MỘT số nội DUNG GIẢNG dạy CHUYÊN sâu CHUYÊN đề QUAN hệ QUỐC tế GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI (1919 1939) CHO học SINH GIỎI - Pdf 33

CHUYÊN ĐỀ THAM DỰ HỘI THẢO
TÊN ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ NỘI DUNG GIẢNG DẠY CHUYÊN SÂU
CHUYÊN ĐỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ GIỮA HAI CUỘC
CHIẾN TRANH THẾ GIỚI (1919 - 1939)
CHO HỌC SINH GIỎI

1


A. MỞ ĐẦU
***
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của các trường THPT Chuyên là công
tác phát hiện, tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi. Có thể nói đây là công việc
thường xuyên và cũng là nhiệm vụ đầy khó khăn của khối các trường THPT Chuyên;
ngược lại, số lượng và chất lượng giải HSG là tiêu chí hàng đầu đánh giá năng lực
của các cá nhân và tập thể (các trường), các địa phương, các vùng, miền… Bởi vậy,
bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung, bồi dưỡng HSG môn Lịch sử nói riêng cho các kì
thi chọn HSG là vấn đề luôn được các cấp quản lí, các giáo viên trực tiếp giảng dạy
quan tâm và trăn trở.…
Đối với bộ môn Lịch sử, do mang tính đặc thù bộ môn và do các yếu tố khách
quan mà nhiệm vụ bồi dưỡng HSG càng trở nên khó khăn và phức tạp. Trong những
năm qua chúng tôi đã nỗ lực hết sức để nâng cao số lượng và chất lượng HSG, những
thành quả bước đầu chúng tôi đạt được tuy còn khiêm tốn song đã mang tính khả
quan. Qua thực tiễn giảng dạy chúng tôi rút ra những nhận định và tổng kết được một
số kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng HSG. Theo tôi, để hoạt động bồi dưỡng
HSG có hiệu quả thì phải tự đánh giá những thuận lợi và khó khăn, ưu điểm và hạn
chế; phải tìm được giải pháp, phải coi trọng yếu tố con người (thầy – trò), trên cơ sở
đó lựa chọn các phương pháp phù hợp.

phần nâng cao chất lượng bộ môn Sử, góp phần quan trọng trong việc trang bị kiến
thức cần thiết cho học sinh. Hình thành cho học sinh niềm vui thích khi học Lịch sử
từ đó có thể tự học tự tìm hiểu một vấn đề lịch sử, qua đó phát huy tính năng động,
sáng tạo của học sinh đặc biệt là khối học sinh chuyên Sử.

3


B/NỘI DUNG
I/ MỘT SỐ NỘI DUNG CHUYÊN SÂU CỦA CHUYÊN ĐỀ QUAN HỆ QUỐC
TẾ TỪ 1919 – 1939.
1. Sự hình thành trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ nhất
Trước hết chúng ta cần nắm được những nét khái quát về tình hình quốc tế sau chiến
tranh thế giới I. Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc đã mở ra một thời kỳ mới trong
quan hệ quốc tế. Kết cục của chiến tranh đã tác động mạnh mẽ đến tình hình thế giới
đặc biệt là đối với châu Âu.
Chiến trường chính của cuộc chiến tranh diễn ra ở châu Âu, vì thế các cường
quốc châu Âu đều bị suy yếu. Hai nước tư bản lâu đời Anh và Pháp tuy chiến thắng
nhưng nền kinh tế bị kiệt quệ sau chiến tranh và trở thành con nợ của Mĩ. Italia, một
đồng minh ốm yếu trong chiến tranh, bị xâu xé bởi cuộc đấu tranh gay gắt trong nước
và khủng hoảng kinh tế. Ba đế quốc rộng lớn ở châu Âu là Nga, Đức, áo - Hung lần
lượt sụp đổ. Đế quốc Đức và Áo - Hung bại trận, bị tàn phá nặng nề và những cuộc
cách mạng bùng nổ đã đẩy các nước này vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng.

Trong khi đó các cường quốc ở ngoài châu Âu như Mỹ và Nhật, không bị tàn
phá bởi chiến tranh, đã vươn lên nhanh chóng, vượt qua nhiều nước tư bản ở châu
Âu. Tương quan lực lượng giữa các cường quốc thay đổi rõ rệt, ngày càng bất lợi cho
các nước tư bản châu Âu vốn chiếm vị trí trung tâm trong thế giới tư bản chủ nghĩa
trước đây.


