Tìm hiểu về các Web server thông dụng hiện nay. Trình bày các đặc điểm của ứng dụng Web. Tìm hiểu hệ thống mailing list. Tìm hiểu cách vận hành và cài đặt của các hệ thống mail trên hệ điều hành Internet mail và Linux mail - Pdf 33

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
trang 1
A. YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI:

Bao gồm các phần sau:
Tìm hiểu về các Web server thông dụng hiện nay:
+ Microsoft Internet Information Server
+ Apache Web Server

Trình bày về đặc điểm về khả năng, cài đặt, vận hành, hỗ trợ các ứng
dụng Web và so sánh các điểm mạnh, yếu, các ưu nhược điểm giữa chúng.
Tìm hiểu về hệ thống mailing list: Tìm hiểu về các nghi thức truyền nhận
mail cơ bản như SMTP và POP3.
Tìm hiểu cách vận hành và cài đặt của các hệ thống mail trên các hệ điều
hành thông dụng:
+ Internet Mail.
+ Linux Mail.

B. CƠ SỞ LÝ THUYẾT:

CHƯƠNG I
TÌM HIỂU VỀ CÁC WEB SERVER THÔNG DỤNG
I. GIỚI THIỆU VỀ HỆ ĐIỀU HÀNH WINDOWS NT
1. Thếâ nào là một hệ điều hành mạng:
Mạng bao gồm các tài nguyên (máy trạm, máy in…) và các thiết bò truyền
thông (router, bridge). Với việc ghép nối các máy tính thành mạng thì cần thiết
phải có một hệ thống phần mềm có chức năng quản lý tài nguyên, tính toán và
xử lý truy cập một cách thống nhất trên mạng, hệ như vậy được gọi là hệ điều
hành mạng. Mỗi tài nguyên của mạng như file, đóa, thiết bò ngoại vi được quản
lý bởi một tiến trình nhất đònh và hệ điều hành mạng điều khiển sự tương tác
giữa các tiến trình và truy cập đến các tiến trình đó.

Server 4.0 ra đời đã kết hợp với cấu trúc khung của người anh em Windows 95
nổi tiếng phát hành trước đó không lâu (trước đây cấu trúc khung của Windows
NT giống Windows 3.1) đã được kết hợp giao diện quen thuộc, dễ sử dụng của
Windows 95 và sự mạnh mẽ, an toàn, bảo mật cao của Windows NT.
Windows NT có hai bản mà nó đi đôi với hai cách tiếp cận mạng khác
nhau. Hai bản này gọi là Windows NT Workstation và Windows NT server. Với
hệ điều hành chuẩn của NT ta có thể xây dựng mạng ngang hàng, server mạng
và mọi công cụ quản trò cần thiết cho server mạng, ngoài ra còn có thể có nhiều
giải pháp về xây dựng mạng diện rộng. Cả hai bản Windows NT Workstation và
Windows NT server cùng được xây dựng trên cơ sở nhân NT chung và các giao
diện và cả hai cùng có những đặc trưng an toàn theo tiêu chuẩn C2. Windows NT
Workstation được sử dụng để kết nối những nhóm người sử dụng nhỏ, thường
cùng làm việc trong một văn phòng. Tuy nhiên với Windows NT server ta có một
khả năng chống hỏng hóc cao, những khả năng cung cấp dòch vụ mạng lớn và
những lựa chọn kết nối khác nhau, Windows NT server không hạn chế số người
có thể thâm nhập vào mạng.
Với Windows NT server ta cũng có những công cụ quản trò từ xa vào mạng
mà có thể thực hiện việc quản trò những máy tính ở xa. Nó tích hợp với tất cả
những sơ đồ mạng BUS, STAR, RING và hỗn hợp.
Windows NT là hệ điều hành có sức mạnh công nghiệp đầu tiên cho số
lượng khổng lồ các máy tính IBM compatible, Windows NT là một hệ điều hành
thực sự dành cho người dùng, các cơ quan, các công ty xí nghiệp. Windows NT là
một hệ điều hành đa nhiệm, đa xử lý với đòa chỉ 32 bit bộ nhớ. Nó yểm trợ các
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
trang 3
ứng dụng của DOS, Windows, Win 32 GUI và các ứng dụng dựa trên ký tự.
Windows NT server là hệ điều hành mạng, đáp ứng cho mạng cục bộ (LAN) vừa
đáp ứng cho mạng diện rộng (WAN) như Intranet, Internet.
Windows NT server hơn hẳn các hệ điều hành khác bởi tính mềm dẻo, đa

