khi đầu tư cổ phiếu
ưu đãi. Từ công thức trên chúng ta có thể tìm lợi suất cổ phiếu ưu đãi như sau:
kp = Dp/P0
Cổ phiếu thường:
Tương tự như trong trường hợp cổ phiếu ưu đãi, chúng ta cũng thay thế giá trị lý thuyết
(V) bằng giá trị thị trường hiện tại (P0) chúng ta sẽ có được:
P0 = D1/(ke – g)
Từ công thức trên chúng ta có thể tìm lợi suất đầu tư cổ phiếu thường (ke):
ke = D1/P0 + g
II.3.1. MÔ HÌNH CAPM
Ba nhà kinh tế học William Sharpe, John Lintner và Jack Treynor đã đưa ra mô hình
CAPM (Capital Asset Pricing Model) Vào những năm giữa thập niên 60, ba nhằm dự báo tỷ
suất sinh lợi của một chứng khoán thông qua beta của chứng khoán đó. Mô hình CAPM có
nền tảng lý thuyết vững chắc. Mặc dù Beta chưa có tính ổn định nhưng mô hình về cơ bản
CAPM được xem là hiệu quả và đã tồn tại suốt 40 năm qua.
II.3.1. Giới thiệu chung
Mô hình định giá tài sản vốn (Capital asset pricing model – CAPM) là mô hình mô tả
mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng. Trong mô hình này, lợi nhuận kỳ vọng bằng
lợi nhuận không rủi ro (risk-free) cộng với một khoản bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro toàn
hệ thống của chứng khoán đó. Còn rủi ro không toàn hệ thống không được xem xét trong mô

Như đã nói β là hệ số đo lường rủi ro của chứng khoán. Trên thực tế các nhà kinh
doanh chứng khoán sử dụng mô hình hồi qui dựa trên số liệu lịch sử để ước lượng β. Ở các
nước có thị trường tài chính phát triển có một số công ty chuyên xác định và cung cấp thông
tin về hệ số β. Chẳng hạn ở Mỹ người ta có thể tìm thấy thông tin về β từ các nhà cung cấp
dịch vụ là Value Line Investment Survey, Market Guide (www.marketguide.com) và
Standard & Poor’s Stock Reports. Ở Canada thông tin về β do Burns Fry Limited cung cấp.
Trang 11/50


 Quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận
Lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán có quan hệ đồng biến với rủi ro của chứng
khoán đó, nghĩa là nhà đầu tư kỳ vọng chứng khoán rủi ro cao sẽ có lợi nhuận cao và ngược
lại. Hay nói khác đi, nhà đầu tư giữ chứng khoán có rủi ro cao chỉ khi nào lợi nhuận kỳ vọng
đủ lớn để bù đắp rủi ro. Phần trước chúng ta đã nói β là hệ số dùng để đo lường rủi ro của
một chứng khoán. Do đó, lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán có quan hệ đồng biến với
hệ số β của nó.
Giả sử rằng thị trường tài chính hiệu quả và nhà đầu tư đa dạng hoá danh mục đầu tư
sao cho rủi ro không toàn hệ thống không đáng kể. Như vậy, chỉ còn rủi ro toàn hệ thống ảnh
hưởng đến lợi nhuận của cổ phiếu. Cổ phiếu có beta càng lớn thì rủi ro càng cao, do đó, đòi
hỏi lợi nhuận cao để bù đắp rủi ro. Theo mô hình CAPM mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi
ro được diễn tả bởi công thức sau:




R j = R f + ( Rm − R f ) β j

(3.1)



RF
Lợi nhuận không rủi ro

0

1

Beta của chứng khoán

Từ công thức 3.1 và hình 3.4 chúng ta có thể rút ra một số điều quan trọng sau đây:
 Beta bằng 0 – Lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán có beta bằng 0 chính là lợi
nhuận không rủi ro, Rf, bởi vì trong trường hợp này:






R j = R f + ( R m − R f ) β j = R f + ( R m − R )0 = R f

.