trào cách mạng đang lên cao ở các nước châu Âu và âm mưu bá chủ châu Âu của
Pháp. Đó là chính sách “cân bằng lực lượng” ở châu Âu mà Mĩ rất ủng hộ. Ngay từ
đầu năm 1918, một năm trước khi chiến tranh kết thúc, Tổng thống Mĩ Wilson đã đưa
ra Chương trình 14 điểm nhằm lập lại hoà bình và tổ chức lại thế giới sau chiến
tranh theo quan điểm của Mĩ với những nội dung cơ bản như sau:
1. Đưa ra những hiệp định rõ ràng, không bí mật.
2. Tự do thông thương của các đại dương.
3. Bãi bỏ các rào cản kinh tế.
4. Cắt giảm vũ khí.
5. Dàn xếp các yêu sách của thuộc địa theo quyền lợi của các dân tộc bị trị.
6. Quân Đức rút khỏi Nga, quyền tự do về chính sách quốc gia cho Nga.
7. Quân Đức rút khỏi Bỉ, Bỉ là nước độc lập.
8. Quân Đức rút khỏi Pháp, Alsace-Loraine thuộc về Pháp.
9. Điều chỉnh biên giới Italia.
10. Các dân tộc của đế quốc Áo có quyền tự quyết.
11. Quân Đức rời khỏi Rumani, Serbia và Montenegro, Serbia có một lối đi ra
biển.
12. Các dân tộc của đế quốc Ottoman có quyền tự quyết, eo biển Dardanelless
cho phép tàu của mọi quốc gia.
13. Ba Lan độc lâp, có một lối đi ra biển.
14. Thành lập một tổ chức quốc tế để giữ gìn hòa bình
Với những lời lẽ bóng bảy, bề ngoài đề cao hoà bình, dân chủ như “Các hòa
ước kí kết công khai”, “Hoàn toàn tự do đi lại trên mặt biển”, “Hạn chế vũ khí tới
mức tối thiểu”, “Tôn trọng quyền phát triển tự lập của các dân tộc”... Chương trình
14 điểm thể hiện mưu đồ xác lập địa vị bá chủ thế giới của Mĩ, làm suy yếu các đối
5


thủ cạnh tranh Anh, Pháp và Nhật Bản, tạo cơ hội để Mĩ vượt khỏi sự biệt lập của
châu Mĩ, vươn ra bên ngoài bằng sức mạnh kinh tế và ảnh hưởng chính trị chứ không

công ước sáng lập.
Về cơ cấu tổ chức:
6


Hội Quốc liên có 3 tổ chức chính:
+ Đại hội đồng (gồm tất cả các nước thành viên, họp mỗi năm một lần vào
tháng 9)
+ Hội đồng thường trực (gồm 5 uỷ viên các cường quốc Anh, Pháp, Mĩ, Nhật,
Italia - sau đó còn lại 4 vì Mĩ không tham gia, và một số uỷ viên có kì hạn, họp mỗi
năm ba lần)
+ Ban thư ký thường trực (do Tổng thư ký đứng đầu) thường trực như một nội
các làm việc hành chính thường xuyên, đóng trụ sở ở Geneve.
+ Ngoài ra các cơ quan chuyên môn của Hội Quốc liên gồm có Toà án quốc tế
(có trụ sở thường trực ở La Hay) và các tổ chức khác như: Tổ chức lao động
quốc tế (ILO), Tổ chức sức khoẻ (HO), uỷ ban người tị nạn (HCR)
Về mục đích hoạt động:
Nội dung hoạt động do Hội Quốc liên đề ra là giám sát việc giải trừ quân bị,
tôn trọng và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị, giải quyết các tranh
chấp quốc tế, thực hiện “chế độ uỷ trị” đối với một số lãnh thổ “chưa đủ điều kiện tự
quản”... Nước nào vi phạm công ước, gây chiến tranh sẽ bị xem là gây chiến với toàn
thể hội viên và sẽ bị trừng phạt dưới hai hình thức: bằng biện pháp kinh tế và tài
chính (do tất cả các nước hội viên bắt buộc phải thi hành) và bằng những biện pháp
quân sự.
Sự ra đời của Hội Quốc Liên, một tổ chức chính trị mang tính quốc tế đầu tiên,
đã đánh dấu bước phát triển mới của quan hệ quốc tế thế kỷ XX. Về danh nghĩa, Hội
Quốc Liên trở thành một tổ chức giám sát trật tự quốc tế mới, nhằm ngăn ngừa chiến
tranh, bảo vệ hoà bình thế giới.
Tuy nhiên, trên thực tế, những hoạt động của Hội quốc Liên là nhằm duy trì
trật tự thế giới mới do các cường quốc chiến thắng áp đặt tại Hội nghị Véc-xai. Với

phải giao Wilhelm II (người phát động cuộc chiến) và khoảng 800 tội phạm chiến
tranh khác cho các nước Hiệp ước để họ xét xử, còn các nước đế quốc khác thì dường
như "vô tội". Ngoài ra, hạt Xa rơ của Đức cũng giao cho Hội Quốc liên quản trị trong
thời hạn 15 năm, các mỏ than ở đây thuộc về Pháp. Sau thời hạn này sẽ tiến hành
trưng cầu ý dân để quyết định hạt Xa-rơ sẽ thuộc về nước nào (sau cuộc trưng cầu ý
dân năm 1935, hạt Xa-rơ đã thuộc về nước Đức). Đồng thời toàn bộ hệ thống thuộc
địa của Đức đều trở thành đất uỷ trị của Hội Quốc liên và được giao cho các cường
quốc Anh, Pháp, Nhật, Bỉ... quản lí.
Nước Đức còn bị hạn chế vũ trang đến mức thấp nhất: chỉ được giữ lại
100.000 bộ binh với vũ khí thông thường, không có không quân, không có hạm đội
tầu ngầm và thiết giáp hạm. Vùng tả ngạn sông Ranh (gần biên giới Pháp) và 3 đầu
cầu vùng hữu ngạn sẽ do quân đội Đồng minh đóng trong vòng 15 năm và rút dần
quân nếu Đức thi hành hoà ước. Vùng hữu ngạn sông Ranh với chiều rộng 50 km sẽ
trở thành khu phi quân sự. Nước Đức còn phải bồi thường chiến tranh cho các nước
thắng trận số tiền (do Hội nghị Luân Đôn tháng 4 - 1921 qui định) là 132 tỉ Mác
vàng, trong đó trả cho Pháp: 52% Anh 22%, Italia: 10%, Bỉ: 8%... Với hoà ước này,
nước Đức mất 1/8 đất đai, gần 1/12 dân số, 1/3 mỏ sắt, gần 1/3 mỏ than, 2/5 sản
lượng gang, gần 1/3 sản lượng thép và gần 1/7 diện tích trồng trọt.
Toàn bộ gánh nặng của hoà ước Vécxai đè lên vai nhân dân Đức. Tuy thế, hoà
ước Véc-xai không thủ tiêu được tiềm lực kinh tế chiến tranh của Đức. Sau này, với
8