các server cung cấp mà không gặp bất kỳ một trở ngại nào trong vấn đề tương
thích.
Hầu hết các tài liệu yêu cầu hoặc đáp ứng đều phải được đònh dạng bằng
ngôn ngữ HTML. HTML là một phần của một ngôn ngữ đánh dấu khác gọi là
SGML, nó được sử dụng rộng rãi bởi nhiều tổ chức và trong các chính phủ liên
bang.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
trang 4
HTML là nguồn sống của Web. Nó là một ngôn ngữ đánh dấu đơn giản
được sử dụng để đònh dạng văn bản. Trình duyệt thông dòch các thông tin đánh
dấu này và hiển thò các thông tin cần đáp ứng này với khả năng tốt nhất có thể.
Quan trọng hơn nữa, HTML cho phép liên kết với các tài liệu và tài nguyên
khác, đây là sự thể hiện tính siêu văn bản của Web.
Siêu văn bản cho phép người sử dụng xem một tài liệu khác lưu trữ ở trên
cùng một máy hoặc trong một máy khác đặt ở một nơi khác trên thế giới. Nó cho
phép thông tin tồn tại hầu như dưới dạng ba chiều. Người sử dụng không những
chỉ có thể đọc tài liệu mà còn có thể chuyển đến một chỗ khác.
Tiến trình tìm và mang thông tin về hoàn toàn trong suốt đối với người sử
dụng. Nó là một ngôn ngữ uyển chuyển và dễ sử dụng. Sự điều hướng thông tin
qua nhiều thông tin theo một cách đặc biệt. Nó cho phép ngwời sử dụng thu thập
thông tin một cách dễ dàng và hiển thò chúng theo cách mà người sử dụng dễ lựa
chọn nhất.
Nếu bất ngờ người sử dụng hỏi bằng cách nào để tạo ra một trang Web.
Thì họ sẽ giáp mặt với hàng loạt các vấn đề có liên quan mà họ cần phải tìm
hiểu trước khi bắt đầu viết mã một trang HTML đầu tiên. Vấn đề quan trọng
nhất và là lý do cơ bản nhất là phải lựa chọn phần mềm server nào để sử dụng,
với những thông tin cơ bản nhất mà cuốn báo cáo này cung cấp, sự lựa chọn có
lẽ là không khó.
Các vấn đề mà cần phải quan tâm khi lựa chọn một Web server để giao

- Microsoft Proy Server.
- Microsoft SNA Server kết nối với mạng IBM enterprise.
- Hệ thống quản lý Server của Microsoft (tập trung quản lý các hệ thống
phân tán).
-Microsoft Commercial Internet Server (MCIS).
Với IIS người sử dụng có thể triển khai liên tục các ứng dụng mạng lên
các server ra đời muộn các nội dung Web mơi nhất. IIS đầy đủ hỗ trợ các hệ
thống ngôn ngữ lập trình VB, VB Script, J Script
TM
được phát triển bởi Microsoft
và Java Component Nó cũng hỗ trợ các ứng dụng CGI dành cho các ngôn ngữ
lập trình Web cơ sở và ISAPI mở rộng và các bộ lọc.

1. Cài đặt IIS trên Windows NT server:
Microsoft cung cấp các chương trình cài đặt khá thân thiện để cài đặt IIS
trên Windows NT server. Các bước cơ bản là lấy chương trình từ NT Option Pack
hoặc tải từ Internet và chạy Setup.exe.
Windows NT Option Pack: IIS là một thành phần của Windows NT Option
Pack. Một bộ Windows NT Option Pack sau khi cài đặt đầy đủ phải bao gồm các
thành phần sau:
Microsoft Transaction Server. (MTC)
Microsoft Management Console. (MMC)
Microsoft Index Server.
Microsoft Certificate Server.
Microsoft Site Server Express. (SSE)
- MTS là một thành phần cơ bản giải quyết các tiến trình hệ thống cho các
quá trình phát triển, phá huỷ và quản lý sự thi hành ở mức cao và các ứng dụng
server mạnh.
- MMC là một ứng dụng xuyên suốt phân chia các công cụ quản lý mà nó
có thể đưa ra các cách để quản trò các chương trình mạng, thêm vào đó MMC

khác đến Gopher client.
+ FTP server: Dòch vụ này là một cập nhật đến server được cài đặt sẵn
trên Windows NT (TM), nó chuyển các file có sẵn đến FTP client.
Mặc dù WWW đã thay thế hầu hết các chức năng của FTP, tuy nhiên chỉ
FTP mới có thể được sử dụng để sao chép các file từ một máy client đến một
máy server. Nếu những người truy cập từ xa cần làm việc đó, họ phải sử dụng
FTP.
+ Sự dễ dàng chia xẻ: Tất cả các dòch vụ trên là một phần của một tiến
trình như nhau với mục đích là làm hạn chế sử dụng bộ nhớ ngoài và tăng hiệu
quả. IIS cũng hỗ trợ thi hành sự giám sát các bộ đếm và kiểm tra SNMP với
FTP, Gopher, HTTP… Bộ đếm SNMP nằm dưới nút IIS của cây tên MIB.
+ Internet Server API:
Các API này cung cấp các ứng dụng cho giao diện với IIS. Có 2 cách để
các API này sử dụng:
+ Các phần mở rộng CGI: Các API này cho phép người sử dụng viết các
CGI DLL mà nó ở trong vùng bộ nhớ giống như IIS. Đây là sự khác biệt từ một
CGI bình thường có thể thi hành, mà nó là một tiến trình rời rạc. Sử dụng các
phần mở rộng này làm tăng khả năng thi hành của server và làm giảm bộ nhớ
yêu cầu.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
trang 7
+ Bộ lọc: Các API này có thể được sử dụng để viết các DLL mà nó ngăn
chặn tất cả khảng năng tải HTTP đang được nhận bởi server. Một ứng dụng có
thể được viết mà nó thực hiện nén, giải nén, mã hóa, giải mã hoặc thêm vào các
xác thực.
+ Internet Service Manager:
Công cụ này được sử dụng để cấu hình và theo dõi tất cả các IIS trên một
mạng. Nó sử dụng RPC để cấu hình IIS trên một máy khác.
+ Các ứng dụng client:

