Một số vấn đề phát triển và phân bố các ngành dịch vụ việt nam và các dạng bài tập cơ bản trong thi HSG quốc gia - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG PHỔ THÔNG VÙNG CAO VIỆT BẮC

Nhóm Địa Lý

CHUYÊN ĐỀ ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN ĐẠI CƯƠN
PHẦN SÔNG NGÒI

Nguyễn Phúc Lự

I. Đặt vấn đề
1. Festival Duyên Hải là sân chơi trí tuệ của học sinh giỏi các trường chuyên
các tỉnh duyên hải và đồng bằng Bắc Bộ, nơi học sinh giỏi thể hiện ở trình độ cao
về năng lực tư duy và hiểu biết về các khoa học, trong đó môn Địa Lý.
2. Đây cũng là diễn đàn trao đổi chuyên môn của giáo viên. Bằng việc trình
bày sâu sắc có hệ thống một chuyên đề nào đó, mỗi một giáo viên và đồng nghiệp
có thể tham khảo tài liệu lẫn nhau và thừa hưởng những thành quả chung của giới
chuyên môn.
3. Vì vậy, chúng tôi trình bày chuyên đề này dựa trên sự tham khảo các tài
liệu liên quan đến chủ đề sông ngòi và tổng hợp lại nhằm đáp ứng ít nhiều nhu cầu
học tập của học sinh giỏi và tài liệu tham khảo giảng dạy của giáo viên môn Địa Lý.
II. Nội dung
1. Các yếu tố của sông ngòi:
Các yếu tố của sông ngòi được hiểu như là các bộ phận, các thành tố tạo nên
sông ngòi. Đó là:
a. Hệ thống sông ngòi:
- Nước rơi từ khí quyển hay nước tuyết và băng tan sau một thời gian chảy
trần trên mặt đất dốc sẽ tập trung lại thành dòng chảy. Các dòng chảy nhỏ chảy vào
các dòng chảy lớn hơn... rồi cuối cùng đổ vào một dòng chảy lớn nhất để tiêu nước
vào một đối tượng nhận nước nào đó: Hồ đầm, biển và đại dương... Các dòng chảy
trong phạm vi nào đó họp thành một hệ thống sông ngòi. Trong mỗi hệ thống,

D = l (km/ km2)
F
Trong đó: ∑l tổng chiều dài các sông, F: Diện tích lưu vực.
Nói chung, ở những nơi mưa nhiều, đất đá ít thấm, mật độ sông ngòi sẽ dày
hơn. Mật độ sông ngòi ở nước ta vào khoảng 1 km/km 2. Mật độ sông ngòi cũng có
ảnh hưởng quan trọng tới chế độ nước sông. Nơi có mật độ lớn, chế độ nước
thường ít khắc nghiệt hơn các nơi khác.
c. Lưu vực sông ngòi:
Một phạm vi nhất định của bề mặt lục địa tập trung nước để cung cấp cho
sông ngòi gọi là lưu vực sông. Nguồn nước cung cấp cho sông ngòi chủ yếu là từ
2


bề mặt đất và một phần khác là do nước dưới đất. Do đó, lưu vực sông bao gồm 2
bộ phận: Lưu vực mặt và lưu vực ngầm. Hai lưu vực này cũng có khi không trùng
nhau, nhất là nơi có địa hình karst phát triển, nhưng người ta thường cho là thống
nhất và lấy lưu vực làm cơ sở. Như vậy, lưu vực sông là một thể tích, song thường
được hiểu đơn giản là một diện tích.
Ranh giới của các lưu vực sông khác nhau là đường phân thuỷ.Tại các lưu
vực cũng tồn tại các đường phân thuỷ khác nhau: Đường phân thuỷ mặt và đường
phân thuỷ ngầm. Hai đường phân thuỷ này cũng có khi không trùng nhau; song
cũng như lưu vực mặt, đường phân thuỷ mặt cũng được lấy làm cơ sở. Đường phân
thuỷ mặt có thể được xá định dễ dàng theo các đường đỉnh núi, còn ở đồng bằng
công việc này khó khăn hơn nhiều.
Một đặc điểm quan trọng là đường phân thuỷ mặt cũng có thể không cố
định, mà đột nhiên biến đổi do hiện tượng bắt dòng. Khi hiện tượng này xảy ra,
diện tích lưu vực sẽ biến đổi theo. Trên các dãy núi, khi có sườn bất đối xứng dễ
xảy ra bắt dòng về phía sườn dốc. Hiện tượng này cũng thường xảy ra: Sông Kì
Cùng ở Lạng Sơn bị Tả Giang bắt dòng về Trung Quốc.
Lưu vực sông có tác dụng quan trọng tới dòng chảy sông ngòi. Trước hết,