sự trợ giúp của Mĩ, Anh, chỉ trong vòng một thời gian ngắn, nước Đức đã khôi phục
và trở thành một lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất ở châu Âu trong thập niên 30.
Việc hòa ước Véc - xai được công bố vào ngày 7/5/1919 đã gây ra một sự phản
ứng mạnh mẽ không chỉ trong chính phủ, quân đội, mà còn lan ra toàn thể người dân
Đức. Chính phủ lâm thời chống đối mạnh mẽ việc chấp nhận nó và cho rằng nó là
hòa ước "vô lý"; còn nhân dân Đức thì ủng hộ, hậu thuẫn chính phủ nhiệt tình trong
cuộc đấu tranh này. Vài ngày sau, khi bị Đồng minh bắt phải ra ngay quyết định cuối

ngay cả trong nội bộ các nước đế quốc.
+ Trên thực tế, Anh là nước có nhiều quyền lợi hơn cả, được giữ vững hệ
thống thuộc địa và không cho một đế quốc nào khác mạnh hơn và qua mặt mình.
+ Pháp và Nhật cũng giành được nhiều quyền lợi qua Hệ thống hòa ước Véc-xai.
+ Mỹ chưa giành được quyền lợi nào đáng kể. Vấn đề phân chia quyền lực và phạm
vi ảnh hưởng ở khu vực Viễn Đông và Thái Bình Dương còn chưa được giải quyết.
Cụ thể, Mỹ rất bất bình trước việc Anh, Pháp làm cho Đức quá suy yếu. Về bồi
10


thường chiến tranh, trong khi Anh, Pháp đòi Đức bồi thường 480 - 600 tỉ mac, Đức
chấp nhận 100 tỉ mac, thì Mỹ chỉ chấp nhận có 200 tỉ mac mà thôi. Chính giới Mỹ
cũng bất bình khi Hiệp ước Véc-xai quyết định trao Sơn Đông cho Nhật, là đối thủ
cạnh tranh nguy hiểm của Mỹ ở Viễn Đông.
Ngày 12 - 11 - 1921, Hội nghị Washington được khai mạc với sự tham gia của 9
nước: Anh, Pháp, Mĩ, Italia, Nhật, Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Trung Quốc. Nước
Nga Xô viết - một nước lớn ở khu vực đã không được mời tham dự hội nghị. Quyền
lãnh đạo hội nghị nằm trong tay bốn nước: Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, nhưng quyền quyết
định thuộc về Mĩ. Những nghị quyết quan trọng nhất của Hội nghị Washington được
thể hiện trong ba hiệp ước: Hiệp ước 4 nước (Anh, Pháp, Mĩ, Nhật) , Hiệp ước 9
nước (Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, Italia, Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Trung Quốc) và Hiệp
ước 5 nước (Anh, Pháp, Mĩ, nhật, Italia).
a) Hiệp ước 4 nước:
Được gọi là Hiệp ước “không xâm lược ở Thái Bình Dương” kí ngày 13-12-1921
và có giá trị trong 10 năm. Các bên thoả thuận “tôn trọng quyền của nhau về các đảo
ở vùng Thái Bình Dương” thực ra là cùng nhau bảo vệ các thuộc địa ở khu vực rộng
lớn này. Đồng thời cũng nhân dịp này Mĩ gây áp lực với Anh để liên minh Anh Nhật (được kí kết từ năm 1902) không còn hiệu lực nữa (điều 4). Với Hiệp ước này,
Mĩ không chỉ thủ tiêu được liên minh Anh - Nhật mà còn trở thành nước đóng vai trò
chủ đạo trong bốn cường quốc ở khu vực Thái Bình Dương.
b) Hiệp ước 9 nước kí ngày 6 - 2 - 1922, gồm 9 điều, công nhận nguyên tắc