(TM)
hoặc Netscape
(TM)
… Có vài WWW client có sẵn và chúng có thể được
tải xuống trực tiếp từ Internet.
+ Kết nối đến một WWW server bằng cách cung cấp một đòa chỉ URL và
gửi yêu cầu HTTP. Điển hình như client yêu cầu một file (trang HTML, hình
ảnh…) hoặc thư mục đang hiển thò từ server, client cũng có thể gửi một ứng dụng
đến server.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
trang 8
Server sẽ đáp ứng với trạng thái hoạt động hoặc thành công hoặc bò lỗi và
dữ liệu trả về cho yêu cầu của client. Sau khi dữ liệu được gửi đi, kết nối sẽ
đóng lại và không có phần nào của tài liệu đã gửi được giữ lại trên server. Mỗi
đối tượng trong một tài liệu HTTP đòi hỏi một kết nối khác nhau.
WWW với giao thức HTTP đã trở thành một cánh thông dụng để truy cập
tài liệu trên Internet.
WWW cung cập một cách dễ dàng nhất để truy cập dữ liệu trên Internet
hoặc trên mạng Intranet của các công ty.
A) CÁC TIỆN LI CỦA VIỆC SỬ DỤNG DỊCH VỤ WWW:
- Trình duyệt WWW hỗ trợ nhiều kiểu dữ liệu. Một trình duyệt WWW có
thể tự động tải xuống và hiển thò các file văn bản, hình ảnh, chạy video, sound
clip và khởi chạy các ứng dụng trợ giúp cho tất cả các loại file phổ biến. Người
sử dụng không cần biết trình duyệt tải xuống hoặc sử dụng các file dữ liệu ở xa
như thế nào chỉ đơn giản là trình duyệt đã giúp ta trong việc tải xuống và hiển
thò các file.
Một ví dụ: Một WWW client đang mở một file ảnh BMP, người sử dụng sẽ
thấy nó hiển thò ngay lập tức nó trong cửa sổ ứng dụng của WWW client. Nếu sử
dụng một ứng dụng khác, chẳng hạn như FTP sẽ chỉ tải file xuống và lưu trên

để có thể kết nối.
2/ Yêu cầu phía Client:
Dòng yêu cầu: Chứa một câu lệnh yêu cầu gọi là phương thức và đòa chỉ
URL của đối tượng được giải quyết yêu cầu bởi phương thức.
+ Phương thức: Được sử dụng để chỉ thò cho server thi hành một công việc
đặc biệt. Hầu hết các server bao gồm cả IIS chỉ hỗ trợ 3 phương thức bởi vì các
phương thức không được thi hành bởi hầu hết các trình duyệt.
GET: Phương thức này chỉ thò cho HTTP server gửi đến một đối tượng (các
Web site, file, hình ảnh…) bằng đòa chỉ URL. Phương thức này chỉ dùng trên
HTTP client.
HEAD: Phương thức này cũng giống như GET, tuy nhiên nó chỉ trả về
thông tin header của đối tượng chứ không phải toàn bộ dữ liệu.
POST: Phương thức này được sử dụng bởi HTTP client để gửi một đối
tượng lên server.
Ví dụ: GET www.microsoft.com/HTTP
+ Trường tiêu đề của gói tin: Đây là một tập các trường mô tả client và
kiểu dữ liệu được gửi.
+ Dữ liệu: Nếu một client gửi một dữ liệu chẳng hạn một form đến một
server, nó sẽ nằm trong phiên này của yêu cầu.
3/ Server trả lời:
WWW server nhận một yêu cầu và quá trình này căn cứ trên phương thức
yêu cầu chứa trong dòng lệnh yêu cầu. Server sau đó sẽ trả lời.
Dòng Status : Chỉ ra yêu cầu thành công hoặc bò lỗi.
Message Header Field: Nó cung cấp các thông tin về server và kiểu dữ
liệu trả về.
Dữ liệu trả lời: Đây là dữ liệu yêu cầu ở dạng bit.
4/ Đóng kết nối.
D) GIỚI THIỆU VỀ SECURE SOCKETS LAYER (SSL)
SSL cung cấp một kết nối bảm đảm bằng cách mã hóa và giải mã dữ liệu.
Một SSL-enable server giống như IIS có thể kết nối với một SSL-enable client