 Beta bằng 1 – Lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán có beta bằng 1 chính là lợi


nhuận thị trường, R m , bởi vì trong trường hợp này:





Một số học giả khi áp dụng mô hình CAPM đã phát hiện ra một số điểm bất thường
khiến CAPM không còn đúng như trường hợp bình thường. Những điểm bất thường bao
gồm :
Trang 13/50


o Ảnh hưởng của qui mô công ty – Người ta phát hiện rằng cổ phiếu của công ty
có giá trị thị trường nhỏ (market capitalization = price per share x number of
share) đem lại lợi nhuận cao hơn cổ phiếu của công ty có giá trị thị trường lớn,
nếu những yếu tố khác như nhau.
o Ảnh hưởng của tỷ số PE và MB – Người ta cũng thấy rằng cổ phiếu của những
công ty có tỷ số PE( price/earning ratio) và tỷ số MB (market-to-book value
ratio) thấp đem lại lợi nhuận cao hơn cổ phiếu của những công ty có tỷ số PE và
MB cao.
o Ảnh hưởng tháng Giêng – Những người nào nắm giữ cổ phiếu trong khoảng thời
gian từ tháng 12 đến tháng 1 thường có lợi nhuận cao hơn so với những tháng
khác. Tuy vậy, người ta cũng lưu ý mặc dù ảnh hưởng tháng Giêng được tìm
thấy trong nhiều năm nhưng không phải năm nào cũng xảy ra.
 Những nghiên cứu và phát hiện của Fama và French
Eugene Fama và Kenneth French tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về quan hệ giữa lợi
nhuận của cổ phiếu, qui mô công ty, tỷ số MB và hệ số beta. Kết quả kiểm định dựa vào số
liệu thời kỳ 1963 – 1990 cho thấy rằng các biến qui mô và tỷ số MB là những biến ảnh
hưởng mạnh đến lợi nhuận cổ phiếu. Khi những biến này được đưa vào phân tích hồi qui
trước rồi mới thêm biến beta vào thì kết quả cho thấy rằng biến beta không mạnh bằng các
biến kia trong việc giải thích lợi nhuận cổ phiếu. Điều này khiến giáo sư Fama, một giáo sư
có uy tín, đi đến kết luận rằng beta không phải là biến duy nhất giải thích lợi nhuận. Ông phát
động cuộc tấn công vào khả năng sử dụng mô hình CAPM để giải thích lợi nhuận cổ phiếu
và đề nghị rằng biến qui mô và biến tỷ số MB thích hợp để giải thích lợi nhuận hơn là biến
rủi ro. Các nhà nghiên cứu khác bình luận gì?
Người ta cho rằng Fama và French giải thích lợi nhuận thị trường với hai biến dựa vào

chứng khoán này có hệ số tương quan nghịch nên khi kết hợp hai chứng khoán này lại trong
một danh mục đầu tư thì rủi ro sẽ được loại trừ.

Hình 4.1:

Kết hợp hai chứng khoán A và B để cắt giảm rủi ro

Chứng khoán A

Chứng khoán B

Kết hợp

A và B
Lợi nhuận đầu tư

Lợi nhuận đầu tư

Thời gian

Lợi nhuận đầu tư

Thời gian

Trang 15/50

Thời gian


Cụ thể hơn, giả sử bạn đang xem xét đầu tư vào một đảo quốc, ở đó có hai mùa mưa và

=
hệ thống

+

Rủi ro
phi hệ +
thống

Rủi ro phi hệ thống chỉ ảnh hưởng đến một công ty hay một ngành nào đó. Chẳng hạn
một cuộc đình công hay một đối thủ cạnh tranh phát triển sản phẩm mới hay một phát minh
Trang 16/50


ra công nghệ tiên tiến của công ty nào đó làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của một công ty hay
một ngành chứ không thể ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường nói chung. Loại rủi ro phi hệ
thống có thể giảm được bằng chiến lược đầu tư da dạng hoá. Hình 4.2 dưới đây biểu diễn sự
kết hợp hai loại rủi ro và mối quan hệ giữa rủi ro và số lượng chứng khoán trong danh mục
đầu tư, theo đó khi số lượng chứng khoán trong danh mục đầu tư tăng lên thì rủi ro nói chung
giảm xuống.