thế nhất và “7/10 dân cư thế giới trong tình trạng bị nô dịch” theo cách nói của Lênin. Nội bộ phe đế quốc cũng bị phân chia thành những nước thoả mãn và những
nước bất mãn với hệ thống này, tạo nên mầm mống của những cuộc xung đột quốc tế
trong tương lai. Như thế, sau cuộc chiến tranh thế giới kéo dài bốn năm (1914 - 1918)
với những tổn thất nặng nề cho toàn nhân loại, hoà bình đã được lập lại trong một thế
giới chứa đựng nhiều mâu thuẫn và bất ổn.
2. Quan hệ quốc tế trong thập niên 20 của thế kỉ XX
a) Các hội nghị quốc tế về hoà bình, an ninh tập thể và giải trừ quân bị
Bước vào thập niên 20, nhìn chung các nước tư bản đều bước vào thời kì ổn
định và đạt được sự phát triển nhanh chóng về kinh tế (1924 - 1929). Sự ổn định về
kinh tế và chính trị của chủ nghĩa tư bản đã tác động không nhỏ đến chiều hướng phát
triển của quan hệ quốc tế.
Sau Hội nghị Véc xai - Oasinhton, hàng loạt các hội nghị quốc tế về các vấn đề hoà
bình, an ninh tập thể, giải trừ quân bị... đã diễn ra trong khuôn khổ hệ thống Véc xai Oasinhton.
* Hội nghị Giênova: Một trong những hội nghị quốc tế lớn nhất kể từ sau
Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) đến lúc bấy giờ, diễn ra từ 4 -10 đến 19 5 - 1922 với sự tham gia của đại biểu 29 nước trên thế giới (Mĩ không chính thức
tham gia mà chỉ cử quan sát viên tham dự). Nước Nga Xô viết lần đầu tiên chính thức
được mời tham dự. Hội nghị bàn về những vấn đề kinh tế - tài chính của tất cả các
nước Châu Âu sau chiến tranh, trong đó “vấn đề Nga” là vấn đề gây tranh cãi nhiều
nhất. Do những bất đồng về việc giải quyết những khoản nợ của Nga hoàng và chính
12


phủ lâm thời tư sản Nga (các nước đế quốc đòi Nga bồi thường đến 18 tỉ rúp vàng là
khoảng nợ của Sa hoàng và chính phủ lâm thời Nga đã nợ mình), cùng với vấn đề bồi
thường chiến tranh cho nước Nga xô viết (Nga Xô viết tính toán, đưa ra con số mà đế
quốc phải bồi thường là 39.450.000 rúp vàng, nhưng bị Anh bác bỏ), Hội nghị
Gienova hầu như không đạt được kết quả đáng kể nào. Trong khi đó, bên lề hội nghị
Gienova, hai nước Đức và Nga đã kí kết Hiệp ước Rapallo (16 - 4 - 1922) nhằm khôi
phục lại các quan hệ ngoại giao, cam kết từ bỏ các khoản nợ và bồi thường chiến
tranh (điều 116 của hòa ước Vecxai), quốc hữu hóa các tài sản sở hữu nhà nước, đồng

liên quan; phi quân sự hóa vùng Rhenanie theo những điều khoản của Hệ thống
Vecxai. Trong trường hợp Đức xâm chiếm vùng phi quân sự này, các nước ký hiệp
ước có toàn quyền, kể cả dùng vũ lực để chống lại (điều 2).
Đồng thời, cũng tại hội nghị này các nước đã đi đến thoả thuận đồng ý để nước
Đức tham gia Hội Quốc Liên (tuy nhiên phải đến tháng 9 - 1926 Đức mới trở thành
viên chính thức của Hội Quốc Liên). Tất cả các hiệp ước trên đây hợp thành Hệ thống
Hiệp ước Lôcarno được tổ chức ký chính thức ở London vào ngày 1 - 12 – 1925
Với việc kí kết hệ thống hiệp ước Lôcacno và việc nước Đức tham gia Hội Quốc
Liên, mâu thuẫn giữa các cường quốc phương Tây dường như dịu đi và các chính
khách tư sản, các nhà báo đã tán tụng nó và người ta đã nói tới việc mở đầu “một kỉ
nguyên xích lại gần nhau trên thế giới”. Hiệp ước trên đã giáng cho các liên minh của
Pháp những thất bại nặng nề và Pháp cũng từ đó mất hết hy vọng làm suy yếu Đức
sau hiệp ước Vecxai. Với việc ký hiệp ước trên, Đức đã thoát dần ra khỏi vị trí là
nước bại trận, vươn lên bình đẳng về chính trị - kinh tế với các nước và "hợp pháp
hóa" địa vị trên trường quốc tế. Còn Anh và Mỹ thì tỏ ra hài lòng về Hệ thống hiệp
ước này, bởi một mặt, hệ thống này khống chế được Pháp, buộc Đức ràng buộc vào
các cam kết nhất định đối với các cường quốc phương Tây, mặc khác nó tạo điều
kiện để sử dụng Đức trong các ý đồ chống Liên Xô.
Như vậy, sự kiện các hiệp ước Xô - Đức, Lôcacno, Thổ Nhĩ Kì và Đức gia nhập
Hội Quốc Liên...đã làm sáng lên những tia hy vọng về một nền hòa bình có cơ may
được xác lập ở châu Âu và trên toàn thế giới. Trong bối cảnh lòng tin vào an ninh tập
thể lên đến đỉnh cao mà tháng 4 - 1927, Ngoại trưởng Pháp Aristide Briand đề nghị
với Ngoại trưởng Mĩ Frank B. Kellogg về việc Pháp và Mỹ ký một hiệp ước "hữu
nghị vĩnh viễn, theo đó hai nước cam kết từ bỏ việc chiến tranh như là một phương
tiện chính trị quốc gia". Ngày 27 - 8 - 1928 tại Pari đã diễn ra lễ ký kết Hiệp ước từ
bỏ chiến tranh nói chung. Hiệp ước này đã được nhiều nước trên thế giới hưởng ứng
và có tới 57 quốc gia kí kết tham gia, trong đó có Liên Xô.
Mặc dù được đánh giá là “đánh dấu đỉnh cao của làn sóng hoà bình trong thập
niên 20,” nhưng thực tế cho thấy việc đặt niềm tin vào hiệp ước này là “một ảo tưởng
nguy hiểm” bởi lẽ chỉ vài ngày sau khi kí kết hiệp ước Briăng – Ken lốt giơ, Anh và