chỉ là cho mục đích lưu thông trên mạng. Để làm được việc này, chúng phải tự
hỗ trợ mình, tự có các bảo mật riêng và các phạm vi ứng dụng riêng. Nếu người
sử dụng là một nhà cung cấp Internet, họ sẽ muốn thiết kế, di chuyển và có
người sử dụng cập nhật các Web site mà không quấy rầy đến các site khác trên
cùng một máy.
Giao thức HTTP sử dụng các URL để yêu cầu các file từ Web server. Từ
khi hầu hết các file đều chứa trong hệ thống file, IIS cần chuyển một URL sang
một tên đầy đủ của file, IIS làm công việc này cho mỗi yêu cầu. Tuy nhiên, nó
sẽ đưa lên người quản trò để cấu hình server mà URL ánh xạ đến thư mục đó.
Để thiết kế cấu trúc hệ thống file trên một máy mà nó host nhiều Web
site, người sử dụng cần biết sự khác nhau giữa thư mục gốc (Home Dir), thư mục
gốc ảo (Virtual Root) và thư mục con (Sub Dir). Người sử dụng cũng cần biết khi
nào thì phải sử dụng chúng.
Home Dir:
Một URL chứa một tên miền đang yêu cầu thư mục chủ. Ví dụ, URL dưới
đây yêu cầu một file mặc đònh trong thư mục chủ:
http://www.myserver.com
Công việc của người quản trò cần phải làm là giúp đỡ Web server ánh xạ
URL đến thư mục chủ. Trong ví dụ trên, thư mục chủ của Web site này sẽ được
ánh xạ đến: THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
trang 11
C:\inetpub\wwwroot
Sub Dir:
Sub Dir là một thư mục kế thừa một ánh xạ URL từ một cấu trúc hệ thống
file. Ví dụ, nếu thư mục này đã tồn tại:
C:\intetpub\wwwroot\sale3


5. Các kiểu của bảng thuộc tính của dòch vụ WWW
Có 3 kiểu (hoặc còn gọi là lớp) khác nhau của bảng thuộc tính: Master,
Default và File. Người sử dụng có thể đònh cấu hình riêng cho từng site của mình
một trong 3 kiểu trên. Nhưng mọi sự thay đổi đều có ràng buộc với nhau, nó sẽ
ảnh hưởng đến các site con và các file.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
trang 12
Các loại bảng khác nhau của bảng thuộc tính sẽ có ích về khía cạnh phân
cấp. Với bảng thuộc tính Master nằm ở phân cấp cao nhất và bảng thuộc tính
File nằm ở cấp thấp nhất.
Master:
Các bảng thuộc tính Master quyết đònh các thuộc tính mặc đònh của các
Web site ảo đã tạo với sự thiết lập của IIS, mà các Web site này quyết đònh các
thuộc tính của các file đã được tạo ra trong mỗi Web site. Trong suốt quá trình cài
đặt, IIS sẽ nạp các thuộc tính mặc đònh cho các bảng thuộc tính Master. Mỗi site
ảo mà người sử dụng tạo ra sẽ kế thừa việc thiết lập này. Nếu họ thay đổi thiết
lập ban đầu của bảng thuộc tính Master, các Web site ảo con sẽ kế thừa các thiết
lập mới này nhưng các Web site ảo tạo trước đó sẽ giữ nguyên.
Default:
Quá trình cài đặt sẽ tạo ra các Web site với các thuộc tính mặc đònh của
nó. Những các file nào mà được tạo ra với Web site mặc đònh sẽ kế thừa các
thiết lập này.
File:
Các file tạo ra trong thư mục ảo sẽ kế thừa các thiết lập của thư mục ảo
đó, ứng với các file được tạo ra trong các trang Web mặc đònh sẽ kế thừa các
bảng thuộc tính của Web site đó. Sau khi một file được tạo ra thì các thuộc tính
được cấu hình ở mức file.