Hình 4.2: Rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống

Độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư

Tổng rủi ro

Quản lý danh mục đầu tư có những lợi ích sau:
- Thứ nhất, đa dạng hoá danh mục đầu tư là nhu cầu của người đầu tư, có trường hợp


Thứ hai, xây dựng các chiến lược phù hợp với mục tiêu bao gồm việc lập các tiêu
chuẩn và phân bổ đầu tư.
Thứ ba, giám sát theo dõi những diễn biến giá cả tương đối của chứng khoán trên thị
trường, cả mức độ rủi ro và lợi nhuận mong đợi.
Thứ tư, điều chỉnh danh mục đầu tư phù hợp với diễn biến của thị trường và mục tiêu
của người đầu tư.
Quản lý danh mục đầu tư một cách chủ động hay bị động ?
Học thuyết về thị trường hữu hiệu cho rằng, việc quản lý danh mục đầu tư chủ động
(tức là dựa vào kỹ thuật và công nghệ hiện đại để phân tích, đầu tư vào một loại chứng khoán
nào đó) chỉ là sự lãng phí thời gian và tiền bạc. Học thuyết này khuyến khích cho chiến lược
đầu tư bị động. Mục tiêu duy nhất của chiến lược đầu tư bị động là tạo dựng một danh mục
đầu tư được đa dạng hóa hoàn toàn. Điều này trái ngược hẳn với quản lý chủ động là luôn đi
tìm những chứng khoán định giá thấp hơn hay cao hơn giá thị trường để mua hoặc bán kiếm
lời.
II.4.2. Lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz
Vào đầu thập niên 60, những nhà đầu tư đã có nói về rủi ro, nhưng không có những ước
lượng cụ thể cho từng khoản mục. Tuy nhiên, để xây dựng một mô hình danh mục đầu tư ,
các NĐT phải xác định rủi ro có thể có. Mô hình danh mục đầu tư cơ bản được Harry
Markowitz phát triển, Markowitz đã phát hiện tỷ suất sinh lợi mong đợi đối với danh mục
đầu tư của các tài sản và một ước lượng rủi ro mong đợi. Markowitz chỉ ra rằng phương sai
của tỷ suất sinh lời và một ước lượng rủi ro mong đợi . Markowitz chỉ ra rằng phương sai của
tỷ suất sinh lợi là một ước lượng có ý nghĩa của rủi ro danh mục với một tập hợp những giả
định, và ông đã tìm ra công thức để tính toán phương sai của danh mục. Công thức tính toán

Trang 18/50


phương sai danh mục này đã chỉ ra sự quan trọng của việc đa dạng hóa đầu tư để giảm thiểu
rủi ro tổng thể và cũng chỉ ra cách đa dạng hóa đầu tư hiệu quả.
Bằng cách giã định tỷ suất sinh lợi được phân phối theo phân phối chuẩn, Markowitz đã

n

∑ [W
i =1

i

− E (W )] ( Pi )
2

Trang 19/50


- Hệ số tương quan
ρ j,k =

Cov ( r j ; rk )

σ jσk

- Hệ số biến thiên (coefficient of variation)
CV =

σ
E (R)

Tài sản có hệ số biến thiên càng nhỏ thì sẽ có rủi ro thấp hơn những tài sản só hệ số
biến thiên cao.
- Hiệp phương sai lợi nhuận của 2 chứng khoán: là chỉ tiêu đo lường mức độ quan hệ
tuyến tính giữa 2 chứng khoán. Hiệp phương sai được xác định bởi công thức:

E p (rhumanex ) = ∑ E i (r )Wi
i =1

Nhà đầu tư thiết lập danh mục đầu tư (P) trên cơ sở xem xét suất sinh lợi kỳ vọng và
phương sai (hay độ lệch chuẩn) của suất sinh lợi.