Năm thứ 3: 1,2 tỉ mác vàng

Năm thứ tư: 1,75 tỉ mác vàng

Từ năm thứ năm: mỗi năm 2,5 tỉ mác vàng.
Với kế hoạch Đao-oét, Pháp đã phải có những nhượng bộ quan trọng: + Pháp
phải rút khỏi vùng Rua (năm 1925) việc giải quyết vấn đề bồi thường chiến tranh đã
tuột khỏi tay Pháp chuyển sang tay người Mĩ.
Mĩ và Anh có điều kiện mở rộng ảnh hưởng về kinh tế - tài chính vào nước
Đức. Kế hoạch Đao-oét đã góp phần quan trọng vào việc phục hồi và phát triển kinh
tế Đức. Những trận “mưa đô la” từ Mĩ và Anh qua kế hoạch này đã tạo điều kiện
trang bị những kĩ thuật hiện đại và nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế Đức.
Từ khi bắt đầu thực hiện kế hoạch đến năm 1929, Đức đã nhận viện trợ của
Mĩ, Anh để vay, tín dụng và đầu tư vào công nghiệp khoảng 20 - 25 tỉ mac vàng. Số
tiền viện trợ đó không những đủ để trả nợ cho các đế quốc thắng trận (Đức trả lại cho
họ tới 11 tỉ mac) mà còn đủ để phát triển kinh tế của mình. Năm 1929, tổng sản lượng
công nghiệp Đức đạt 113% mức trước chiến tranh, vượt qua Anh, Pháp.
Cũng trong năm 1929, kế hoạch Đao-oét lại được điều chỉnh theo hướng giảm
bớt gánh nặng bồi thường chiến tranh cho Đức. Sau một thời gian dài thảo luận,
tháng 8 - 1929, Hội nghị quốc tế của 12 nước tư bản họp ở La Hay đã chính thức
15


thông qua kế hoạch Young. Theo đó số tiền bồi thường của Đức giảm xuống còn
113,9 tỉ mác vàng và được trả trong thời hạn kéo dài tới 60 năm, đồng thời quân đội
chiếm đóng của Pháp, Bỉ sẽ phải rút khỏi vùng Rênani trước ngày 30 - 6 - 1930. Đến
đây, uỷ ban bồi thường đã chấm dứt hoạt động, thay vào đó Ngân hàng thanh toán
quốc tế sẽ chịu trách nhiệm theo dõi việc trả tiền bồi thường chiến tranh của Đức.
Như vậy, nhờ sự hà hơi tiếp sức của Anh và Mĩ với ý đồ sử dụng Đức như một
con đập ngăn làn sóng cách mạng có khả năng tràn sang phía Tây từ Liên Xô, chỉ


với nước Nga. Theo đó, nước Nga phải cắt đi một bộ phận lãnh thổ rộng lớn (diện
tích 750.000 km2 với hơn 50 triệu dân, bao gồm Ba Lan, Latvia, Litva, Estonia,
Belarus, Ucraina, Phần Lan) và phải trả khoản tiền bồi thường 6 tỉ mác cho Đức.
Lênin gọi đây là “một hoà ước bất hạnh”, nhưng nhờ đó mà nước Nga đã rút ra khỏi
cuộc chiến tranh đế quốc để đương đầu với những thử thách ác liệt nhằm bảo vệ
chính quyền Xô viết non trẻ.
Cũng trong thời gian này, các nước đế quốc đã tập hợp lực lượng, phối hợp hành
động với mưu đồ bóp chết nước Nga Xô viết. Cuối tháng 11 - 1917 đại diện của các
nước đế quốc, trong đó bốn nước Mĩ, Anh, Pháp, Nhật giữ vai trò chủ yếu, đã họp tại
Pari để bàn bạc về biện pháp thực hiện mưu đồ đó. Đại diện các nước tư bản đã
thông qua nghị quyết không công nhận nước Nga Xô viết, thoả thuận về việc ủng hộ
cho các lực lượng phản cách mạng ở Nga và phân chia nước Nga thành các khu vực
ảnh hưởng của mình. Theo đó, Anh sẽ nắm quyền kiểm soát vùng Kavkaz, Armenia,
Gruzia và vùng sông Đông; Pháp chiếm Bessarabia, Crưm và Ucraina; Mĩ và Nhật
nắm khu vực Xibia và Viễn Đông...
Trải qua ba năm chiến đấu cực kì gian khổ và khốc liệt, quân đội và nhân dân
Xô viết đã lần lượt đánh bại các lực lượng thù trong, giặc ngoài, giữ vững nền độc
lập, tự chủ của đất nước. Cũng trong thời gian này, nhà nước Xô viết đã công nhận
quyền tách ra của Ucraina, công nhận độc lập của Phần Lan, Ba Lan ; xoá bỏ mọi
hiệp ước bất bình đẳng của Chính phủ Nga hoàng trước đây đối với Trung Quốc, Thổ
Nhĩ Kì, Ba Tư (Iran) và nhiều nước khác.
Trong quan hệ quốc tế, Chính phủ Xô viết đã phản đối gay gắt tính chất nô dịch
của các hoà ước, nhất là Hoà ước Véc-xai. Lênin cho rằng: “Đấy không phải là hoà
ước, đấy là những điều kiện mà bọn ăn cướp tay cầm dao, buộc nạn nhân không có
gì tự vệ phải chấp nhận”.
Bị thất bại trong việc dùng lực lượng quân sự, các nước phương Tây quay sang thực
hiện chính sách cô lập về chính trị và bao vây về kinh tế với Nga.
Theo sáng kiến của Anh, năm 1922 một hội nghị kinh tế thế giới được triệu tập
với sự tham gia của 29 nước tư bản. Mục đích của hội nghị là bàn việc phục hồi nền