Bảng thuộc tính của thư mục WWW trong Internet Service Manager (ISM)
cho phép người quản trò chia xẻ các thư mục và file cho WWW client. Những thư
mục này là những thư mục cụ bộ từ phân vùng FAT/NTFS hoặc là các thư mục từ
những server khác mà IIS có thể truy cập được.
WWW chia xẻ kết nối mặc đònh: Khi mà một client chỉ cung tên server
ngay tại đòa chỉ URL gọi là thư mục chủ. Ví dụ, nếu một client mở một đòa chỉ:
http://www.microsofts.com dòch vụ IIS trả về một tài liệu mặc đònh trong thư
mục chủ trên www.microsofts server. Các thư mục chia xẻ khác vơi thư mục chủ
được tham chiếu đến thư mục ảo.
- Sử dụng ISM để chia xẻ thư mục:
Có hai hộp thoại hiện ra cùng với ISM khi ta cấu hình việc chia xe thư mục
WWW. Thẻ Directory, WWW hiện thò danh sách tất cả các cấu hình thư mục ảo
WWW. Nó cũng cho phép người sử dụng thiết lập các thuộc tính kềm theo cho
tất cả các thư mục chia xẻ.
+ Tài liệu mặc đònh:
File này được trả về khi người sử dụng mở một thư mục và không chỉ đònh
tên file. Điển hình cho file này là các file tên default.htm hoặc index.htm.
+ Thư mục đang duyệt:
Nếu người sử dụng mở một thư mục mà không chứa một tài liệu mặc đònh,
server sẽ trả về một danh sách các file trong thư mục.
+ Bảo mật:
IIS có nhiều chức năng bảo mật để giữ gìn server và dữ liệu của người sử
dụng khỏi những cuộc xâm nhập bất hợp pháp và hacker. IIS dựa vào sự thiết
lập của Windows NT (TM) và một hệ thống chứng nhận C2. Giữ an toàn cho IIS
server là một sự kết hợp của việc thiết lập bảo mật cho Windows NT và các
chứng năng bảo mật của dòch vụ IIS. Thêm vào đó nếu server kết nối với
Internet, một bộ chọn kênh (rooter) hoặc bức tường lửa có thể được thiết lập để
cung cấp thêm độ an toàn.

8. Thư mục ảo:

sử dụng và password phù hợp. Tên người sử dụng và password sẽ được sử dụng
bởi người truy cập vào dữ liệu chứa trong thư mục ảo.
Chú ý:
Chắc chắn rằng tài khoản của người sử dụng mà đã thiết lập sẽ cho phép
truy cập Internet đến một thư mục ảo từ xa mà chỉ cung cấp một quyền tối thiểu
cho việc sử dụng site này. Đừng nên dùng tài khoản của nhà quản trò để truy cập
các thư mục ảo.
c) Thư mục ảo từ xa và FrontPage:
Công cụ quản lý và soạn thảo FrontPage tự động quản lý việc sử dụng các
thư mục ảo. Khi được cài đặt, FrontPage sẽ khởi tạo các thư mục ảo cho các thư
mục chứa các phần mở rộng có thể thực thi. Thêm vào đó, ban có thể cho phép
các phần mở rộng của file chuyển thành các đối tượng có thể thực thi được bằng
cách đánh dấu vào các thư mục chứa chúng, chẳng hạn như các đối tượng mở
rộng sau:
Active Server Pages (.ASP)
Các file Internet database connector (.idc)
CGI
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
trang 15
Phần mở rộng ISAPI (.dll)
Perl Script (.pl)
Chú ý: bởi vì FrontPage không hỗ trợ đối với các vùng có nội dung không
liền nhau vì vậy không thể dùng thư mục ảo để trộn các vùng có nội dung không
liền nhau trong FrontPage.

9. Server ảo:
Nhiều tên miền có thể được host lên một máy đơn đang chạy IIS bằng
chách sử dụng server ảo.
Với nhiều server ảo người sử dụng có thể host nhiều site Web và site FTP

việc truyền file.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
trang 16
Để sử dụng FTP truyền file giữa hai máy, cả hai máy đều phải có vai trò
riêng, một là FTP Client, một là FTP Server. FTP Client ra lệnh cho server tải
xuống hoặc đưa lên một file cũng như tạo và thay đổi các thư mục.
FTP sử dụng giao thức TCP như một phương tiện cho tất cả các kết nối và
dữ liệu trao đổi giữa client và server. TCP là một phương thức kết nối có đònh
hướng, có nghóa là có một phiên kết nối được thành lập giữa client và server
trước khi dữ liệu được truyền đi. Sự kết nối còn lại này hoạt động trong toàn bộ
phiên hoạt động của FTP. Giao thức có đònh hướng này rất nổi tiếng về độ tin
cậy và sự phục hồi lỗi ứng với các đặc điểm sau:
- Điều khiển luồng: Bởi vì các client và server đều tham gia trong việc
truyền các gói tin vì vậy các vấn đề về việc truyền tin như là các gói tin làm tràn
bộ nhớ và lạc mất các gói tin là không thể xảy ra.
- Sự chứng nhận: Máy tính gửi các gói dữ liệu và mong chờ một tín hiệu
chứng nhận từ các máy tính nhận. Sự chứng nhận này kiểm tra xem máy đó đã
nhận được gói tin hay chưa.
- Sự truyền lại: Nếu việc truyền đi của máy tính không nhận được một tín
hiệu ACK ứng với một khoảng thời gian đã đònh trước, nó sẽ giả đònh rằng gói tin
đó đã bò mất hoặc bò thất lạc thì sau đó nó sẽ truyền lại gói tin đó.
Tính tuần tự: Tất cả các gói tin sẽ được đánh số và gửi cùng lúc, vì thế
máy nhận sẽ biết cách tổ chức dữ liệu nhận được.
- Checksum: Tất cả các gói tin được chứa trong một checksum để đảm bảo
tính toàn vẹn của dữ liệu. Nếu dữ liệu bò thất lạc ở một nơi nào đó trong suốt
quá trình truyền, checksum sẽ chỉ ra rằng dữ liệu nhận được không giống với dữ
liệu gửi.
a) Các thuộc tính của FTP trên IIS:
Mỗi site FTP mà người sử dụng tạo ra đều có một bảng thuộc tính riêng