k=
L
'
Trong đó: L là chiều dài thực và L là chiều dài đường chim bay.
Hệ số này tỉ lệ nghịch với độ dốc lòng sông và tỉ lệ thuận với tuổi tác của
dòng sông ngòi. Do đó, sông dù chảy theo một đứt gãy thẳng tắp hay một sông đào
cũng uốn khúc cong queo. Tuy nhiên, nếu khúc uốn quá lớn, sông sẽ đổi dòng và
để lại các hồ móng ngựa ven sông (Hồ Tây ở Hà Nội). Nhìn chung, độ uốn khúc và
kích thước của các khúc uốn có xu hướng giảm dần từ hạ lưu về thượng lưu theo
định luật Su-ren (Surell).
e. Mặt cắt sông
Mặt cắt ngang sông (hay tiết diện ngang) là phần của mặt phẳng thẳng góc
với dòng chảy, giới hạn bởi đáy, 2 bờ và mặt nước sông. Mặt cắt ngang cũng như
lòng sông, không cố định mà luôn thay đổi theo lượng nước trong sông. Do đó,
ứng với các lượng nước ta có các mặt cắt ngang: Cực tiểu, cực đại, trung bình hay
tức thời nào đó.
g. Dòng nước
Dòng chảy nước thường được gọi là dòng chảy, bao gồm các nhóm phân tử
nước (H2O)n. Đây là dòng chảy cơ bản vì biểu thị cho sự tồn tại và phát triển của
4


sông ngòi và có vai trò quan trọng nhất trong tự nhiên cũng như đời sống con
người. Trong lớp vỏ địa lý, sông ngòi là khâu quan trọng nhất trong quá trình tuần
hoàn nước, đồng thời kéo theo các quá trình tuần hoàn khác: Muối, nhiệt... Trong
nền kinh tế - xã hội, nước cung cấp cho tưới ruộng, nước cho công nghiệp và năng
lượng (than trắng), là phương tiện giao thông thuỷ (đường sông), chăn nuôi thuỷ
sản và nước cho ăn uống, sinh hoạt hằng ngày.
h. Lưu lượng (Q) là thể tích nước sông chảy qua mặt cắt (trạm đo) trong một
đơn vị thời gian (s). Công thức thường dùng để tính toán là:

Đơn vị biểu thị là: 1/s-km2; tức là từ một đơn vị diện tích (km 2), trong đơn vị
M0=

thời gian (s) lưu vực sẽ cung cấp được bao nhiêu nước và 103 là giá trị đổi đơn vị.
* Lớp dòng chảy (Y0) là lớp nước mà tổng lượng dòng chảy sông ngòi được
rải đều trên bề mặt lưu vực. Đại lượng này được xác định bằng công thức sau:
W0
(mm/năm)
F.103
Đơn vị thể hiện là mm/năm và 103 là giá trị đổi đơn vị.
Y0=

* Hệ số dòng chảy (α) là tỉ số giữa lớp dòng chảy và lớp mưa trong lưu vực
và được xác định bằng công thức sau:
Y
X
Trong đó: X là lớp mưa trong lưu vực.
α=