3.2. Con đường dẫn tới chiến tranh thế giới thứ hai
Vào cuối những năm 30 quan hệ quốc tế trở nên vô cùng phức tạp và căng
thẳng. Sự chuyển hoá mâu thuẫn giữa các cường quốc tư bản chủ nghĩa đã dẫn tới sự
hình thành hai khối đế quốc đối địch nhau: một là, khối Trục phát xít do Đức, Italia,
Nhật Bản cầm đầu ; hai là, khối đế quốc do Anh, Pháp, Mĩ cầm đầu. Trong khi khối
Trục phát xít đã ráo riết chuẩn bị cho kế hoạch chiến tranh từ đầu những năm 30 thì
khối đế quốc Anh, Pháp, Mĩ bắt đầu quá trình này vào những năm cuối thập niên 30.
Hai khối đế quốc mâu thuẫn gay gắt với nhau về vấn đề thị trường và quyền lợi
nhưng đều thống nhất với nhau trong mục đích chống Liên Xô, tiêu diệt Nhà nước xã
hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Điều đó được thể hiện trong chính sách thoả
hiệp, dung túng của các cường quốc tư bản với chủ nghĩa phát xít nhằm chống Liên
Xô và đè bẹp phong trào cách mạng thế giới. Như vậy trong quan hệ quốc tế đã diễn
ra cuộc đấu tranh ngày càng căng thẳng và chằng chéo giữa ba lực lượng: Liên Xô,
Khối trục phát xít và Khối đế quốc Anh, Pháp, Mĩ. Các cuộc chiến tranh cục bộ đã
lan tràn khắp từ Âu sang Á, từ Thượng Hải đến Gibranta. Chiến tranh thế giới ngày
càng trở nên khó tránh khỏi.
18


a) Cuộc chiến tranh Tây Ban Nha
Cuộc chiến tranh Tây Ban Nha, bùng nổ ngày 17 - 7 - 1936, về hình thức là cuộc
nội chiến giữa Chính phủ cộng hoà Tây Ban Nha với lực lượng phát xít Phrancô,
nhưng về thực chất là một cuộc khủng hoảng mang tính quốc tế. Vấn đề không chỉ
giới hạn trong nội bộ nền chính trị Tây Ban Nha. Đức và Italia đã trực tiếp can thiệp,
đứng về phía phát xít Phrancô chống lại Chính phủ Cộng hoà với mưu đồ biến Tây
Ban Nha thành một bàn đạp chiến lược cho kế hoạch bành trướng của mình ở châu
Âu, châu Phi, châu Á và Đại Tây Dương.
Trong bối cảnh đó, các chính phủ Anh, Pháp đã thi hành chính sách cực kỳ nguy
hại - “không can thiệp”, tuyên bố cấm xuất khẩu vũ khí và vật liệu chiến tranh sang
Tây Ban Nha. Họ đã bỏ mực nước Cộng hòa Tây Ban Nha trước bè lũ phát xít. Ngày