Trang 20/50


III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU – XÂY DỰNG DMĐT
- Ứng dụng Mô hình CAPM và lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz
- Phân tích cơ bản
- Phân tích kỹ thuật
- Phương pháp nghiên cứu và xây dựng DMĐT:
1. Phân tích tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam
2. Phân tích tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam
3. Lập danh mục thị trường
Lựa chọn sơ bộ các CP và trái phiếu dựa vào PE, tỳ suất chiết khấu
4. Phân tích tương quan
Phân tích tương quan các cổ phiếu trong danh mục thì trường có rũi ro và trái
phiếu phi rũi ro.
Sử dụng phần mềm SPSS hoặc Excel để lập ra ma trận tương quan
5. Lựa chọn DMĐT
Lựa chọn những CP nào có tương quan kém hoặc tương quan âm đưa vào DMĐT
Phân tích các chỉ sổ cơ bản của DMĐT: hệ số Beta, E(r), Rm...
6. Xác định tỷ lệ các tài sản đầu tư trong DMĐT
Áp dụng lý thuyết về DMĐT của Markowitz và sử dụng phần mềm CrystallBall để
chạy mô phổng đưa ra tỷ lệ phù hợp để tối ưu hóa DMĐT
7. Phân tích cơ bản – phân tích kỹ thuật
Phân tích cơ bản các chỉ số tài chính của các công ty

nhiều nước, các ngân hàng thương mại sẽ siết chặt tiêu chuẩn tín dụng, doanh nghiệp sẽ khó
tiếp cận nguồn vốn hơn nhưng đồng thời các ngân hàng trung ương sẽ tiếp tục cung ứng tiền
ra thị trường để ngăn chặn nguy cơ sụp đổ tài chính. Hậu quả của tình trạng này là lượng đầu
tư xã hội sẽ giảm nhưng lạm phát tăng tuy vẫn nằm trong tầm kiểm soát của các chính phủ.
Đồng USD yếu có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu của Mỹ nhưng lại gây khó cho hầu hết
các nền kinh tế. Giá dầu thô sẽ dao động trong mức 69 USD/thùng, thấp hơn giá dầu năm
2007 hiện đang ở mức 91 USD/thùng; giá các mặt hàng chủ yếu, mà năm nay đã tăng 16%,
sẽ chỉ tăng khoảng 1% trong năm 2008 vì cán cân cung cầu đang dần bình ổn.
Trang 22/50