của FTP giống như HTTP và SSL
- Truy cập phía server: Dòch vụ i có thể được cấu hình trên trang thuộc tính
Security Account cho các kết nối đến client và những đòa chỉ IP đặc biệt. Đây là
một cách tốt để ngăn chặn những người sử dụng không mong muốn truy cập vào
server.
- Truy cập phía người dùng: Dành cho các server với các file chung, các
client thường kết nối dưới một tên người dùng ẩn danh. Nếu dòch vụ FTP được
cấu hình cho phép điều này trong thuộc tính Security Account, nó sẽ ánh xạ tên
người dùng ẩn danh đến một cấu hình tài khoản của người sử dụng Windows NT.
Tài khoản mặc đònh tạo ra là IUSR_computername và được sử dụng bởi IIS.
Nếu cho phép sử dụng tên người dùng ẩn danh bò tắt. Người sử dụng sẽ
được cung cấp một tên người dùng chính xác. Tên người dùng này phải đúng là
môt tài khoản Windows NT ở FTP Server hoặc trong một miền mà FTP Server
cung cấp.
- Truy cập tài nguyên FTP: Dòch vụ FTP có thể cấu hình trên trang thuộc
tính Security Directory để cho phép Client chỉ có thể đọc hoặc ghi lên file trong
một thư mục được chia xẻ.
- Truy cập File: Nếu các yêu cầu đã qua các kiểm tra bảo mật trước đó,
dòch vụ FTP sẽ đưa các yêu cầu này đến hê thống file để đạt được tài nguyên.
Dòch vụ FTP đóng vai trò của người sử dụng FTP Client khi tạo ra các yêu cầu.
Nếu hệ thống file từ chối truy cập đến tài nguyên, FTP server sẽ trả về khoảng
550 tên file “Access Denied” (từ chối truy cập). Các truy cập file được cấu hình
bằng cách sử dụng File Manager hoặc các thuộc tính file trong Explorer.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
trang 18

Sau khi cài đặt xong, người sử dụng sẽ phải sửa đổi các file cấu hình trong
thư mục conf. Những file này sẽ được cấu hình trong suốt quá trình cài đặt để
sẵn sàng cho Apache chạy từ thư mục mà họ đã cài đặt vào với các tài liệu phục
vụ từ thư mục con htdocs. Có rất nhiều chức năng trước khi bắt đầu thực sự sử
dụng Apache. Tuy nhiên, để việc khởi động nhanh chóng các file này nên làm
việc theo các cài đặt mặc đònh.
Nếu người sử dụng tháo cài đặt Apache khỏi hệ thống, các cấu hình và
các file log sẽ không được gỡ ra. Người sử dụng phải sẽ cần phải xóa các cây
thư mục đã cài đặt (mặc đònh là C:\Program File\Apache Group\Apache) nếu
người sử dụng không muốn giữ các cấu hình của họ và các file Web khác. Từ khi
fie httpd.conf đã được cấu hình để sử dụng Apache, người sử dụng cũng phải
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
trang 19
phải gỡ bỏ nó và các file khác mà đã được tạo cũng như bất kỳ các file log nào
mà Apache đã tạo.
4. Chạy Apache trên Windows:
a) Chạy như một dòch vụ: Đây là các tốt nhất nếu muốn Apache tự động
khởi động khi khởi động máy và giữ Apache vẫn chạy khi đã log-off.
Để khởi động Apache như một dòch vụ, trước hết cần phải cài đặt Apache
như một dòch vụ. Nhiều dòch vụ Apache có thể được cài đặt với mỗi tên và cấu
hình khác nhau. Để cài đặt một dòch vụ Apache mặc đònh có tên “Apache”.
Chọn “Install a Sevice for All User” khi bắt đầu bung gói cài đặt Apache. Sau khi
cài xong có thể khởi động dòch vụ Apache bằng cách mở cửa sổ Service, chọn
Apache, nhắp chuột vào Start, Apache sẽ bắt đầu chạy, ẩn trên màn hình. Sau
đó có thể ngừng Apache bằng cách nhắp chuột vào Stop. Có một lựa chọn khác
để sử dụng dòch vụ Apache từ các dòng lệnh sau tại cửa sổ giao tiếp:
Net start Apache
Net Stop Apache
Sau khi khởi động Apache, người sử dụng có thể kiểm tra nó bằng cách sử