Sau khi chiếm Áo, Đức chĩa mũi súng đe dọa và chuẩn bị thôn tính Tiệp Khắc,
một vị trí đặc biệt quan trọng trong kế hoạch giành quyền thống trị lục địa châu Âu.
Để thôn tính Tiệp Khắc, Hitle đưa ra “vấn đề người Đức ở vùng Xuyđét" - vùng đất ở
Tây Bắc Tiệp Khắc, có khoảng 3,2 triệu người Đức cư trú. Sau những diễn biến phức
tạp và căng thẳng, Hitle đưa ra yêu sách về việc cắt vùng Xuyđét ra khỏi Tiệp Khắc
và khẳng định đây là yêu sách cuối cùng về lãnh thổ của y ở châu Âu.
Tiếp tục chính sách thoả hiệp, các cường quốc tư bản phương Tây đã gây áp lực
thúc ép Tiệp Khắc chấp nhận những yêu sách của Hitler. Điều này đã gây nên một
làn sóng phản đối trong dư luận quốc tế, kể cả ở Anh, Pháp, Tiệp Khắc và Liên Xô.
Liên Xô đã nhiều lần khẳng định sẵn sàng giúp đỡ Tiệp Khắc và đưa ra những biện
pháp cụ thể trong Hội nghị liên tịch giữa Bộ tổng tham mưu Liên Xô, Pháp và Tiệp
Khắc. Đồng thời, Liên Xô đã tập trung quân ở biên giới phía Tây và đặt quân đội
trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu. Liên Xô cũng đề nghị Hội Quốc Liên thảo luận
những biện pháp để bảo vệ Tiệp Khắc, nhưng tất cả những đề nghị đó đều bị các
chính phủ Anh, Pháp gạt bỏ.
Ngày 29 - 9 - 1938, những người đứng đầu các chính phủ Anh, Pháp, Đức và
Italia đã tham dự Hội nghị Muynich (Đức) để quyết định số phận của Tiệp Khắc. Đại
biểu Tiệp Khắc không được mời tham dự, chỉ được triệu tập đến để nghe kết quả.
Hiệp ước Muynich qui định Tiệp Khắc phải cắt toàn bộ vùng Xuyđét (trong vòng 10
ngày) cho Đức và phải cắt cho Ba Lan, Hunggari những vùng lãnh thổ đã được xác
định trước đó (trong thời hạn 3 tháng). Trước áp lực của Anh và Pháp, chính phủ tư
sản Tiệp Khắc chấp nhận Hiệp ước Muyních, theo đó, Tiệp Khắc mất đi khoảng 1/4
dân số, 1/5 lãnh thổ với nhiều công trình quân sự quan trọng. Để đổi lại, Hítle đã kí
với Anh bản Tuyên bố không xâm lược lẫn nhau giữa Đức và Anh. Sau đó, ngày 6 12 - 1938, Hiệp định không xâm lược Pháp - Đức cũng được kí kết tại Pari. Từ đó,
cụm từ “chính sách Muyních” đã đi vào lịch sử quan hệ quốc tế như một chính sách
tiếp tay cho bọn xâm lược, phản bội lại lợi ích sống còn của các dân tộc để đổi lấy
một nền hòa bình ích kỷ với bọn xâm lược.
Hiệp ước Muyních là đỉnh cao nhất của chính sách thoả hiệp mà các cường quốc
tư bản phương Tây thi hành trong nhiều năm nhằm tránh một cuộc chiến tranh với
nước Đức phát xít và chĩa mũi nhọn chiến tranh về phía Liên Xô. Trên thực tế, “chính

chủ trương "bắt cá hai tay'' của Anh, Pháp, cuộc đàm phán không đạt được kết quả và
hoàn toàn bế t ắc. Trong khi đó, từ tháng 6 - 1939, cuộc đàm phán bí mật Anh - Đức
đã được tiến hành ở Luân Đôn để thảo luận về việc hợp tác Anh - Đức chống Liên
Xô, Trung Quốc và phân chia khu vực ảnh hưởng ở đây.
Trong bối cảnh đó, Liên Xô buộc phải có những giải pháp kiên quyết để tự bảo vệ
nền an ninh quốc gia. Cùng lúc ấy, nước Đức đã đề nghị với chính phủ Liên Xô cùng
kí hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau. Âm mưu của Đức là tạm thời hòa hoãn với
Liên Xô để tập trung lực lượng chiếm lấy châu Âu tư bản chủ nghĩa rồi dốc toàn lực
quay lại tiêu diệt Liên Xô – kẻ thù đáng gờm nhất của chúng.
Nhận rõ âm mưu của kẻ thù, lúc đầu Liên Xô đã bác bỏ đề nghị đó, nhưng sự tan
vỡ không thể cứu vãn nổi của cuộc đàm phán Xô - Anh - Pháp đã khiến Liên Xô thay
đổi ý định và tiếp nhận đề nghị của Đức. Ngày 23 - 8 - 1939, Hiệp ước không xâm
21


lược nhau Xô - Đức đã được kí kết, theo đó Liên Xô và Đức cam kết không tấn công
nhau, không gia nhập một liên minh nào thù địch với một trong hai nước kí hiệp ước,
không giúp đỡ một nước thứ ba nào chống lại nước kia... Sau đó một ngày, Liên Xô và
Đức còn kí thêm một Nghị định thư bí mật phân chia phạm vi ảnh hưởng ở Đông Âu.
Việc kí kết Hiệp ước Xô - Đức không xâm lược nhau đã làm thất bại chính sách
hai mặt của các nước phương Tây, phá tan âm mưu thành lập mặt trận thống nhất
chống Liên Xô do các nước đế quốc dựng lên ở Muyních. Đồng thời sự kiện này
cũng phá vỡ âm mưu của Nhật muốn dựa vào sự ủng hộ của Đức để xâm lược Liên Xô.
Một tuần sau đó, đêm 30 rạng ngày 31 - 8 - 1939, Đức gửi tới Ba Lan một bản tối
hậu thư về vấn đề Đăng dích và hành lang Ba Lan. Chính phủ Ba Lan bác bỏ những
yêu sách của Đức. Rạng sáng ngày 1 - 9 - 1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan. Chiến
tranh thế giới thứ hai bùng nổ.
Từ những sự kiện đã nêu ở trên, có thể đi đến những tổng kết sau đây về nguyên
nhân bùng nổ chiến tranh thế giới II:


a. Tác động của quan hệ quốc tế sau chiến tranh thế giới đến Việt Nam
- Sau chiến tranh thế giới (1914 - 1918), mặc dù là nước thắng trận nhưng nền
kinh tế Pháp bị tổn thất nặng nề…Để bù đắp những thiệt hại do chiến tranh gây ra và
khôi phục địa vị của Pháp trong giới tư bản, nhà cầm quyền Pháp đã tăng cường khai
thác thuộc địa ở Đông Dương và châu Phi. Chương trình khai thác thuộc địa lần 2 với
quy mô lớn, tốc độ nhanh đã tác động mạnh mẽ tới kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam
- Trong lúc xã hội Việt Nam đang phân hoá sâu sắc do hậu quả của đợt khai thác
lần II của Pháp thì sự kiện cách mạng tháng Mười Nga thành công vang dội có tác
dụng thúc đẩy cách mạng Việt Nam chuyển sang một thời kì mới.
- Dưới tác động và ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga và phong trào
đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông và phong trào đấu tranh của
công nhân các nước tư bản phương Tây phát triển mạnh mẽ và gắn bó mật thiết với
nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc.
- Lực lượng các mạng của giai cấp vô sản các nước đều tìm con đường tập hợp
nhau lại để thành lập tổ chức riêng của mình. Do đó tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng
sản (Quốc tế thứ III) được hình thành ở Mátxcơva, đánh dấu giai đoạn mới trong
phong trào cách mạng thế giới. Các Đảng Cộng sản nối tiếp nhau ra đời (Đảng Cộng
sản Pháp 1920, Đảng Cộng sản Trung Quốc 1921... ), càng tạo thêm điều kiện thuận
lợi cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam.
- Cách mạng tháng Mười Nga và sự phát triển của phong trào Cách mạng vô sản
thế giới đã tác động mạnh mẽ đến sự lựa chọn con đường giải phóng dân tộc của
Nguyễn Ái Quốc. Năm 1920, sau khi đọc bản “Luận cương về các vấn đề dân tộc và
thuộc địa” của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc
Việt Nam, đã tin theo Quốc tế Cộng sản, gia nhập Đảng Cộng sản Pháp và tích cực
để truyền bá tư tưởng Mác – Lênin vào Việt Nam mở đường giải quyết cuộc khủng
hoảng về đường lối giải phóng dân tộc ở Việt Nam.
b. Tác động của quan hệ quốc tế (1929 - 1939) đến tình hình cách mạng Việt Nam
- Những năm 1929- 1933, thế giới Tư bản lâm vào một cuộc khủng hoảng kinh
tế trầm trọng, trên quy mô lớn với những hậu quả nặng nề làm cho tình hình xã hội
không ổn định, những mâu thuẫn xã hội phát triển gay gắt. Phong trào đấu tranh của

giảng lần đầu, do đó việc tổ chức hướng dẫn ôn tập nhất là đối với bộ môn Lịch sử là
hết sức quan trọng. Căn cứ vào tiêu chí: sự hướng dẫn của giáo viên, thời gian, địa
điểm tiến hành ôn tập có thể chia làm hai hình thức sau:
- Tổ chức ôn tập trên lớp được diễn ra dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của giáo viên.
Hình thức này được diễn ra trên lớp học, thời gian diễn ra có thể ngay sau khi giáo
viên trình bày tài liệu mới hoặc vào khoảng thời gian sơ kết bài nhằm củng cố kiến
thức học sinh vừa lĩnh hội, chốt lại những kiến thức cơ bản, cốt lõi của bài học. Đặc
biệt hình thức ôn tập này có thể được tiến hành trong những bài ôn tập tổng kết.
- Ôn tập ngoài giờ lên lớp được diễn ra khi không có sự hướng dẫn trực tiếp của
giáo viên. Hình thức này được thực hiện ngay sau khi nghe giảng, học sinh tự học ở
nhà. Học sinh tự ôn tập dựa trên cơ sở những cách thức ôn tập mà giáo viên đã
hướng dẫn phù hợp với kiểu học của mình hoặc dựa vào những bài tập giáo viên giao
về nhà.
24


Dựa trên lý thuyết về kiểu học, chúng tôi xin đề xuất quy trình hướng dẫn ôn
tập kiến thức phù hợp phong cách học của học sinh gồm các bước cơ bản cần tiến
hành để xác định kiểu học của học sinh và hướng dẫn học sinh ôn tập như sau:
- Bước 1: Tìm hiểu cách học hiện tại của học sinh, tức xác định đặc điểm của
học sinh trước khi hướng dẫn học sinh phương pháp ôn tập mới.
- Bước 2: Xác định kiểu học của học sinh thông qua quan sát và thông qua bộ
câu hỏi trắc nghiệm quốc tế về các kiểu học
- Bước 3: Tìm hiểu mức độ hứng thú của học sinh với các phương pháp dạy để
từ đó làm cơ sở cho việc lựa chọn cách dạy của giáo viên, và hướng dẫn học sinh
cách ôn tập kiến thức phù hợp với kiểu học của học sinh:
- Bước 4: Đo kết quả ghi nhớ của học sinh, xác định độ sâu và mức độ hứng thú
của học sinh thông qua bài tập trắc nghiệm và tự luận.
- Bước 5: Giáo viên đánh giá kết quả ôn tập kiến thức của học sinh để có sự điều chỉnh
kịp thời trong hướng dẫn học sinh phương pháp ôn tập kiến thức dựa theo kiểu học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status