Các nền kinh tế
Mặc dù kinh tế thế giới năm 2008 tăng trưởng chậm hơn năm nay, vẫn nổi lên các
“ngôi sao sáng”. Trong 12 nền kinh tế có tiềm năng tăng trưởng cao nhất, Việt Nam xếp thứ
10/12.
Đa số các nền kinh tế này (ở châu Phi, Trung Á và Trung Đông) có mức tăng trưởng
cao nhưng không bền vững vì đều có điểm xuất phát thấp và phụ thuộc vào giá dầu mỏ. Dự
báo tăng trưởng bình quân của châu Á và Úc (trừ Nhật Bản) năm 2008 là 6,6%, trong đó
riêng ASEAN là 5,1%.
Hiện tượng đáng chú ý nhất là Trung Quốc. Với tốc độ tăng trưởng 10,1% Trung Quốc
sẽ tạo ra tổng sản lượng 3,94 ngàn tỉ USD. Xét về GDP danh nghĩa, Trung Quốc đã gần bắt
kịp Nhật (4,96 ngàn tỉ USD), vượt qua Đức (3,43 ngàn tỉ) và Anh (2,84 ngàn tỉ). Nhưng nếu
tính theo sức mua tương đương PPP, GDP của Trung Quốc sẽ là 12,9 ngàn tỉ USD, gần gấp
ba lần Nhật (4,48 ngàn tỉ USD) và tương đương với GDP của Mỹ (14,4 ngàn tỉ USD).
Năm 2008 Trung Quốc sẽ tận dụng Thế vận hội Bắc Kinh để đánh bóng hình ảnh đang
hoen ố do nạn ô nhiễm môi trường trầm trọng và lối ứng xử trên trường quốc tế. Về mặt đối
nội, nền kinh tế quá nóng đang gây cho Trung Quốc nhiều vấn đề, song năm 2008 nó sẽ được
làm nguội không phải do chính sách của Trung Quốc mà do nhu cầu đối với hàng xuất khẩu
của Trung Quốc giảm sút.
Mặt khác, năm 2008 sẽ chứng kiến việc Trung Quốc thay thế cho Mỹ trở thành thị

17,86 tỷ USD.
Giá trị sản xuất của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2007 theo giá so sánh
năm 1994 ước đạt gần 200 nghìn tỷ đồng, tăng 4,6% so với năm 2006, trong đó nông nghiệp
tăng 2,9%; lâm nghiệp tăng 1% và thuỷ sản tăng 11%.
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 ước tính tăng 17,1% so với năm 2006.Giá trị
hàng hóa xuất khẩu năm 2007 ước đạt gần 48,4 tỷ USD, tăng 21,5% so với năm 2006, trong
đó tất cả các mặt hàng chủ yếu đều tăng.
Giá trị xuất, nhập khẩu dịch vụ cả năm 2007 ước đạt 12,4 tỷ USD, tăng 21,6% so với
năm trước, trong đó giá trị xuất khẩu dịch vụ đạt 6 tỷ USD, tăng 18,2% và giá trị nhập khẩu
dịch vụ, gồm cả phí vận tải và bảo hiểm hàng nhập khẩu đạt 6,4 tỷ USD, tăng 24,9%.
Năm 2007 hoạt động bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển mạnh. Số thuê bao điện
thoại phát triển mới trong năm 2007 ước đạt 18,5 triệu thuê bao (gần bằng số thuê bao phát
triển trong 3 năm 2004, 2005, 2006) nâng tổng số thuê bao trên cả nước tính đến hết tháng
12/2007 đạt 46 triệu thuê bao. Số thuê bao internet (quy đổi) phát triển mới năm 2007 ước
đạt 1,18 triệu thuê bao. Đến nay đã có 18,2 triệu người sử dụng internet, chiếm 21,4% dân số
cả nước.

Trang 24/50


Lượng khách quốc tế đến nước ta trong năm 2007 ước tính đạt 4,23 triệu lượt người,
tăng 18% so với năm 2006.
Vận tải hành khách năm 2007 ước tính đạt 1535,5 triệu lượt khách và 67,2 tỷ lượt
khách.km; so với năm trước tăng 8,4% về lượt khách và tăng 8,6% về lượt khách.km.
Tuy còn một số tồn tại về vấn đề nhập siêu, giá cả hàng hóa tăng cao xong nền kinh tế
Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn thách thức để đạt tốc độ tăng trưởng như đầu năm đã
đề ra là gần 8,5%.
Năm 2007, nhìn chung đời sống của dân nhân tiếp tục ổn định và từng bước được cải
thiện. Mặc dù chịu tác động của nhiều yếu tố như giá tiêu dùng liên tục tăng, sản xuất nông
nghiệp ở một số vùng chịu ảnh hưởng nặng nề của bão lũ, nhưng đời sống của đại đa số dân

vực kinh tế tư nhân và đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI). Khu vực kinh tế không thuộc
Trang 25/50



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status