Đại lượng này dao động trong khoảng 0 - 1 và bao giờ cũng

Trạm
Giang Tiên
Kẻ Gỗ

Hlv (m)
283
229

Flv (km2)
134
115

Xlv (mm/năm) M0(l/s-km2) α
1713
20,1
0,37
2926
59,4
0,64

Hình thức và nhất là cường độ nước rơi cũng có ảnh hưởng nhất định tới
nước sông. Nước rơi ở thể lỏng (mưa), đường quá trình lưu lượng biến đổi theo
thời gian (Q-t) tương tự với quá trình mưa (X-t); còn nếu rơi ở thể xốp (tuyết hay
băng tan) đường (Q-t) lại phụ thuộc vào quá trình nhiệt (T-t) trong năm. Với cùng
lượng mưa, song cường độ nhỏ, thời gian mưa kéo dài, lũ xảy ra không thể đột
ngột như khi có cường độ lớn, thời gian mưa ngắn, lúc đó lũ sẽ xảy ra với cường
suất lớn. Trước đây tác giả Xô viết thường dùng khái niệm sức mưa. Ở nước ta,
Cục Thuỷ Văn (1966) lại xác định cường độ mưa với các chỉ tiêu cụ thể như sau:
7

Trạm

độ hồ

I

II

III

IV

V

VI

VII

VIII

IX

X

XI

XII

1,3



0,7

0,
7

)

8


Vu-oóc-sa

I-ma-

(Vuorsa)

tra(Imatra)

29,6

1,
0

0,96

0,
92

0,89

trình bốc hơi trong lưu vực. Như vậy, tác dụng của hồ đầm chắc chắn là phụ thuộc
vào điều kiện khí hậu địa phương.
Đặc biệt, một vài sông ngòi lại nhận được nước của hệ thống sông bên cạnh.
Theo Ni-ki-tin (S.N.Nikitin) (1962), sông Svit-lo (Svitlo) ở Bạch Nga về mùa hạ
thường tràn sang các lưu vực lân cận, kể cả Amua. Còn sông Ca-si-ki-a
(Casiquiare) ở I-li-nôt (Ilinos), Brasil sau khi tồn tại một thời gian đã chia đôi: Một
dòng chảy về phía bắc vào sông Orinoco ở Vénézuela , còn dòng chảy vào Rio
Negro, phụ lưu của Amazon bên Brasil. Ở nước ta, sông Hồng đã cung cấp nước
qua sông Đuống cho sông Thái Bình tại trạm Phả Lại tới 76%, trong khi cả 3 sông
Cầu, Lục Nam, Thương chỉ có 24%. Do đó, nhiều khi lũ sông Hồng chảy sang có
thể gây lụt lội lớn bên hệ thống sông Thái Bình.
- Nhân tố địa hình: Trong nhóm nhân tố bề mặt, địa hình giữ vai trò quan
trọng nhất. Địa hình có thể ảnh hưởng tới dòng chảy nước qua nhiều yếu tố: Độ
dốc lưu vực làm tăng tốc độ chảy, quá trình tập trung lũ và cường suất nước
dâng..., mật độ và độ sâu chia cắt, có thể làm tăng lượng dòng chảy, tác dụng điều
9


tiết tự nhiên của lưu vực... tác dụng này càng rõ trong các lưu vực kín; còn trong
các lưu vực hở, kết quả xảy ra sẽ ngược lại. Vai trò này càng đặc biệt lớn trong các
lưu vực có địa hình karst phát triển. Tuy vậy, tác động mạnh mẽ hơn cả vẫn là độ
cao và hướng sườn. Cao độ của khối núi và nhất là độ cao bình quân của lưu vực
sẽ làm tăng lượng dòng chảy, khi chưa vượt quá độ cao giới hạn. Tác dụng này đã
được chứng minh trong những nghiên cứu của nhiều tác giả như: L.K.Davydov và
N.G.Konkina. Ở nước ta, kết quả này được thể hiện trong các lưu vực sau:
Sông
Tiêm
Ng.Phố
R.Cái


Matheus là 15-17%. Rễ cây rừng lại làm tăng lượng nước ngấm tới 2,5 lần so với
vùng đồi núi trọc. Rừng cây cũng làm giảm nhiệt độ trong rừng khoảng 2-3 0C so
với bên ngoài và do đó, có thể làm giảm bốc hơi trong rừng tới 2-5 lần so với nơi
không rừng. Từ những đặc điểm trên, tác động của rừng rất phức tạp nhất là đối
với lượng dòng chảy nước của sông ngòi. Một số tác giả nhận thấy rừng có tác
dụng tích cực, tức là làm tăng lượng dòng chảy sông ngòi. Lượng nước tăng thêm
này, theo Sokolov là khoảng 10-20%; đặc biệt theo A.P.Botchkov (1954) có thể
lên tới 50% so với nơi ít hoặc không rừng. Ngược lại, một số tác giả khác lại nhận
10