* -n đường dẫn đến một file cấu hình của một dòch vụ Apache đã được cài
đặt.
apache –n “service name”
Trong các trường hợp trên, Server Root phải được thiết lập trong file cấu
hình.
Nếu người sử dụng chỉ ra một tên file cấu hình với –n và –f. Apache sẽ sử
dụng tên file được biên dòch ở trong server, thường là “conf/httpd.conf”. Gọi đến
Apache với ký hiệu chuyển đảo –v sẽ hiển thò các giá trò đã đánh nhãn
SERVER-CONFIG-FILE. Apache sẽ quyết đònh ServerRoot của nó bằng các
cách sau:
- Một chỉ thò SeverRoot qua ký hiệu chuyển đảo –c.
- Ký hiệu chuyển đảo –d trên dòng lệnh.
- Thư mục đang làm việc hiện thời.
- Một khóa registry được tạo nếu người sử dụng cài đặt nhò phân.
- SeverRoot được biên dòch bên trong server.
SeverRoot được biên dòch bên trong server thường là “/apache”. Nếu gọi
đến Apache với ký hiệu chuyển đảo –v sẽ hiển thò các giá trò được đánh nhãn
giống như là của “HTTPD Root”.
Khi gọi đến Apache từ trình đơn Start. Apache thường bỏ qua các thông
số vì thế sử dụng khoá registry là một kỹ thuật vẫn được ưa thích hơn cho
Apache.
Trong quá trình cài đặt, một khóa registry sẽ được tạo, ví dụ:
HKEY_Local_machine\Sofware\ApacheGroup\Apache\1.3.13\ServerRoot
Khóa này được biên dòch vào trong server và có thể cho phép kiểm tra các
phiên bản mới mà không tác động đến phiên bản hiện thời. Dó nhiên, phải chắc
rằng không cài đè phiên bản mới lên phiên bản cũ trong hệ thống file.
Giá trò của khóa này là thư mục “ServerRoot” chứa trong thư mục Conf.
Khi Apache khởi động, nó sẽ đọc file httpd.conf từ thư mục này. Nếu thư mục
này chứa chỉ thò ServerRoot mà nó khác với thư mục đang tồn tại trong khóa
registry, Apache sẽ quên khóa registry và sử dụng thư mục được thiết lập trong


Sau khi xem file error.log người sử dụng sẽ thấy một vài vấn đề bò lỗi và
họ có thể sửa chữa và khởi động lại một lần nữa.
Sau khi khởi động, Apache sẽ chạy (như ở cửa sổ giao tiếp hoặc như một
dòch vụ) và sẽ bắt đầu lắng nghe ở cổng 80, trừ phi người sử dụng thay đổi Port,
Listen hoặc BindAddress (trong file cấu hình). Hãy thực hiện kết nối đến server
và truy cập trang Web mặc đònh bằng cách mở trình duyệt và nhập vào URL sau:
http://localhost/
Trình duyệt sẽ trả lại một trang Welcome và một liên kết đến sổ hướng
dẫn Apache như sau:

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
trang 22
Nếu không người sử dụng sẽ nhận được một thông báo lỗi, có thể xem lại
file error.log trong thư mục log. Nếu máy tính không nối mạng, họ có thể sử
dụng URL sau đây:
http://127.0.0.1/
Một khi các cài đặt cơ sở đang làm việc, người sử dụng phải cấu hình các
thuộc tính của nó bằng cách sửa đổi nội dung các file trong thư mục conf.
6. Virtual Host:
Vitual Host là một sức mạnh thật sự của Apache. Virtual Host cho phép
Apache Web Server chạy cùng lúc nhiều Web site. Apache là một HHTP server
đầu tiên cung cấp các hỗ trợ cho việc xây dựng một virtual site. Trong khi các
server của NCSA và các server khác cũng cung cấp sự hỗ trợ virtual site nhưng
Apache cung cấp một khả năng thi hành tốt hơn và có nhiều điểm đặc trưng hơn
các server khác.
Chỉ mới nhìn qua, dường như sự thuận lợi chính của virtual site là chỉ để tô
điểm, nó cho phép nhiều Web site được đánh đòa chỉ tên miền của nó trên các
máy đơn đã được chia xẻ. Tuy nhiên sự thuận lợi của nó nhiều kết quả rõ ràng