thấy rừng có tác dụng tiêu cực, tức là làm giảm lượng dòng chảy sông ngòi. Đại
lượng này thoe P.V.Otosky (1925) là vào khoảng 30% còn theo kết quả thực
nghiệm của tác giả Mỹ: C.Bates và A.T.Henry (1913-1928) ở vùng Colorado là
16,6%. Đặc biệt, theo kết quả nghiên cứu của một tác giả Thuỵ Sĩ: A.Angler
(1903-15) lại thấy vai trò của rừng không thể hiện rõ. Như vậy, tác dụng của rừng
cây đối với dòng chảy sông ngòi, ngoài mật độ và loại rừng, còn phải kể đến vai
trò của khí hậu nữa.
b, Nhân tố con người: Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người không
ngừng phải tiến hành sản xuất nên luôn luôn tác động đến môi trường địa lí, trong
đó đặc biệt là sông ngòi. Con người lấy nước sông để phục vụ cho sinh hoạt, cung
cấo nước cho ngành sản xuất công nghiệp, nhất là cho nông nghiệp. Vai trò của
con người ngày càng lớn lao vì dân số và nhu cầu về nước ngày càng lớn. Các
động tác này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp đối với sông ngòi.
- Hoạt động thuỷ lợi: Thuỷ lợi tác động trực tiếp đến sông ngòi. Trong các
biện pháp thuỷ lợi, việc xây dựng các hệ thống thuỷ nông để lấy nước tưới ruộng là
quan trọng. Để tưới cho khoảng 1,5.10 6 ha ruộng đồng, theo M.L.Lvovitch con
người có thể lấy tới hàng nghìn tỉ mét khối nước mỗi năm. Con người có thể lấy
25-30% tổng lượng nước của sông ngòi để sử dụng như trường hợp sông Don,
vùng Kalas trong các năm 1989-96. Còn nếu dùng quá mức, đặc biệt như đối với

từ 14,1m (1945) xuống còn 12m; đồng thời lại có thể làm tăng mực nước mùa cạn
từ 1,7 m lên tới 4,5 m cho Hà Nội ở phía hạ lưu sông Hồng. Đặc biệt, con người có
thể chuyển nước từ lưu vực sông nhiều nước tới các lưu vực ít nước. Nhân dân
Trung Quốc có những kế họach tá thuỷ (vay nước) của các sông phía Nam (Dương
Tử) lên các sông phía Bắc (Hoàng Hà) qua các kênh đào lớn. Ở nước ta, nhân dân
ta đã chuyển nước từ Đa Nhim xuống Krông Fa (Ninh Thuận) và ngày nay cũng đã
chuyển nước từ các sông La Ngà, Đa Quao xuống các sông Ninh Thuận, Bình
Thuận.
- Hoạt động Lâm Nghiệp: Lâm nghiệp được coi như biện pháp gián tiếp đối
với sông ngòi. Trong quá trình mở rộng phạm vi sản xuất và khai thác rừng, con
người có thể chặt phá bừa bãi làm giảm diện tích rừng, song ngược lại cũng có thể
trồng lại rừng khi cần thiết. Hoạt động này cũng có ảnh hưởng tới lượng dòng
chảy. Ở nước ta, trên lưu vực sông Đà, theo Vũ Tuấn (1986) do rừng bị chặt phá
nhiều nên lượng dòng chảy mùa lũ tăng 5%, ngược lại mùa cạn giảm đi 36% nên
nói chung lượng dòng chảy trung bình năm của sông Đà đã giảm đi 9% so với khi
còn rừng.
3. Sự phân bố của sông ngòi:
Như trên đã trình bày, sông ngòi phụ thuộc nhiều vào các nhân tố địa lý, mà
các điều kiện này lại phân hoá đa dạng trong không gian nên sông ngòi biến đổi
theo. Sự thay đổi này thể hiện trong các quy luật địa lý, đặc biệt là quy luật địa đới.
Trước hết là sự phân hoá của các đặc trung thuỷ văn theo quy luật địa đới, tức là
thay đổi từ xích đạo về phía hai cực. Sự phân hoá này cũng khá phức tạp thể thiện
trong hai đại lượng cơ bản: môđul và hệ số dòng chảy. Theo hướng này, môđul
dòng chảy bình quân của sông ngòi giảm dần từ xích đạo về phía hai cực, đặc biệt
là ở vùng khí hậu khô hạn phía hai chí tuyến Bắc và Nam. Cụ thể, môđul dòng
chảy của sông Amazôn tại cửa sông là 20,4 l/s-km 2, của sông Côngo tại Lêôpôvil
là 11,6 l/s-km2, của sông Nigiê tại cửa sông là 6,42 l/s-km 2, cửa sông Parada tại
Rôsariô là 6,34 l/s-km2, của sông Nil trắng tại cửa sông là 0,55 l/s-km 2, của sông
Hoàng Hà tại Lôku là 1,71 l/s-km 2, của sông Volga tại Volgagrat là 6,1 l/s-km 2,
12