thông tin DNS (Domain Name Server) của site đưa lên một server mới. Để việc
thích nghi với DNS được cập nhật, đơn giản chỉ cần tạo ra sự đổi hướng trên
server cũ . Điều này cho phép sự lưu thông được trôi chảy mà không có sự sai
sót, đó là một vấn đề quan trọng với các site đang lớn mạnh đang được lưu thông
để tạo ra kinh doanh.
Về mặt lòch sử, khi người sử dụng muốn một site đang host sử dụng tên
miền của họ, sự lựa chọn có thể được là mua hoặc thuê một máy tính và dùng nó
để cấu hình như một Web server. Phải chòu các phí tổn để tiêu tốn cho việc quản
lý server này. Các phí tổn này dễ thường là rất lớn, việc này đã thúc đẩy các nhà
cung cấp dòch vụ Internet (ISP) thêm vào các cách để hỗ trợ nhiều Web site trên
một host, điều này dẫn đến một vài giải pháp gần đây, chẳng hạn như Home
Page Approach.
Home Page Approach tạo ra một đòa chỉ giống như:
http://www.isp.dom/~name.
Home Page Approach là một cách thích hợp để phục vụ các trang người
dùng cục bộ. Nhưng khi dùng nó để phục vụ cung cấp thông tin lớn và đang được
truy cập thường xuyên bởi một số lớn người sử dụng thì việc này sẽ tạo ra một
đòa chỉ tồi mà rất khó nhớ, tên nhạp vào dài, dễ xảy ra sai sót phía người sử dụng
và trông không được chuyên nghiệp lắm.
Xây dựng một virtual host:
Các phạm vi liên quan của virtual host, virtual site và multihomed server
thông thường được sử dụng thay thế cho nhau. Để dễ hiễu hơn, chỉ cần suy nghó
chúng như sau:
Để tạo một virtual site, thì cần phải cấu hình một virtual host, để virtual
host làm việc cần phải tạo một mutihomed server, như vậy rõ ràng là có sự khác
nhau giữa chúng.
Một máy tính multihomed là môt máy tính có thể trả lời cùng một lúc đến
nhiều đòa chỉ IP. Một máy tính mày có thể được truy cập bởi nhiều tên (chẳng
hạn như www.mailhost.foo.com và www.foo.com) mà nó thi hành cho các đòa
chỉ IP như nhau không thể là một máy tính Multihomed.


8. Cấu hình Apache trên Windows:
a) Các file cấu hình của Apache server:
Web server sẽ đọc 3 file chứa các chỉ thò cấu hình. Bất kỳ một chỉ nào nào
được hiển thò trong các file này đều sẽ được thực hiện.
Conf/httpd.conf: Chứa các chỉ thò mà nó điều khiển sự thi hành của
server. Tên file có thể được lướt qua với ký hiệu khả chuyển –f.
Conf/srm.conf: Chứa các chỉ thò mà nó điều khiển sự chỉ đònh các
tài liệu mà server cung cấp cho các client. Tên file có thể được lướt qua với chỉ
thò ResourceConfig.
Conf/access.conf: Chứa các chỉ thò mà nó điều khiển sự truy cập các
tài liệu. Tên file có thể được bỏ qua với chỉ thò AccessConfig.
b) Thiết lập cấu hình Apache trên Windows:
Apache được cấu hình bởi các file trong thư mục conf. Các file này cũng
giống như các file được sử dụng để cấu hình cho Unix nhưng có một vài chỉ thò
khác cho Apache trên Windows.
Quá trình cấu hình sẽ được bắt đầu bằng cách tham khảo httpd.conf và các
chỉ thò của nó. Mặc dù các file access.conf và srm.conf còn tồn tại song chúng là
những file cũ mà không được sử dụng nhiều bởi hầu hết các nhà quản trò và
người sử dụng sẽ không tìm thấy bất kỳ chỉ thò nào ở đó.
Httpd.conf chứa rất nhiều các tư liệu của chính nó, được sinh ra bởi các chỉ
thò cấu hình mặc đònh gửi gắm khi khởi động với Apache server. Bắt đầu bằng
cách đọc các lời chú thích để hiểu file cấu hình và làm một số thay đổi nhỏ, khởi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
trang 25
động lại Apache trong một cửa sổ giao tiếp với mỗi thay đổi. Nếu người sử dụng
tạo ra một lỗi, nó sẽ dễ dàng sao lưu để đònh dạng lần làm việc cuối cùng .
Các khác nhau của Apache trên Windows chính là:
+ Bởi vì Apache trên Windows thì đang luồng, nó không sử dụng các tiến

trình deamon một mình. Khi dùng đến dòch vụ này, nó sẽ tạo ra một nhóm các
tiến trình con để đáp ứng các yêu cầu. Để ngừng dòch vụ này, nó sẽ gửi một tín
hiệu TERM đến tiến trình cha. PIG của tiến trình này sẽ ghi lên một file và dưa
vào file cấu hình. HTTPD sẽ được gọi bởi Internet deamon inetd mỗi khi có một
kết nối đến dòch vụ HTTP đã được thiết lập.
Các đối số cụ thể của dòng lệnh
-R libexecdir: Tham số này chỉ có hiệu lực nếu Apache được cài đặt với
tập SHARED_CORE cho phép, nó tác động đến nhân nhò phân của Apache để
thay thế vào trong một file đối tượng chia xẻ động (DSO). File này được dò tìm
trên một đường dẫn hardcoded bên dưới ServerRoot mặc đònh
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Trích đoạn SỬ DỤNG SENDMAIL PHIÊN BẢN 8 Cấu hình Smail cho UUCP Cấu hình Smail để sử dụng với hệ thống TCP HOẠT ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH POP3CLIENT:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status