tác giả tiến hành phân loại theo phương pháp và chỉ tiêu khác nhau: Phân loại sông
ngòi theo nguồn cung cấp nước cho sông: A.I.Vôiêkôp... theo chế độ nước sông:
13


M.Pacđê..., theo nồng độ ion của nước sông: O.A.Alêkin..., theo đặc điểm khí hậu:
H.Kellơ..., theo các đặc điểm khí hậu - thuỷ văn: H.Brenken..., theo các đặc điểm
địa lý tổng hợp: P.S.Kuzin... Dưới đây là một số cách phân loại quan trọng:
a. Phân loại sông của Vôiêkôp
Năm 1884, A.I.Vôiêkôp đã phân loại khí hậu bằng phân loại sông. Tuy
nhiên, bằng phân loại này lại có giá trị về mặt sông ngòi nhiều hơn. Bảng phân loại
này khá phức tạp và nay được hệ thống hoá lại như sau:
* Sông ngòi có nguồn cung cấp nước là tuyết và băng tan
Đây là sông ngòi thuộc các miền vĩ độ cao và cao độ lớn. Tuỳ nguồn nước
cụ thể, loại sông này được phân thành các kiểu sau:
- Sông hàn đới: Là các sông được cung cấp nước chủ yếu do tuyết tan ở
đồng bằng hay trong các miền núi thấp dưới 1000 m. Lũ xảy ra chủ yếu là về mùa
xuân. Đó là trường hợp sông Petchora, Mackenzi,...
- Sông cực đới: Các sông này ở vĩ độ cao hơn nên được cung cấp nước chủ
yếu do băng tuyết vĩnh cửu hay băng hà. Đó là các sông nhỏ ở Aixơlen, Grơnlen...
- Sông Trung Á: Là các sông thuộc vĩ độ trung bình, nhưng lại được cung
cấp nước chủ yếu là băng hà núi cao. Thuộc kiểu này là: Sông Amu Đaria, sông
Xia Đaria... Các sông do băng cung cấp nước có lũ chậm hơn, xảy ra vào mùa hạ.
* Sông ngòi được cung cấp nước bởi mưa
Các sông ngòi này chủ yếu nằm ở vĩ độ thấp và một phần trong các miền vĩ
độ trung bình. Tuỳ theo đặc điểm của mưa, loại này cũng được phân thành các kiểu
sau:
- Sông Tây Âu: Là các sông thuộc miền khí hậu ôn đới hải dương. Ở đây,
mưa xảy ra gần như quanh năm, song về mùa hạ nóng và lượng nước bốc hơi tăng
lên làm cho mực nước có bị giảm đi. Điển hình là sông Thêm, sông Xen.

thuỷ văn. Tuy nhiên cũng tuỳ nguồn cung cấp nước và thời gian lũ mà tác giả chia
thành các kiểu như sau:
- Chế độ băng: Các sông này có nguồn cung cấp nước là băng tan và do đó
lũ xảy ra vào mùa hạ. Điển hình thuộc kiểu này là sông Matxa, sông Ôlđenvơ...
- Chế độ mưa ông đới hải dương: Tuy được cung cấp nước quanh năm,
nhưng mùa hạ bốc hơi mạnh và lũ xảy ra trong mùa đông. Điển hình là sông
Saône, sông Thêm.

15


- Chế độ mưa nhiệt đới: Mưa lớn và lũ xảy ra vào mùa nóng. Mùa cạn trùng
với mùa lạnh và khô. Đó là trường hợp của sông Hằng, sông Nil, sông Hồng…
- Chế độ tuyết núi: Ở các miền núi thấp hơn 3000-3500 m. Sông ngòi ở đây
cũng được cung cấp nước bởi tuyết tan. Lũ xảy ra vào cuối mùa xuân. Đó là trường
hợp của sông Rêut, sông Frâydơ…
- Chế độ tuyết đồng bằng: Ở các miền vĩ độ trung bình và nhất là vĩ độ cao,
sông ngòi ở các đồng bằng cũng chủ yếu được cung cấp bởi nước tuyết tan. Đó là
trường hợp của sông Đniep, sông Petchora, sông Ôbi, sông Makenzi…
* Sông có chế độ nước phức tạp từ nguồn
Là các sông có nhiều nguồn cung cấp nước khác nhau như: Mưa, tuyết,
băng… hay có khi chỉ có một nguồn cung cấp nước nhưng chế độ phức tạp. Do đó,
các sông này đều có 2 mùa lũ và 2 mùa cạn xen kẽ nhau trong năm thuỷ văn. Tuy
nhiên, trong loại này, tác giả cũng chia thành các kiểu sau:
- Chế độ tuyết chuyển tiếp: Sông ngòi thuộc kiểu này được cung cấp nước
chủ yếu do mưa sông lượng nước tuyết tan cũng không kém phần quan trọng. Do
đó, sông có lũ về mùa hạ và cả trong mùa đông. Đó là trường hợp của sông Caolit,
sông Tetxin, sông Arie…
- Chế độ tuyết tan và mưa: Ngược với kiểu trên, kiểu này lại có nguồn cung
cấp nước chủ yêu là tuyết tan và phần khác là so mưa. Do đó, lũ xảy ra vào mùa

Năm 1959, O.A.Alêkin, đã dựa vào nồng độ ion (độ khoáng hoá) để phân
loại sông ở Liên Xô (cũ). Tác giả đã phân loại sông ngòi theo các cấp độ như sau:
- Sông có nồng độ ion thấp: Các sông này có nồng độ ion thấp hơn 200mg/l
và thường ở các vùng khí hậu ẩm ướt như sông Nêva, sông Petchora…
- Sông có nồng độ ion trung bình
Đó là các sông có nồng độ ion khoảng 200 – 500 mg/l. Đó là các sông ở các
miền karst phát triển hay trong các miền khí hậu hơi khô như: Sông Ural, sông
Têrêch..
- Sông có nồng độ ion khá cao
Nồng độ ion của các sông này có thể lên tới 500 – 1000 mg/l. Đó là các sông
thuộc các miền khí hậu khô hạn. Điển hình là các sông Xưa Đaria, Amu Đaria…
- Sông có nồng độ ion cao:
Các sông này có nồng độ ion lớn hơn 1000 mg/l. Đó là các sông tồn tại trong
các miền khí hậu rất khô khan như sông Ichim, sông Kalaut…
17


Ở nước ta, trước đây cũng có một số tác giả tiến hành phân loại sông:
Nguyễn Thượng Hùng (1967), Đoàn Cự Hải (1977), Nguyễn Văn Âu (1977) theo
các phương pháp và chỉ tiêu khác nhau…
III. Tài liệu tham khảo
1. Khí quyển và thuỷ quyển, Hoàng Ngọc Oanh, Nguyễn Văn Âu, NXB Giáo
dục, 2000.
2. Địa lý tự nhiên đại cương 2, Hoàng Ngọc Oanh chủ biên, NXB Đại học Sư
phạm, 2004.
3. Nguyễn Văn Âu, Thuỷ quyển (phần sông ngòi), ĐHSP Hà Nội I, Hà Nội,
1983.
4. Lê Bá Thảo, Trịnh Nghĩa Công, Cơ sở địa lý tự nhiên tập 1, NXBGD, 2000.

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status